BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI Chủ biên TS Đỗ Thị Thanh Nga TẬP BÀI GIẢNG TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH Hà Nội, 2018 Tham gia biên soạn TS Đỗ Thị Thanh Nga (Chủ biên) TS Vũ Ngọc Hoa TS Vũ Thị Sao Chi T.LỜI NÓI ĐẦUTiếng Việt thực hành là môn khoa học ngôn ngữ ứng dụng với đối tượngnghiên cứu là kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Chương trình Tiếng Việt thực hànhtrang bị cho sinh viên kiến thức về tiếng Việt ứng dụng làm phương tiện nhậnthức, tư duy và giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày; là công cụ để sinh viên họctập, nghiên cứu khoa học, tích lũy kiến thức chuyên môn; đồng thời giúp sinhviên biết tạo lập và tiếp nhận văn bản.Tiếng Việt thực hành ở bậc đại học của Trường Đại học Nội vụ Hà Nộihướng tới mục tiêu:Cung cấp cho sinh viên những hiểu biết khái quát về văn bản, tạo lập vănbản, thuật lại nội dung văn bản, