Chính vì lẽ đó trong các quan hệ pháp luật dân sự tăng lên một cách nhanh chóng, đi cùng với đổi mới là sự tăng lên của các vụ, việc tranh chấp dân sự, kéo theo sự tăng lên của của các v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự theo Luật thi hành án dân sự năm 2014 từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh” là
công trình nghiên cứu độc lập của tôi, không có sự sao chép từ người khác
Tất cả những số liệu được đưa vào sử dụng trong Luận văn này đều lànhững số liệu trên thực tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnhQuảng Ninh do Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh đã cung cấp cho tôi.Trong luận văn của mình tôi cũng có tham khảo nhiều bài viết, sách, tạp chícủa các tác giả có nguồn gốc rõ ràng và có sự hướng dẫn nhiệt tình của thầyNguyễn Đức Minh
Tôi xin cam đoan và tự chịu trách nhiệm nếu có vấn đề gì xảy ra với bàiluận văn của mình
Đồng thời qua đây tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Cục thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Ninh, các Chi cục thi hành án thành phố Hạ Long, thành phốCẩm Phả, thành phố Uông Bí đã giúp đỡ tôi thông qua việc cung cấp số liệuphục vụ cho bài viết của tôi được thực tế Tôi cảm ơn thầy Nguyễn Đức Minh
là người đã nhiệt tình hướng dẫn tôi để tôi có thể hoàn thiện luận văn này.Cảm ơn tất cả những người thân đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi hoànthành nhiệm vụ của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 : KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 5
1.1 Khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 5
1.2 Vai trò của biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 14
1.3 Nội dung chế định pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án
dân sự 17
Chương 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở TỈNH QUẢNG NINH 33
2.1 Thực trạng pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự 33
2.2 Thực tiễn áp dụng biện pháp kê biên tài sản đảm bảo thi hành án 45
Chương 3 : GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 58
3.1 Quan điểm, yêu cầu, định hướng hoàn thiện pháp luật về kê biêntài sản trong thi hành án dân sự 58
3.2 Giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật về kê biên tài sản
trong thi hành án dân sự 60
3.3 Kiến nghị sửa đổi một số nội dung trong Luật THADS năm 2014 66
KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 5BẢNG CHỮ VIÊT TẮT:
Trang 6MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, song song với
đó là những giá trị vật chất được tạo ra ngày một tăng đáng kể, Đảng và nhànước đang dần xây dựng và kiện toàn bộ máy chính trị theo định hướng xã hộichủ nghĩa theo mục tiêu đã đặt ra Nhân dân dần được làm chủ trong các hoạtđộng của mình để xây dựng nhà nước pháp quyền
Với chính sách đổi mới toàn diện về kinh tế chính trị, văn hóa xã hội, lấyđổi mới kinh tế trước tiên sau đó dần dần từng bước đổi mới về chính trị,trong quá trình phát triển kinh tế theo nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, kinh tếnhà nước giữ vai trò chủ đạo Chính vì lẽ đó trong các quan hệ pháp luật dân
sự tăng lên một cách nhanh chóng, đi cùng với đổi mới là sự tăng lên của các
vụ, việc tranh chấp dân sự, kéo theo sự tăng lên của của các việc THADS, đểthi hành triệt để các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực, các cơ quanTHADS phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó có biệnpháp cưỡng chế kê biên tài sản được sử dụng nhằm giải quyết dứt điểm nhữngbản án, quyết định có hiệu lực của tòa án cần phải thi hành
Chúng ta cũng biết rằng, kê biên tài sản là một hình thức cưỡng chế kêbiên phức tạp đòi hỏi chấp hành viên phụ trách hồ sơ thi hành án phải có kỹnăng toàn diện mới có thể thực hiện được công việc này Mặt khác việc ápdụng biện pháp cưỡng chế cần phải có sự phối hợp của các ngành các cấp,nếu thiếu một thành phần theo quy định thì khó mà thành công được
Đây là một đề tài không mới nhưng rất ít có công trình nghiên cứu đượcxây dựng bài bản, rõ nét, chủ yếu tập trung ở các tạp chí luật học của các thầy
cô là giảng viên các trường đại học lớn trên toàn quốc, gần đây đã có một sốtrường Đại học đưa đề tài này vào làm đề tài luận văn cho chương trình đàotạo sau đại học, tuy nhiên những bài viết liên quan tới đề tài này thì chủ yếutập trung vào một hoặc một số vấn đề riêng lẻ trong các biện pháp kê biên tài
Trang 7sản, hoặc tập trung vào phân tích từng loại tài sản được kê biên, ví dụ như tàisản là quyền sử dụng đất…Rất ít đề tài đi sâu phân tích tất cả các loại tài sảncần phải kê biên trong quá trình thi hành án dân sự, đặc biệt là kể từ khi Luậtthi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước những vấn đề cấp thiết của đề tài, những đòi hỏi khách quan củacông tác thi hành án dân sự, trong những năm qua đã có một số công trình
khoa học nghiên cứu về vấn đề thi hành án dân sự, cụ thể là: Đề tài: “Thi hành
án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001” do Bộ tư
pháp chủ trì thực hiện dự án Một số luận văn và công trình nghiên cứu khác
như: Luận văn thạc sĩ Luật học “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Công Long; Luận văn thạc sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự” của tác giả
Nguyễn Thanh Thủy; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về
“Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Quang Thái về “Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự
ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn với đề tài
“Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam”, ngoài ra còn các bài viết
đăng trên tạp chí luật học, dân chủ và pháp luật…
Nhìn chung các công trình nghiện cứu nói trên đã một phần nào đóđánh giá, nghiên cứu ở những khía cạnh và góc độ khác nhau của vấn đề kêbiên tài sản trong thi hành án Ở đề tài của tác giả trong luận văn này, tác giả
sẽ tập trung đi sâu phân tích những vẫn đề lý luận về kê biên tài sản trong thihành án dân sự kể từ thời điểm Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sungnăm 2014, đồng thời tác giả đưa vào bài viết những số liệu thực tế phản ántình hình thực hiện biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự trên địabàn tỉnh Quảng Ninh, để thấy được những thành quả đạt được cũng nhưnhững mặt hạn chế mà công tác thi hành án trên địa bàn tỉnh nhà còn tồnđọng
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đây là đề tài mà tác giả rất tâm huyết để thực hiện và mong muốn bàiviết của mình được ghi nhận rộng rãi hơn Trong bài viết tác giả hướng tớiphân tích những vấn đề lý luận về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự, vàtác giả tập trung chủ yếu tới lĩnh vực THA dân sự Về lĩnh vực THA hình sự,nếu có điều kiện tác giả sẽ thực hiện bằng một công trình nghiên cứu khoahọc khác
Mục đích của việc thực hiện đề tài này, tác giả tập trung phân tích toàn
bộ những vấn đề liên quan tới lĩnh vực kê biên tài sản trong thi hành án dân
sự, đặc biệt kể từ sau khi Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm
2014 Qua đó tác giả sẽ cho người đọc thấy được những thành quả đạt đượccủa Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh trong quá trình áp dụng Luật thihành án dân sự sửa đổi, đồng thời cũng rút ra được những hạn chế còn tồnđọng để có giải pháp khắc phục sớm nhất góp phần nâng cao hiệu quả côngtác kê biên
Xuất phát từ mục đích của việc nghiên cứu đề tài nêu trên, việc nghiêncứu đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận về kê biên tài sản,các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên tài sản và thực tiễnthực hiện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Do thời gian cũng như giới hạn của luận văn nên trong toàn bộ bài viếtnày tôi chỉ tập trung hướng tới phân tích về lĩnh vực kê biên tài sản đảm bảothi hành án dân sự Trong đó tập trung đi sâu vào những vấn đề lý luận về kêbiên tài sản THADS, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và thựctiễn thực hiện các quy định đó trên địa bản tỉnh Quảng Ninh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác Lê Nin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng HồChí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 9về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Quátrình nghiên cứu luận văn tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp nghiêncứu khoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, tổng hợp, sosánh và một số phương pháp liên quan để thực hiện đề tài một cách hoànchỉnh hơn.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Về lý luận: Luận văn đã đi sâu và phân tích được khái quát những vấn
đề về khái niệm, trong đó có khái niệm chung nhất là kê biên tài sản, phântích được những đặc điểm của vấn đề kê biên tài sản trong thi hành án dân sự,góp thêm một Luận văn nghiên cứu vào kho tài liệu về kê biên tài sản
- Về thực tiễn: Qua nghiên cứu tổng thể về lý luận thi hành án, có thể
thấy được thực trạng vấn đề kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án dân sự tạiđịa bàn tỉnh Quảng Ninh Từ đó rút ra được những kinh nghiệm trong quátrình làm việc và tìm ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trongcông tác kê biên tài sản thi hành án
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được xây dựng với cơ cấu 03 chương
- Chương 1: Khái quát lý luận và pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự;
- Chương 2: Thực trạng về tình hình kê biên tài sản trong thi hành án dân
sự qua thực tiễn thực hiện ở tỉnh Quảng Ninh;
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Trang 10Chương 1 KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
1.1.1 Định nghĩa kê biên tài sản trong thi hành án dân sự:
Theo từ điển bách khoa toàn thư thì định nghĩa kê biên tài sản được giảithích rất ngắn gọn: kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế của nhà nước đốivới tài sản của người vi phạm để đảm bảo thi hành án
Nếu chỉ dừng lại ở định nghĩa kê biên tài sản thì định nghĩa kê biên tàisản được hiểu cả trong lĩnh vực hình sự Đó là một biện pháp cưỡng chế nhànước được áp dụng đối với bị can, bị cáo mà theo quy định của pháp luật cóthể bị phạt tiền Đây là cách hiểu và giải thích gói gọn trong lĩnh vực kê biêntài sản thi hành án hình sự
Những năm trước đây, khoảng từ năm 1989 trở về trước, trong pháp luật
tố tụng dân sự chưa có sự phân biệt và định nghĩa rõ ràng về khái niệm kêbiên tài sản và tịch biên tài sản Tài sản bị kê biên thường được xử lý để đảmbảo thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án còn tài sản trong biện pháptịch biên sẽ được xung công quỹ Nhà nước Sau này theo quá trình phát triểncủa xã hội, pháp luật cũng được chú trọng để sửa đổi cho hợp lý hơn thì kháiniệm kê biên tài sản đã được hiểu đúng bản chất Kê biên tài sản luôn gắn vớimột chủ thể nhất định, nhân danh cho quyền lực Nhà nước, không phải aicũng có quyền kê biên tài sản của người khác, mà quá trình kê biên tài sản đòihỏi phải được thực hiện thông qua những bước nghiêm ngặt, thể hiện quyềnlực của Nhà nước thể hiện qua hành động của chấp hành viên được phân côngthực hiện
Như vậy kê biên tài sản của người phải thi hành án dân sự là một biệnpháp cưỡng chế thi hành án do cơ quan thi hành án dân sự áp dụng khi ngườiphải thi hành án có nghĩa vụ thanh toán tiền theo bản án, quyết định của tòa
Trang 11án được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành ánchuyển dịch tài sản cho người khác tẩu tán hoặc hủy hoại tài sản.
1.1.2 Đặc điểm của kê biên tài sản trong thi hành án dân sự.
Bất cứ một khái niệm thuật học nào cũng đều mang trong nó những đặcđiểm để phân biệt giữa khái niệm này với khái niệm khác Kê biên tài sảntrong thi hành án dân sự cũng vậy, khái niệm kê biên luôn đi cùng với kháiniệm cưỡng chế Kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế hữu hiện để Nhànước thực hiện quyền lực nhà nước của mình Kê biên tài sản được Nhà nướctrao chocác cơ quan khác nhau thực hiện như: Thủ trưởng cơ quan điều tracông an, Thẩm phán tòa án nhân các cấp … trong đó có chấp hành viên cơquan THADS Sự khác biệt này được thể hiện ở những khía cạnh chính là chủthể áp dụng kê biên và mục đích kê biên Ví dụ chủ thể thực hiện kê biêntrong giai đoạn xét xử là thẩm phán giải quyết vụ việc, chủ thể thực hiện kêbiên trong giai đoạn thi hành án là do chấp hành viên Về mục đích kê biêncủa các cơ quan điều tra và cơ quan tòa án nhằm bảo đảm việc thi hành án,tránh việc tẩu tán, hủy hoại tài sản của bị can, bị cáo, đương sự Nhưng mụcđích áp dụng biện pháp kê biên của các cơ quan hành chính và cơ quanTHADS là ngoài mục đích như trên còn mục đích xử lý tài sản thanh toán trảtiền cho khoản tiền phạt, khoản thu cho ngân sách nhà nước và chủ nợ Một
số đặc điểm chính của Kê biên tài sản trong thi hành án dân sự có thể nêu ranhư sau:
Một là, biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản trong thi hành án dân sự thể
hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được thực hiện cũng bằng sứcmạnh đặc biệt của Nhà nước Trên thực tế cũng như quy định của pháp luật,việc cưỡng chế thi hành án phải do cơ quan nhà nước có thểm quyền thựchiện Theo đó, người được thi hành án không có quyền tự mình dùng sứcmạnh để buộc người có nghĩa vụ thi hành án (người phải thi hành án) thựchiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa án
Trang 12Theo quy định trong Luật thi hành án dân sự thì Nhà nước ta trao quyềnnăng này cho Chấp hành viên, người của cơ quan thi hành án dân sự Do đó,khi cần thiết phải sử dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì chỉ có CHVmới có quyền ban hành những quyết định có liên quan tới việc thi hành án,lựa chọn biện pháp để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án.
Hai là, biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án dân sự được
Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tựnguyện thi hành án hoặc buộc họ thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án,quyết định của Tòa án
Dân sự luôn ưu tiên sự thỏa thuận của các đương sự, do vậy trong thihành án dân sự, các bên có quyền tự định đoạt nên nhà nước luôn ưu tiền chocác bên tự nguyện thi hành án trước khi người được thi hành án có đơn yêucầu cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc áp dụng các biện pháp để thihành được bản án, quyêt định đó
Tuy nhiên trên thực tế, việc người phải thi hành án tự nguyện thi hànhbản án, quyết định là rất ít khi xảy ra Do vậy mới có biện pháp cưỡng chế kêbiên tài sản trong thi hành án, để áp dụng cho những người không tự nguyệnthi hành án Đây được xem là bước đi cuối cùng để có thể đảm bảo thi hành
án được theo đúng bản án, quyết định đã tuyên, bước cuối cùng nhưng đemlại được sự hài hòa và lợi ích chính đáng cho người được thi hành án
Ba là, đối tượng của biện pháp kê biên tài sản thi hành án dân sự chính là
tài sản của người phải thi hành án Khác với hình sự mục đích của các biệnpháp hình sự mang tính trừng phạt là chủ yếu, nhưng với dân sự, trong thihành án việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản chỉ hướng tới mục đích yêucầu hay buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người được thihành án
Bốn là, khia áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án dân
sự thì người phải thi hành án ngoài việc phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án,
Trang 13quyết định của Tòa án thì còn phải chịu những chi phí khác phát sinh trongquá trình cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án.
Những chi phí nêu trên có thể kể tới như chi phí để trả cho các cơ quanliên quan trong quá trình cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án, trong đó có ủyban cấp xã, cơ quan công an thực hiện việc đảm bảo an ninh cho công tác thihành án, hoặc chi phí để bảo vệ tài sản, chi phí định giá tài sản, xác minhnhững vấn đề liên quan tới tài sản thi hành án…
Năm là, biện pháp kê biên tài sản trong THADS thể hiện quyền năng đặc
biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước.Biện pháp kê biên tài sản THADS được CHV quyết định áp dụng khôngchỉ có hiệu lực đối với người phải thi hành án, người được thi hành án mà còntác động tới các cơ quan, cá nhân, tổ chức có liên quan khác Đây là biện phápthể hiện quyền lực của Nhà nước nên mọi quyết định của CHV đều phải đượccác chủ thể liên quan nghiêm túc chấp hành để đảm bảo tính thượng tôn phápluật và công tác thi hành án được thực hiện đúng, đủ, nhanh chóng
1.1.3 Phân loại kê biên tài sản trong THADS.
Theo quy định của pháp luật thì CHV chỉ được kê biên tài sản của ngườiphải THA tương ứng với phần nghĩa vụ của họ đối với nghĩa vụ THA và cácchi phí hợp lý phát sinh khác trong quá trình tố tụng
Khi áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản sẽ có những tác độngtrực tiếp vào những người sau: Người được THA, người phải THA và người
có quyền và nghĩa vụ liên quan Trong các đối tượng trên, đối tượng liên quanmật thiết, chặt chẽ tới hoạt động THA phải kể tới đó là tài sản bảo đảm kêbiên Tài sản này có thể là động sản hoặc bất động sản, nhưng nó buộc phảiđảm bảo điều kiện về sở hữu của người phải thi hành án, không phụ thuộc vàothực tế ai đang là người quản lý sử dụng Miễn tài sản đó là của người phải thihành án Việc này đảm bảo được nguyên tắc người phải thi hành án phải thựchiện nghĩa vụ bằng chính tài sản của mình Tài sản kê biên phải tương ứng vớinghĩa vụ phải thi hành và các chi phí có liên quan Trong trường hợp đặc biệt
Trang 14mà tài sản kê biên lớn hơn nghĩa vụ phải thi hành án thì phải xác định rõ phầnnghĩa vụ cụ thể, phần còn lại nằm ngoài nghĩa vụ thì phải xem xét trao trả chongười phải thi hành án.
Pháp luật về THADS liệt kê các loại tài sản kê biên như sau:
- Một là kê biên tài sản thuộc sở hữu chung: Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định: “1 Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa
án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.”
Điểm mới trong quy định của Luật THADS năm 2014 là phân định rõtrường hợp sở hữu chung thành hai loại: Sở hữu chung của vợ chồng; và sởhữu chung ở hình thức khác, từ đó chấp hành viên dễ dàng lựa chọn cách thứcgiải quyết việc kê biên tài sản Đồng thời Luật còn cho phép chủ sở hữuchung được quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho mình,điều này thể hiện tính dân chủ trong quá trình giải quyết, bảo vệ quyền lợi củacác đồng sở hữu Mặc dù đây là một điểm tiến bộ khi bảo vệ được nhữngngười liên quan, nhưng lại phát sinh vấn đề tốn thời gian cho người được thihành án Bởi vì quá trình khởi kiện để xác định tài sản chung mất không ítthời gian, đến lúc có sự phân xử của Tòa án có hiệu lực thì liệu giá trị tài sảnđảm bảo thi hành có còn được giữ nguyên vẹn hay không?
Bên cạnh đó là trường hợp kê biên tài sản trong trường hợp sở hữu chunghợp nhất của vợ chồng Trong trường hợp này CHV chỉ được kê biên tài sảnthuộc sở hữu riêng của người có nghĩa vụ phải thi hành án (vợ hoặc chồng).Nếu trong trường hợp tài sản riêng đó không đảm bảo nghĩa vụ phải thi hành
án thì CHV hướng dẫn và giải thích cho người còn lại có quyền ưu tiên muaphần tài sản của người kia Nếu vợ hoặc chồng không mua thì sau khi bán tàisản CHV phải thanh toán lại cho họ phần giá trị tài sản mà họ
Trang 15được hưởng Sau đó trích lại cho người phải THA số tiền nhất định dùng choviệc trợ cấp nuôi con chưa thành niên hoặc tàn tật hoặc người mà người phảiTHA có trách nhiệm nuôi dưỡng Đây là việc làm thể hiện tính nhân đạo rấtlớn, đảm bảo được nhu cầu tối thiểu nhất của một con người.
Giả sử trường hợp tài sản chung của vợ chồng gồm nhiều loại thì CHVcăn cứ vào giá trị của từng tài sản để kê biên loại tài sản tương ứng với nghĩa
vụ và chi phí để đảm bảo THA Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng vượtquyền của CHV bởi nếu không quy định như vậy thì CHV sẽ cưỡng chế kêbiên theo hiểu biết chủ quan của mình, ảnh hưởng tới lợi ích của người còn lại
và CHV có thể kê biên bất cứ tài sản nào kể cả trường hợp tài sản thực tế lớnhơn nghĩa vụ phải THA (Khoản 2 Điều 74 Luật THADS sửa đổi năm 2014quy định rất rõ vấn đề này) Việc quy định rõ ràng vừa đảm bảo lợi ích củangười phải thi hành án, cho đồng sở hữu chung và cho người được THA
Đối với trường hợp nghĩa vụ thi hành án chung của hai vợ chồng nhỏhơn giá trị tài sản chung thì CHV có thể xem xét kê biên tài sản tương ứngvới phần giá trị phải thi hành án mà không phải kê biên toàn bộ tài sản chung
đó Việc kê biên toàn bộ tài sản sẽ rất tốn kém kinh phí, thời gian thi hành án
Ví dụ: Anh Trần Văn Sơn và vợ là chị Lường Thị Hòa có tài sản chung
gồm 01 ngôi nhà trị giá 1 tỷ đồng, 02 chiếc xe ô tô trị giá 950.000.000đồng 01chiếc xe môtô trị giá 28.000.000 đồng Bản án của tòa án tuyên buộc anh Sơn
và chị Hòa phải có nghĩa vụ thi hành án trả lại cho chị Nguyễn Minh Tâm sốtiền 800.000.000đồng tiền vay, trong trường hợp này Chấp hành viên có thểxem xét việc kê biên 02 chiếc xe ô tô của hai vợ chồng để đảm bảo thi hành
án cho chị Tâm, mà không phải kê biên tất cả các loại tài sản của vợ chồnganh Sơn chị Hòa
- Hai là việc kê biên tài sản đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ.
Việc kê biên tài sản là những tài sản hữu hình đã khó, lĩnh vực sở hữutrí tuệ lại là tài sản vô hình thì việc kê biên còn gặp vô vàn khó khăn Nắm bắtđược tình hình đó nên pháp luật THADS sửa đổi đã quy định rất cụ thể những
Trang 16trường hợp xảy ra trong quá trình kê biên tài sản SHTT Ngay cả trong trườnghợp quyền SHTT được chuyển giao cho cơ quan nhà nước khác thì quyềnSHTT đó vẫn bị kê biên Bởi vì người chuyển quyền SHTT chỉ là chuyển giaoquyền sử dụng, khai thác Còn quyền chiếm hữu, định đoạt vẫn nằm trong taychủ sở hữu ban đầu Do vậy đây vẫn là tài sản có thể kê biên được (Điều 84Luật THADS 2014 sửa đổi, bổ sung).
- Ba là việc kê biên tài sản đối với trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu.
Điều 89 Luật THADS 2014 quy định: “1.Trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng
ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký.
2 Sau khi kê biên, Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Luật này.”
Để đảm bảo việc kê biên tài sản đúng mục đích, đúng nghĩa vụ thì đốivới những tài sản như QSDĐ và tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, thì CHVphải có nghĩa vụ yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản đó
Để xác minh rõ tài sản được thi hành hiện trạng như thế nào, có thuộc quyền
sở hữu của người phải thi hành án hay không? Giá trị của tài sản đó là baonhiêu so với nghĩa vụ phải thi hành án? Đồng thời sau khi xác định rõ nhữngvấn đề liên quan và đã kê biên tài sản đó thì CHV có trách nhiệm thông tin lạicho cơ quan đăng ký quyền sở hữu biết về tình trạng của tài sản kê biên, tránhtình trạng tài sản đó lại được đem ra giao dịch bất hợp pháp để hòng trốntránh nghĩa vụ
Đây là những trường hợp kê biên tài sản nổi bật và gây nhiều tranh cãicũng như những vấn đề liên quan phát sinh nhất Những trường hợp kê biêntài sản còn lại như:
- Kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp;
Trang 17- Kê biên tài sản do người thứ ba đang nắm giữ;
- Kê biên tài sản là vốn góp;
- Kê biên tài sản là phương tiện giao thông;
Trên đây là việc phân loại các biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản đảmbảo thi hành án theo quy định của pháp luật hiện nay, được thể hiện rất cụ thểtrong Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014
1.1.4 Cơ sở của việc quy định biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án trong pháp luật thi hành án dân sự 1.1.4.1: Cơ sở lý luận
Thứ nhất, trong bất cứ một hoạt động nào liên quan đến bộ máy nhànước cũng cần phải có một chế tài nhất định, điều đó thể hiện tính nghiêmminh của pháp luật và đảm bảo được tính thượng tôn pháp luật, để bù lại việc
tự nguyện thi hành án không đạt được
Khi một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành, người phảithi hành án vẫn có sự lựa chọn của mình để thực hiện nghĩa vụ đó là việc tựnguyện THA trong một thời gian nhất định Tuy nhiên sau khoảng thời gian
đó mà người phải THA không tự nguyện thi hành thì buộc cơ quan THA, đạidiện là CHV trực tiếp phụ trách vụ án phải có bước cưỡng chế kê biên tài sản
để đảm bảo thực hiện được bản án, pháp luật được thực thi và quyền lợi củangười được THA được bảo đảm Thời hạn tự nguyện THA được quy định rõ
nét tại điều 45 luật THADS năm 2014: “Thời hạn tự nguyện THA là mười ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA hoặc được thông báo hợp lệ quyết đinh THA”
Như vậy để thực hiện được việc kê biên tài sản, cơ sở đầu tiên CHV cầnxét đến là người phải THA phải có điều kiện để THA Điều này được hiểu rấtđơn giản, “có điều kiện thi hành án” nghĩa là người đó có những tài sản đảmbảo cho nghĩa vụ THA được thi hành đúng luật Tài sản đó có thể là động sản,
là bất động sản…Để xác định được người phải THA có đủ điều kiện THA thìbuộc CHV phải có bước xác minh điều kiện THA Việc này phải làm chính
Trang 18xác và nghiêm minh, tránh xảy ra trường hợp xác minh không khách quan,không chính xác dẫn tới bản án không được thi hành hoặc thi hành không đảmbảo quyền lợi của người được thi hành án.
Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở việc đảm bảo có điều kiện để THA thì chưa
đủ, mà phải có một điều kiện đi kèm là: đã hết thời hiệu tự nguyện thi hành
án Bởi lẽ, nếu đang còn trong thời hiệu tự nguyện THA thì cơ quan THAkhông được quyền ra quyết định cưỡng chế THA, mà nếu đã không thể raquyết định cưỡng chế THA thì không được phép kê biên tài sản Trường hợpnày loại trừ đối với việc CHV có cơ sở cho rằng nếu không kê biên tài sản kịpthời thì người phải thi hành án sẽ tẩu tán tài sản đó nhằm trốn tránh nghĩa vụđối với người được THA
Trong hai điều kiện nói trên, CHV không được xem nhẹ bất cứ điều kiệnnào bởi hai điều kiện này làm tiền đề cho nhau, là hai điều kiện bắt buộc vàphải thỏa mãn đủ Đã có rất nhiều trường hợp xảy ra khi CHV coi nhẹ mộtđiều kiện nào đó, ở đây chằng hạn việc xem nhẹ bước thông báo quyết địnhTHA cho người phải THA, sau khi cưỡng chế người phải THA đã làm đơnkhiếu nại vì không được nhận thông báo của cơ quan THA nên không nắmđược thời hạ tự nguyện THA là bao lâu
1.1.4.2 Cơ sở thực tiễn
Trong thực tiễn hoạt động THADS, khi người phải THA không tựnguyện THA và biện pháp bảo đảm THADS chỉ mang tính tạm thời thì thựctiễn đòi hỏi cần phải có biện pháp cưỡng chế THA Từ thực tế đó mà buộcphải có biện pháp cưỡng chế bằng hình thức kê biên tài sản Thực tiễn chứngminh biện pháp kê biên tài sản là biện pháp được CHV áp dụng nhiều nhấttrong quá trình THADS
Do vậy biện pháp kê biên tài sản để THA là biện pháp cần thiết, vừa đảmbảo quyền lợi của người được THA, đảm bảo tính khách quan của cơ quannhà nước, góp phần giáo dục nâng cao ý thức pháp luật cho người dân trongcông tác THADS
Trang 191.2 Vai trò của biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Kê biên tài sản là một biện pháp được quy định tại Điều 71 Luật THADSsửa đổi bổ sung năm 2014, những trường hợp không thuộc phải kê biên tàisản có thể hiểu là những trường hợp tự nguyên THA Như vậy, có thể nói kêbiên tài sản là sự đánh giá rõ nét nhất về vai trò và tầm quan trọng của cơquan THADS Điều đó được thể hiện như sau:
- Thể hiện tính nghiêm minh, thượng tôn pháp luật, đúng bản chất phápquyền của Nhà nước XHCN, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người được thihành án Một bản án,quyết định của Tòa án phải được thi hành nhanh chóng
và đúng luật Nếu người phải THA không tự nguyện THA thì cơ quan đượcNhà nước giao thẩm quyền có quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản Nếubản án, quyết định đó không được thi hành đúng luật, không đảm bảo đượcquyền lợi của người được THA thì sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng.Trước mắt là quyền lợi của người được THA không được đảm bảo, làm chongười dân mất niềm tin vào pháp luật Thứ hai, tính nghiêm minh của phápluật không còn ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của những cơ quan liênquan khác, trong đó gần nhất là là Tòa án, viện kiểm sát
- Thứ hai, THADS góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho ngườidân Đây là đặc thù riêng của lĩnh vực THA Bởi vì việc THADS không phải
là việc làm của duy nhất của CQTHA mà nó là sự kết hợp của nhiều banngành tại địa phương Thông qua việc THA thì ý thức pháp luật của dân đượcnâng cao và tuyên truyền rộng rãi ra toàn xã hội
- Thứ ba, kê biên tài sản trong THADS là khâu cuối cùng giải quyết vàthể hiện kết quả của bản án, quyết định của Tòa án Một vụ án có thể kéo dàirất nhiều năm gây tốn kém cho người tham gia tố tụng, cho những người liênquan khác Sau khi bản án, quyết định được tuyên mà trường hợp người phảiTHA lại không tuân thủ việc THA mặc dù có đủ điều kiện để thi hành án thìbuộc cơ quan THADS phải áp dụng ngay biện pháp kê biên tài sản Có như
Trang 20vậy mới giải quyết dứt điểm được những nội dung đã được tuyên trong bản
án, quyết định của Tòa án
- Thứ tư, kê biên tài sản ngoài đảm bảo lợi ích cho công dân còn thể hiệntính thượng tôn pháp luật của Nhà nước ta Thông qua việc kê biên tài sản xử
lý thi hành án góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thi hành ándân sự Hiện nay công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật thi hành án dân sựcòn nhiều hạn chế và chưa được chú trọng Nhiều trường hợp xảy ra điển hìnhnhư việc người được thi hành án không biết rằng để bản án được thi hành thìngười được thi hành án phải có đơn yêu cầu thi hành án gửi tới cơ quanTHADS Điều này dẫn tới việc đã quá thời hạn để yêu cầu thi hành án nhưngngười được THA không có đơn nên mất quyền của mình
Việc kê biên tài sản thi hành án thể hiện rõ nét nhất vai trò của Chấphành viên Thông qua đó thấy được rằng CHV có tuân thủ đúng pháp luật vềTHA hay không? Đánh giá được trình độ chuyên môn của CHV, đồng thờixác định được nguyên nhân của việc chậm trễ THA hoặc không thi hành ánđược Từ đó khắc phục và sữa chữa những sai lầm không đáng có
Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 có nhiều thay đổi, bổsung quan trọng, trong đó khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án khi
có đủ điều kiện thi hành án Đây là sự tôn trọng quyền lợi của đương sự trongquá trình giải quyết vụ án Tuy nhiên để đảm bảo thi hành án trong trườnghợp người phải THA không tự nguyện thi hành sau thời gian 10 ngày mà phápluật cho phép, thì CHV được quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tàisản để thi hành án
Việc kê biên tài sản để thi hành án dân sự do CHV thực hiện nhưng phảituân thủ quy định chặt chẽ của pháp luật thi hành án Cơ quan có trách nhiệmquản lý việc thi hành án dân sự là Bộ tư pháp, đây là cơ quan chủ quản trongvấn đề quản lý việc thi hành án Cơ quan thi hành án dân sự bao gồm cơ quanthi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là
cơ quan thi hành án cấp tỉnh); cơ quan thi hành án dân sự cấp quận, huyện,
Trang 21thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi là cơ quan là cơ quan thi hành
án dân sự cấp huyện)
Lần đầu tiên hệ thống cơ quan quản lý thi hành án từ trung ương tới địaphương được đưa cụ thể hóa vào Luật thi hành án dân sự năm 2008, kể từngày 01 tháng 11 năm 2009, vị trí và tên gọi của hệ thống tổ chức thi hành ándân sự bao gồm ở trung ương có Tổng cục thi hành án dân sự trực thuộc Bộ
Tư pháp; ở địa phương có Cục thi hành án dân sự tỉnh trực thuộc Tổng cục thihành án dân sự và Chi cục thi hành án dân sự huyện trực thuộc Cục thi hành
án dân sự tỉnh Tổng cục thi hành án dân sự trực thuộc Bộ tư pháp được đổitên từ Cục thi hành án dân sự nhằm đảm bảo chức năng quản lý thi hành ánđược tốt hơn Việc thi hành án phải được quản lý và kiểm tra thường xuyên,minh bạch để không xảy ra sai sót trong quá trình thi hành án
Có thể lấy một ví dụ điển hình cho việc sai sót trong quá trình thi hành
án, mà trách nhiệm lớn do sự quản lý không chặt chẽ của cơ quan quản lý thihành án
“Năm 2002 bà Trần Thị Hà và ông Hà Văn Hòa (Nguyễn Thiên Hòa) góp vốn thành lập Công ty TNHH xây dựng, thương mại và kinh doanh nhà Thành Phát (Công ty Thành Phát), địa chỉ trụ sở chính tại số 10, khu phố 2, đường HT 25, phường Hiệp Thành, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2005 sau khi kí Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp để vay vốn kinh doanh với số lượng 3 ngàn lượng vàng và 18 tỉ đồng của Ngân hàng Nông nghiệp phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn, thành phố
Hồ Chí Minh, bà Hà, ông Hòa và một số người liên quan bị bắt và truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Đưa hối lộ” Sau khi bị xét xử với tội danh đưa hối lộ, bản án số 375/2013/HSST ngày 28/8/2013 và Bản án số 206/2014/HSPT ngày 16 và 17/4/2014 bà Hà bị buộc cùng với ông Hà Văn Hòa (Nguyễn Thiên Hòa) liên đới bồi thường cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi Nhánh Chợ Lớn 3.000 (ba ngàn) lượng vàng SJC và 18 tỉ đồng, phân định mỗi người chịu trách nhiệm bồi thường ½.
Trang 22Trong thời gian bà Hà chấp hành án tại trại giam, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh (Cục THA) đã thụ lí yêu cầu thi hành án của Nguyên đơn dân sự Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn và phân công Chấp hành viên Hà Quốc Dũng trực tiếp thi hành Tuy nhiên quá trình thi hành án, CHV đã vi phạm nghiêm trọng những điều khoản quan trọng như: Vi phạm về thông báo thi hành án (tiến hành đấu giá tài sản nhưng không một lần thông báo tới người phải thi hành án); Kê biên tài sản hiện đang có tranh chấp; Cục trưởng Cục THADS không thực hiện việc giải quyết khiếu nại theo đúng quy định của pháp luật…Hiện nay người đại diện theo ủy quyền của bà Hà sau khi thực hiện quyền khiếu nại của mình, toàn bộ yêu cầu trong đơn khiếu nại đều được chấp thuận và bà
Hà cũng đang thực hiện những việc làm tiếp theo để đảm bảo quyền lợi cho mình.”
Qua ví dụ ngắn gọn nêu trên, có thể thấy tầm quan trọng của công tácquản lý thi hành án, chỉ một sơ suất nhỏ trong quá trình thi hành án đã làmảnh hưởng nghiêm trọng và kéo theo tất cả những cá nhân, cơ quan liên quanchịu hậu quả
1.3 Nội dung chế định pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
1.3.1 Lịch sử phát triển của chế định kê biên tài sản trong thi hành án dân sự được thể hiện qua nhiều thời kỳ khác nhau
Giai đoạn bắt đầu từ năm 1945 đến năm 1960: đây là thời điểm cách
mạng tháng Tám vừa thành công, miền bắc hoàn toàn dược giải phóng, nhànước ta bắt tay vào xây dựng hệ thống pháp luật, tuy nhiên chưa thể đưa rađược một văn bản pháp luật bao quát cụ thể vấn đề thi hành án nên Chủ tịch
Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 với mục đích tạm thờigiữ nguyên các luật lệ hiện có của chế độ cũ, với điều kiện các luật lệ đókhông được trái với nguyên tắc của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Thờiđiểm này, hai lực lượng được quyền thi hành án là Thừa phát lại và Ban tưpháp xã, vai trò của hai chủ thể này là cao nhất trong quá trình thi hành án
Trang 23Tới thời điểm năm 1950, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về “cải cách
bộ máy tư pháp và tố tụng” thì công tác thi hành án dân sự lại được giao choTòa án đảm nhiệm, cụ thể hóa hơn nữa là cho Thẩm phán TAND cấp huyện
Ở thời điểm này, vai trò của Thẩm phán được mở rộng sang cả giai đoạn sau khi bản án, quyêt định đã có hiệu lực
Đến năm 1955, theo Thông tư số 19.VHH/HS ngày 30/6/1955 của Bộ tưpháp và Chỉ thị 772/TATC ngày 10/07/1957 của TANDTC thì từ đó trở điTòa án không đươch áp dụng pháp luật của chế độ cũ nữa mà thay vào đó tạiThông tư 4176-HCTP ngày 28/11/1957 của Bộ tư pháp đã đưa ra nguyên tắctrong thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành án nhưng chưa có quy định cụthể về cưỡng chế thi hành án dân sự
Cho tới năm 1960, khi Luật tổ chức TAND ra đời thì chế định cưỡng chếTHA nói chung và cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án nói riêng mới có căn
cứ pháp lý để thực hiện
Giai đoạn thứ hai từ 1960 đến năm 1989: Ở giai đoạn này, nội dung
biện pháp cưỡng chế tài sản kê biên được áp dụng theo Thông tư số NCPL ngày 14/04/1966 của TANDTC hướng dẫn áp dụng biện pháp kê biêntài sản như sau: Những tài sản có thể kê biên là tài sản của người mắc nợ, kể
04/TT-cả những tài sản mà họ gửi giữ ở nơi khác, cho người khác mượn, cho vayhoặc đang sửa chữa Trường hợp người phải thi hành án đang ở tù thì cũng cóthể kê biên những tài sản đang giữ của họ như đồng hồ, trang sức…nhằmphục vụ công tác thi hành án Bên cạnh đó thông tư cũng quy định rõ nhữngtài sản không được kê biên để thi hành án bao gồm: Giường, chiếu…vật dụngtối cần thiết nhất cho người đó và gia đình họ; Lương thực, đồ dùng vào việcthờ cúng…Nhận xét chung ở giai đoạn này tuy trong nội dung của pháp luật
đã thể hiện rõ các bước để kê biên tài sản thi hành án, về điều kiện và nhữngnội dung liên quan tới việc thi hành án Tuy nhiên về giá trị của văn bản thìchỉ mới dừng lại ở Thông tư, Chỉ thị, quyết định…những văn bản này có tínhpháp lý chưa cao
Trang 24Phải cho tới ngày 28/08/1989 Nhà nước ta mới ban hành Pháp lệnh thihành án dân sự, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của các nhà lập pháp, thể hiện
sự thay đổi mạnh mẽ trong pháp luật nước nhà
Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1993: Ngày 28/8/1989 Pháp lệnh
THADS đầu tiên đã được ban hành tạo cơ sở pháp lý cho việc hoàn thiệnpháp luật, tạo bước tiến mới trong công tác THADS Lần đầu tiên trong lịch
sử, tất cả các vấn đề liên quan tới thi hành án như: nguyên tắc, trình tự, thủtục, các biện pháp cưỡng chế thi hành án được cụ thể hóa thành pháp lệnh.Nếu trước kia Thẩm phán vừa đảm nhiệm vai trò xét xử, lại vừa là cơquan thực hiện tiếp nhiệm vụ thi hành án, thì nay THA đã được tổ chức vàxây dựng bằng một hệ thống cơ quan riêng, có chức năng nhiệm vụ nhất định
để thực hiện các phán quyết của Tòa án được chính xác và nhanh chóng.Vấn đề cưỡng chế kê biên tài sản THA được quy định thành một chếđịnh riêng, chứng tỏ được vai trò và sự cần thiết của các biện pháp cưỡng chếtrong THADS Tuy nhiên sau một thời gian áp dụng triển khai thì Pháp lệnhcũng gặp phải những hạn chế, chủ yếu nhất nổi cộm lên vấn đề Thẩm phánvẫn còn quen công việc cũ khi áp đặt tư tưởng giải quyết của mình cho chấphành viên Theo đó CHV thì cũng dựa vào Thẩm phán do CHV mới được tiếpcận công việc nên chưa thể thực hiện theo đúng tinh thần của pháp lệnh, dẫntới việc nhiều bản án, quyết định không được thực hiện đảm bảo trên thực tế.Trước tình hình đó, Quốc hội khóa IX đã họp và có Nghị quyết chínhthức bàn giao công tác thi hành án cho cơ quan thuộc Chính phủ Cũng thờiđiểm này Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 được ra đời
Giai đoạn 1993 đến 2004: Thời điểm này Pháp lệnh THADS là văn bản
pháp lý cao nhất về lĩnh vực thi hành án Phấp lệnh được xây dựng nên đã tạo
cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hệ thống cơ quan THA tách ra khỏi hệ thốngtòa án để thực hiện nhiệm vụ được tốt nhất
Mặc dù vậy nhưng do Pháp lệnh được ban hành ở thời điểm phải khẩntrường để thực hiện Nghị quyết về bàn giao công tác THADS từ Tòa án sang
Trang 25Chính phủ cho nên Pháp lệnh cũng còn những hạn chế nhất định Nhiều vấn
đề trong pháp lệnh năm 1989 được giữ nguyên tới pháp lệnh năm 1993, dovậy không đảm bảo theo kịp với nền kinh tế đất nước dẫn tới nhiều vấn đềmới xảy ra nhưng lại không có luật áp dụng
Giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008:
Nhìn qua chặng đường phát triển của chế định pháp luật về kê biên tàisản thi hành án mới thấy được dấu mốc vượt bậc khi các quy định được cụ thểhóa lên thành Luật, đảm bảo được tính nghiêm minh, thượng tôn pháp luật vàvấn đề kê biên tài sản được luật hóa sẽ đảm bảo quyền lợi cho người được thihành án trong các bản án dân sự Ngoài Luật thi hành án dân sự thì vấn đề kêbiên tài sản thi hành án còn được điều chỉnh ở nhiều văn bản pháp luật liênquan đến từng loại tài sản như: Luật đất đai, Luật nhà ở liên quan đến tài sản
là nhà và đất; Luật sở hữu trí tuệ liên quan tới tài sản sở hữu trí tuệ…
Ở Việt Nam cơ quan thi hành án là một cơ quan riêng biệt, tách khỏi Tòa
án và Viện kiểm sát, là một cơ quan quan trọng cuối cùng quyết định việc cóhay không bản án được thi hành trên thực tế
Ở một số nước trên thế giới việc thi hành án không do cơ quan riêng biệt thực hiện mà lại gắn liền với một cơ quan khác
- Ở Mỹ: Bản án, quyết định dân sự được thi hành theo lệnh thi hành áncủa tòa án Pháp luật về tòa án ở Mỹ, kể cả pháp luật của từng bang hay phápluật liên bang đều quy định về việc tòa án sẽ hỗ trợ và bảo đảm cho việc xác
minh điều kiện thi hành án Điểm nỏi bật trong pháp luật của Mỹ là xem hoạt động xác minh điều kiện thi hành án giống như việc xác minh thu thập chứng cứ
ở giai đoạn tòa án trong tố tụng dân sự Bởi vậy, người được thi hành án sẽ sửdụng các biện pháp thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật dân
sự để đảm bảo việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành
án, và đồng thời Tòa án cũng có chức năng hỗ trợ trong việc xác minh đó.Theo quy định tại khoản 2 quy tắc số 69 trong bộ quy tắc tố tụng dân sựcủa liên bang Mỹ do tòa án tối cao Mỹ ban hành, để hỗ trợ cho việc thi hành
Trang 26án thì người được thi hành án hoặc người được ủy quyền hoặc người đượchưởng quyền đó được tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ từ bất kỳngười nào, bao gồm cả người phả thi hành án, theo các quy định về thu thậpchứng cứ được quy định trong bộ quy tắc tố tụng dân sự của Liên bang hoặctheo thủ tục dân sự của bang nơi có tòa án đã ra bản án.
- Ở Anh: Có lẽ là những quốc gia trong cùng hệ thống Common Law nênnhững quy định trong pháp luật thi hành án có những điểm tương đồng nhau
rõ rệt Theo đó trong pháp luật Anh cũng quy định việc người được thi hành
án có quyền nộp đơn yêu cầu tòa án ban hành lệnh cung cấp thông tin Bằngthủ tục này cho phép người được thi hành án buộc người phải thi hành ántrình diện trước tòa án để trả ời câu hỏi về tình hình tài chính và tài sản củamình, từ đó giúp cho người được thi hành án đưa ra quyết định có nên tiếp tụctheo đuổi quá trình thi hành án nữa hay không, hay nên dừng lại, và nếu cótiếp tục thì nên theo thực hiện biện pháp gì tiếp theo
Người được thi hành án có quyền yêu cầu tòa án ra lệnh cung cấp thôngtin ở bất kỳ thời điểm nào sau khi bản án được ban hành Đơn yêu cầu sẽ đượcthực hiện theo mẫu của tòa án, thông tin của bản án, các câu hỏi cụ thể kháccần hỏi người phải thi hành án, tên các tài liệu cần người phải thi hành áncung cấp Dựa trên đơn của đượng sự, tòa án sẽ ban hành lệnh buộc ngườiphải thi hành án trình diện để thẩm vấn Người được thi hành án thì không bắtbuộc phải có mặt tại buổi thẩm vấn do tòa án tổ chức, trừ khi người đó muốnđến Sau khi kết thúc phiên thẩm vấn, người được thi hành án sẽ được tòa ángửi một bản sao về việc thẩm vấn Như vậy ở Anh và Mỹ, vai trò của Tòa ánbao trùm sang cả lĩnh vực thi hành án, không phân định cơ quan riêng biệt đểthực hiện nhiệm vụ thi hành án
- Ở Pháp, việc thi hành án dân sự do Bộ tư pháp quản lý, và thực hiện thihành án là do cơ quan thừa phát lại Thừa phát lại được tổ chức theo hình thứccông ty thương mại, nguồn tiền để cơ quan này hoạt động không do Nhà nướcchi trả mà do các bên trong thi hành án có nghĩa vụ chi trả
Trang 27- Ở Trung Quốc: Cũng giống như Pháp, ở Trung Quốc việc thi hành áncũng do Bộ tư pháp quản lý, và Tòa án là cơ quan kiêm luôn chức năng thihành án Điều này đang gây ra sự chồng chéo và không tách biệt chức năngcủa từng cơ quan.
- Ở Indonesia được thực hiện bởi Thẩm phán Thẩm quyền thi hành bản
án của Thẩm phán thể hiện ngay ở tiêu đề của bản án vì công lý dựa vào
Thượng đế toàn năng, tức là Thẩm phán được sử dụng sức mạnh cưỡng chếcủa bộ máy nhà nước để thi hành bản án
Đối chiếu với quy định của Luật thi hành án dân sự ở Việt Nam, có thểthấy mô hình thi hành án ở Việt Nam là mô hình hỗn hợp giữa cơ quanTHADS và tổ chức thi hành án tư nhân là thừa phát lại (có sự quản lý chặt chẽcủa Nhà nước), nhưng chủ đạo vẫn là cơ quan THADS thuộc Bộ tư pháp.Pháp luật Việt Nam đặc biệt đề cao vai trò chủ đạo của CHV trong việc thihành án, có văn bản quy định riêng là Luật thi hành án dân sự chứ không phảiquy định chung trong chế định tòa án như các nước theo hệ thống luật Anh –
Mỹ Cơ chế đảm bảo thi hành án ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trongvấn đề xác minh điều kiện thi hành án, không những người phải thi hành ángây khó dễ mà cả những cơ quan có liên quan cũng chưa thiện chí trong quátrình xác minh thông tin thi hành án
Chế định pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự gồm nhiềunhóm quy phạm pháp luật, trong đó có thể kể đến như nhóm quy phạm phápluật quy định về sở hữu điều chỉnh về vấn đề sở hữu chung, riêng tài sản;nhóm quy phạm quy định về thừa kế liên quan tới việc thi hành án đối với tàisản là di sản thừa kế; nhóm quy phạm về hành chính liên quan đến tổ chức cơquan thi hành án…tóm lại vấn đề thi hành án dân sự liên quan hầu hết tới cácnhóm quan hệ xã hội, do vậy khi xây dựng pháp luật về kê biên tài sản thihành án cần phải thật chú trọng và cẩn thận tránh để xảy ra sai sót kéo theonhững hậu quả không đáng có
Trang 281.3.2 Nội dung chính của chế định pháp luật kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
1.3.2.1 Điều kiện áp dụng biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án
Được hiểu là giai đoạn cuối cùng trong quá trình tố tụng, giai đoạn đánh
giá bản án, quyết định của tòa án có được thi hành trên thực tế hay không thìviệc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án phải đáp ứngmột số điều kiện sau:
Thứ nhất, người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiềntheo bản án, quyết định được đưa ra thi hành hoặc nộp phí thi hành án
Nghĩa vụ thanh toán tiền của người phải thi hành án được ấn định trongbản án, quyết định của TA hoặc của cơ quan có thẩm quyền như tổ chức trọngtài thương mại hoặc hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh Ở đó thẻ hiện bằngnhững hình thức phán quyết như: buộc người phải THA phải trả tiền bồithường; bồi thường thiệt hại do làm mất, làm hư hỏng tài sản; bồi thường chiphí đào tạo; bồi thường tính mạng, sức khỏe – vấn đề dân sự trong vụ án hìnhsự; hoặc việc trả tiền theo hợp đồng, công lao động hoặc nghĩa vụ nộp phíthi hành khi người được thi hành án đã nhận được phần lợi ích của mình màkhông chịu thanh toán lại phí thi hành án cho cơ quan THA…
Thứ hai, việc kê biên tài sản phải đảm bảo điều kiện người buộc phải thihành án phải có đủ điều kiện thi hành án Điều kiện thi hành án ở đây hiểumột cách đơn giản nhất ví dụ như người đó có tài sản để thực hiện nghĩa vụcủa mình Tài sản ở đây có thề là đất đai, là động sản khác hoặc là quyền sởhữu trí tuệ
Thứ ba, đã qua hết thời gian tự nguyện thi hành án nhưng người phải thihành án vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ thi hành án của mình Hoặc cónhững trường hợp chưa hết thời hạn thi hành án nhưng có cơ sở cho rằngngười phải thi hành án có khả năng sẽ tẩu tán, hủy hoại tài sản để trốn tránhnghĩa vụ thi hành án thì CHV trực tiếp phụ trách vụ án cũng có quyền áp
Trang 29dụng ngay biện pháp kê biên tài sản sau khi đã hết thời gian ấn định việc kêbiên tài sản thông báo tới người phải thi hành án.
1.3.2.2 Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án
Để đảm bảo việc thi hành án có hiệu quả và đúng pháp luật, việc ápdụng biện pháp kê biên tài sản của người phải THA phải đảm bảo tuân thủnghiêm ngặt những nguyên tắc quy định tại Luật thi hành án dân sự và cácvăn bản hướng dẫn đi kèm Theo đó, khi áp dụng biện pháp kê biên tài sảnphải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Một là, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản chỉ được thựchiện sau khi xác định là đã hết thời gian tự nguyện thi hành án của người phảithi hành án Nguyên tắc của pháp luật dân sự bao giờ cũng là tôn trọng sựthỏa thuận và tự nguyện của các bên liên quan Việc tự nguyện đó được tôntrọng ở bất cứ giai đoạn nào, ở giai đoạn thi hành án cũng không ngoại lệ.Pháp luật vẫn cho người phải thi hành án một khoảng thời gian nhất định đểthi hành bản án, quyết định Chỉ sau khi hết thời gian này mà người phải thihành án vẫn không thi hành đúng thì cơ quan THA mới tiến hành áp dụngbiện pháp có tính nghiêm khắc là kê biên tài sản
Chấp hành viên chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế khi và chỉ khi đã hếtthời gian tự nguyện thi hành án Tuy vậy để đảm bảo công tác dân sự đạt kếtquả, và đảm bảo quyền lợi chính đáng của người được thi hành án thì phápluật vẫn cho phép trường hợp ngoại lệ là nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản,trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì CHV được áp dụng một số biện pháp bảođảm quy định trong Luật THADS
Hai là, chỉ kê biên tài sản khi xác định được rõ ràng tài sản đó thuộc sởhữu hợp pháp của người phải thi hành án Tài sản đó phải đang do họ quản lý
sử dụng hoặc người thứ ba đang nắm giữ Tài sản của người phải thi hành án
có thể là tài sản riêng của chính họ cũng có thể là tài sản chung trong khối tàisản với người khác như tài sản chung vợ chồng, hoặc tài sản góp vốn chung…
Trang 30Người phải thi hành án có quyền thỏa thuận với người được thi hành án
về tài sản được kê biên đảm bảo thi hành án Nếu hai bên không thể thốngnhất quan điểm giải quyết thì người được thi hành án có quyền đề nghị chấphành viên về trình tự những tài sản sẽ kê biên và CHV phải chấp nhận việc đókhi xác định được yêu cầu đó là chính đáng
Nếu người phải thi hành án không có đề xuất thì thứ tự sẽ kê biên từ tàisản riêng của người phải thi hành án trước, sau đó mới kê biên đến phần tàisản chung trong khối tài sản của người phải thi hành án với người khác
Pháp luật hiện nay không quy định rõ trường hợp người phải thi hành ánvừa có tài sản riêng vừa có tài sản chung với người khác mà tài sản riêng làđộng sản, tài sản chung là bất động sản thì quy tắc ưu tiên kê biên tài sản làđộng sản trước Giả sử trường hợp tài sản riêng là bất động sản,còn tài sảnchung là động sản, mà phần tài sản chung kia đủ để thực hiện nghĩa vụ thihành án thì vẫn có thể kê biên tài sản chung đó Trừ trường hợp nếu việc kêbiên tài sản chung đó làm cho người đồng sở hữu còn lại không còn phươngtiện để kiếm sống thì phải quay lại áp dụng kê biên tài sản riêng cho dù đó làbất động sản
Ba là, chỉ được kê biên tài sản của người phải thi hành án tương ứng vớinghĩa vụ của người đó và các chi phí tố tụng cần thiết do luật định
Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày18/07/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Luật THADS quy định rất cụ thể: CHV căn cứ vào nội dung bảnán,quyết định, tính chất mức độ,nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của ngườiphải thi hành án, đề nghị của người được thi hành án và tình hình thực tế đểlựa chọn một trong các biện pháp bảo đảm thi hành án thích hợp Việc ápdụng biện pháp phải tuân thủ nguyên tắc đúng, tương ứng giữa quyền vànghĩa vụ Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớnhơn nhiều lần so với nghĩa vụ của họ mà không thể phân chia được khối tàisản đó thì CHV vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án Để
Trang 31làm được điều naỳ thì ngay khi xác minh tài sản thi hành án chấp hành viên phảitính toán được giá trị cảu tài sản Từ đó CHV mới có thể lực chọn tài sản kê biêntương ứng với nghĩa vụ của họ trong trường hợp người đó có nhiều tài sản.
Đối với trường hợp chỉ có duy nhất một tài sản có giá trị lớn hơn nghĩa
vụ phải thi hành án mà việc kê biên sẽ làm ảnh hưởng tới giá trị của tài sản đóthì CHV vẫn có quyền kê biên tài sản để đảm bảo quyền lợi chính đáng củangười được thi hành án mà pháp luật bảo vệ
Như vậy, các nguyên tắc như kê biên tài sản riêng trước, tài sản chungsau hoặc kê biên tài sản là động sản trước, bất động sản sau được quy định ởpháp lệnh thi hành án thì nay theo Luật THADS đã được xóa bỏ Đây là mộtbước tiến mới vô cùng quan trọng trong lĩnh vực thi hành án, và quyền lợi củangười được thi hành án được bảo đảm tối đa quyền của mình
Bốn là không được kê biên những tài sản mà pháp luật đã quy định làkhông được kê biên
Theo quy định tại Điều 87 Luật THADS năm 2014 sửa đổi bổ sung thìnhững tài sản sau không được kê biên:
- Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụmục đích quốc phòng an ninh, lợi ích công cộng; tài sản được cấp cho cơquan nhà nước từ nguồn ngân sách nhà nước Những tài sản này có thề kể đếnnhư thuốc phiện,, pháo nổ, súng đạn, vật liệu gây nổ, phương tiện giao thông,tiền lương của cán bộ công chức…
- Tài sản của người phải thi hành án là cá nhân CHV không được tiến hành kê biên tài sản trong các trường hợp sau:
+ Tài sản đó là tiền lương thực đáp ứng nhu cầu thực tế cấp thiết củangười phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa phát sinh nguồn thu nhập nào mới;
+ Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;
Trang 32+ Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng của người ốm như xelăn;
+ Đồ dùng thờ cúng về tâm linh theo tập quán ở địa phương Tuy nhiênbên cạnh đó có những đồ thờ cúng nhưng vẫn có thể được kê biên như lư hương, đồ cổ tuy nhiên phải xác định rõ nguồn gốc của tài sản đó
+ Công cụ lao động cần thiết dùng làm phương tiện sinh sống chính của gia đình hoặc duy nhất của người phải thi hành án
+ Đồ dùng sinh hoạt cần thiết thiết yếu như quần áo, những vật dụng cá nhân khác
Năm là, tài sản của tổ chức không được kê biên theo quy định tài khoản
3 Điều 87 Luật THADS năm 2014
+ Số thuốc phục vụ phòng, chữa bệnh cho người lao động, lương thựcthực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động Trênthực tế, các doanh nghiệp, hợp tác xã cơ sở sản xuất kinh doanh thường cócác phòng ban như phòng y tế, bếp ăn tập thể thì CHV không kê biên số thuốc
mà phòng y tế dự trữ, hoặc số lương thực dữ trữ phục vụ cho bữa ăn, sinhhoạt chủ yếu của người lao động
+ Trang thiết bị,phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, phòng chống ô nhiễm môi trường
Cuối cùng về thời gian tổ chức thực hiện Theo quy định tại khoản 2 Điều 13 NĐ 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của luật THADS thì cơ quan THADSkhông được tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thờihạn 15 ngày trước và sau tết nguyên đán, các ngày truyền thống đối với cácđối tượng chính sách, người có công với cách mạng Trường hợp buộc phảicưỡng chế thì Thủ trưởng cơ quan THA cấp tỉnh và huyện phải có văn bảnbáo cáo Chủ tịch UBND cùng cấp trước khi tổ chức cưỡng chế theo quy địnhtại khoản 1 Điều 172, khoản 2 Điều 173, khoản 3 Điều 174 Luật THADS sửađổi năm 2014
Trang 331.3.2.3 Căn cứ để áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
Nếu như trong Điều 2 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, những căn cứ
để áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thihành án là:
- Bản án, quyết định dân sự được thi hành (trong đó bao gồm những bản
án, quyết định đã có hiệu lực và bản án, quyết định chưa có hiệu lực nhưngđược thi hành ngay;
- Phải có quyết định THA của người có thẩm quyền ban hành;
- Quyết định, bản án được thi hành là quyết định, bản án về tài sản hoặc
có liên quan đến tài sản;
- Người mà pháp luật quy định là người phải thi hành án phải có tài sản
và tài sản đó đủ điều kiện được phép thi hành án theo Pháp lệnh THA dân sự2004;
- Người phải thi hành án đã không THA tự nguyện trong thời gian pháp luật quy định
Tới Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, tại Điều 70 đã
có sự thay đổi rõ nét, điều luật quy định về những căn cứ để áp dụng biệnpháp kê biên tài sản một cách ngắn gọn nhưng bao quát được toàn bộ vấn đề.Theo đó, các căn cứ để áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản gồmnhững căn cứ sau đây:
- Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án;
- Quyết định thi hành án;
- Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản; trừ trườnghợp bản án đã tuyên về việc phong tỏa tài khoản và trường hợp đã thi hànhbiện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án
Điều này được lí giải rằng, trong quá trình tố tụng, khi Tòa án đã tuyênviệc phong tỏa tài khoản, hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì giaiđoạn thi hành án không còn căn cứ để ra quyết định cưỡng chế kê biên tài sảnnữa, mà căn cứ vào quyết định trước đó của Tòa án mà cơ quan THADS tiến
Trang 34hành kê biên tài sản khi người phải thi hành án không tự nguyện thi hành theobản án, quyết định đã tuyên.
Việc Tòa án tuyên kê biên tài sản nào đó tức là bảo đảm cho việc đương
sự không thể tẩu tán tài sản đó, khi đương sự không tự nguyện thi hành án thì
cơ quan thi hành án dân sự căn cứ vào quyết định kê biên của tòa án để cưỡngchế mà không phải ra quyết định cưỡng chế nữa
Có thể thấy rằng Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 đãgiải quyết được vướng mắc thời gian qua đó là trường hợp bản án đã tuyên kêbiên hoặc cơ quan thi hành án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấptạm thời thì cơ quan thi hành án có phải ra thêm quyết định thi hành án ở giaiđoạn thi hành án nữa hay không? Với quy định tại khoản 3 Điều 70 Luật thihành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì Cơ quan thi hành án sẽ thốngnhất không ra thêm quyết định cưỡng chế thi hành án đối với trường hợp bản
án, quyết định của Tòa án đã tuyên áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời hoặctuyên phong tỏa tài khoản, tài sản, kê biên tài sản
Trang 35Tiểu kết chương 1
Thi hành án dân sự là việc thực hiện trên thực tế các quyền, nghĩa vụ đãđược bản án, quyết định ghi nhận Thi hành án dân sự nhằm khôi phục lại tìnhtrạng ban đầu về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, bảo vệ quyền và lợi íchchính đáng của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và mọi công dân
mà trong đó, quyền và lợi ích đó đã được pháp luật công nhận Trên cơ sởnguyên tắc bảo đảm tính tối cao của Hiến Pháp; Bảo đảm và tôn trọng quyềncon người, quyền công dân trong thi hành án dân sự; Xuất phát từ nguyên tắcthỏa thuận và tự định đoạt của giao dịch dân sự trong thi hành án dân sự; Phápluật về thi hành án dân sự quy định các biện pháp thi hành án dân sự bao gồm:biện pháp tự nguyện thi hành án và biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Tự nguyện thi hành án là xuất phát từ phía các bên đương sự, nhằm thựchiện quyền, nghĩa vụ dân sự đã được bản án, quyết định ghi nhận, thể hiện ýchí và sự mong muốn của các đương sự
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùngquyền lực của nhà nước, nhằm buộc người phải thi hành án dân sự thực hiệnnhững hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án.Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, biện pháp bảo đảm thi hành
án, biện pháp cưỡng chế hành chính đều sử dụng quyền lực của nhà nước đểđảm bảo thực hiện Song chúng có những đặc điểm, đặc thù riêng có của từngbiện pháp và từng lĩnh vực áp dụng cụ thể Nếu như cưỡng chế thi hành ándân sự là biện pháp thi hành án dân sự nhằm buộc đương sự phải thực hiệnnhững hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án;Biện pháp bảo đảm là những chế tài theo quy định của pháp luật do chấp hànhviên tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng nhằmngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án; Thìcưỡng chế hành chính là biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt viphạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi
Trang 36phạm hành chính gây ra trong trường hợp không áp dụng xử phạt, trách nhiệmthi hành và bảo đảm thi hành quyết định cưỡng chế.
Trên cơ sở nghĩa vụ phải thi hành án, đối tượng áp dụng cưỡng chế để thihành nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, và các quy định củapháp luật về thi hành án; Có thể phân loại thành các nhóm biện pháp cưỡngchế cụ thể như sau:
Đối tượng áp dụng cưỡng chế đối với tài sản là tiền để thi hành nghĩa vụ trả tiền có thể phân loại thành 5 biện pháp cưỡng chế như : Biện pháp cưỡng
chế khấu trừ tiền trong tài khoản; Biện pháp cưỡng chế thu tiền từ hoạt độngkinh doanh của người phải thi hành án; Biện pháp cưỡng chế thu tiền củangười phải thi hành án đang giữ; Biện pháp cưỡng chế thu tiền của người phảithi hành án đang do người thứ ba giữ; Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhậpcủa người phải thi hành án
Đối tượng áp dụng cưỡng chế là tài sản khác (không phải là tiền) để thi hành nghĩa vụ trả tiền, có thể phân loại thành 4 biện pháp cưỡng chế như:
Biện pháp cưỡng chế thu giữ giấy tờ có giá; Biện pháp cưỡng chế đối với tàisản là quyền sở hữu trí tuệ; Biện pháp cưỡng chế đối với tài sản là quyền sửdụng đất; Biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản
Đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế là vật để thi hành nghĩa vụ trả vật theo nội dung được ghi cụ thể trong bản án, quyết định, có thể phân loại thành 04 biện pháp cưỡng chế như: Biện pháp cưỡng chế trả vật; Biện pháp
cưỡng chế trả nhà, giao nhà; Biện pháp cưỡng chế trả giấy tờ; Biện phápcưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
Đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế là nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định theo nội dung bản án, quyết định;
Có thể phân loại thành 04 biện pháp như: Biện pháp cưỡng chế thi hành
nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định; Biện pháp cưỡng chế thi hànhnghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định; Biện pháp cưỡng
Trang 37chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án,quyết định; Biện pháp cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc.Ngoài ra, Pháp luật về thi hành án dân sự còn quy định cưỡng chế thihành án dân sự trong một số trường hợp cụ thể như: Kê biên, xử lý tài sảncầm cố thế chấp; Kê biên tài sản đang do người thứ ba giữ; Kê biên vốn góp;
Kê biên phương tiện giao thông; Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói
Kết thúc chương I, cũng là chương cơ bản nhất làm nền tảng cho tất cảnhững vấn đề nghiên cứu về sau của luận văn Nghiên cứu các vấn đề đượcvạch ra tại chương I chúng ta hiểu được từng khái niệm về kê biên tài sảntrong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam Pháp luật củacác nước theo hệ thống luật Common Law(luật Anh – Mỹ) có quy định khácbiệt nhiều so với pháp luật của các quốc gia theo Civil Law Nếu nhìn trênmặt bằng chung thì có nhiều điểm Việt Nam, một đất nước theo hệ thống luậtCivil law cần phải học hỏi ở pháp luật Anh – Mỹ đó là vẫn đề quy định ngườiđược thi hành án có quyền xác minh thi hành án, được sử dụng mọi biện pháp
để xác minh, và được sự hỗ trợ từ Tòa án Đồng thời Tòa án cũng nên đượcgiao quyền ban hành lệnh yêu cầu người phải thi hành án có trách nhiệm cungcấp thông tin chính xác về điều kiện thì hánh án của mình, để đảm bảo cơquan thi hành án có chế tài áp dụng nếu những cung cấp của người phải thihành án là sai
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
Ở TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Thực trạng pháp luật về kê biên tài sản trong thi hành án dân sự
2.1.1 Thực trạng pháp luật về thẩm quyền kê biên tài sản trong thi hành
án dân sự
Như đã phân tích ở chương 1, pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam
có quy định rõ ràng và khác biệt hơn so với một số nước trên thế giới, đó làViệt Nam có cơ quan thi hành án dân sự riêng biệt, tách khỏi cơ quan tiếnhành tố tụng là Tòa án
Theo đó, khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật sẽ đượcchuyển sang cho cơ quan thi hành án dân sự tiến hành các thủ tục thực hiện việcthi hành án Khi người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án và hoàn thiệntất cả hồ sơ, giấy tờ có liên quan gửi tới cơ quan THADS thì cơ quan THADS sẽtiếp nhận và phân công CHV tiến hành thụ lý, giải quyết CHV là người có thẩmquyền cao nhất trong quá trình tiến hành kê biên tài sản
Sau khi CHV tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để xác minh điều kiệnthi hành án của người phải THA, đồng thời đối chiếu với thời hạn tự nguyệnTHA mà có căn cứ cho rằng đã hết thời hạn THA tự nguyện nhưng ngườiphải THA không tự nguyện THA thì chấp hành viên trực tiếp phụ trách hồ sơ
vụ án ra quyết định kê biên tài sản
Quyết định kê biên tài sản là một loại quyết định cưỡng chế thi hành án,chính vì vậy người ký quyết định là CHV cơ quan THADS quy định tại khoản
5 Điêu 20 Luật THADS sửa đổi Trong trường hợp người trực tiếp tổ chứcTHA là thủ trường cơ quan THA thì ký quyết định kê biên, xử lý tài sản phảinhân danh CHV chứ không phải Thủ trưởng lấy danh nghĩa mình để ký quyếtđịnh
Trang 39Điều 20 quy định nhiệm vụ quyền hạn của CHV như sau:
“8 Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án
và các khoản phải nộp khác.”
Như vậy đối chiếu quy định trên, chỉ có CHV mới được quyền ký vàoquyết định cưỡng chế THA Vai trò của CHV là đặc biệt quan trọng trong quátrình thi hành án dân sự, cưỡng chế kê biên tài sản thi hành án
2.1.2 Thực trạng pháp luật về trình tự, thủ tục kê biên tài sản THADS
a Xác minh điều kiện thi hành án.
Sau khi được phân công phụ trách thụ lý việc thi hành án thì CHV phải
sử dụng mọi nghiệp vụ và trong phạm vi pháp luật cho phép để tiến hành xácminh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án Việc thi hành án chỉđạt được kết quả khi mà người phải thi hành án có điều kiện để thi hành bản
án, hay nói đúng hơn là có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyếtđịnh của Tòa án đã tuyên Rất nhiều trường hợp quyết định thi hành án đãđược ban hành, nhưng sau đó trong quá trình thực hiện việc thi hành án mớiphát sinh ra việc người phải thi hành án không còn bất cứ tài sản nào để thihành án, do vậy CHV lại phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án
Đây không phải là trường hợp ít xảy ra trên thực tế, đặc biệt là những
vụ án vay tiền bằng giấy tờ viết tay có ghi nhận việc thế chấp tài sản để làmtin Sau khi người vay tiền sử dụng khoản tiền vay đó để kinh doanh, vì một lí
do nào đó mà trong quá trình kinh doanh bị thua lỗ, không có khả năng để trả
nợ Sau khi người cho vay khởi kiện ra tòa án, Tòa án tuyên buộc bên vay cónghĩa vụ trả tiền cho bên nguyên đơn Tuy nhiên khi xác minh điều kiện thihành án thì bên vay tiền đã không còn tài sản để thi hành án, nhà và đất đượcghi nhận trong giấy tờ vay mượn kia bên vay tiền cũng đã kịp chuyển nhượngtrước khi Tòa án giải quyết vụ việc Do vậy việc thi hành án buộc phải tạmđình chỉ vì người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án
b Ra quyết định kê biên tài sản thi hành án
Trang 40Sau khi CHV tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phảithi hành án, xác minh về thời hạn tự nguyện thi hành án đã hết thì CHV raquyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án.
Đối với bản án, quyết định đã tuyên kê biên rồi thì CHV xử lý tài sản đótheo quy định tại Điều 98 về định giá tài sản kê biên và những điều khoản liênquan như Điều 99, Điều 100, Điêu 101…mà không cần CHV phải ra thêmmột quyết định kê biên tài sản nữa Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 127 về
xử lý tài sản mà bản án, quyết định của Tòa án tuyên kê biên để đảm bảo thihành án của Luật THADS được sửa đổi bổ sung năm 2014
Trước khi kê biên tài sản, CHV phải có nghĩa vụ gửi quyết định kê biêntài sản đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày ra quyết định.(Điều 38 Luật THADS sửa đổi bổ sung 2014)
Căn cứ quy định tại Điều 38 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì ngoài việc gửi quyết định cho VKS cùng cấp, CHV phải gửi
cho Ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn nơi có tài sản kê biên hoặc cơ quan,
tổ chức có liên quan đến việc thực hiện quyết định kê biên
Tiếp đến, CHV phải gửi thông báo quyết định kê biên tài sản cho ngườiphải thi hành án biết về việc tài sản của họ sẽ được kê biên để thi hành án.Gửi cho người được thi hành án và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan đến quyết định kê biên biết (Quy định tại Điều 39 Luật Thi hành án dân
sự sửa đổi năm 2014).
c Xây dựng kế hoạch kê biên tài sản
Cũng như các biện pháp cưỡng chế khác, trước khi kê biên tài sản củangười phải thi hành án thì CHV được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành án vụviệc phải lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án theo mẫu Luật định, trừ trườnghợp phải cưỡng chế ngay theo Điều 72 Luật THADS sửa đổi năm 2014
Điều luật hiện hành đã nới lỏng việc quy định về vấn đề lập kế hoạchthi hành án trong trường hợp cần thiết Trước đây quy định tại Luật thi hành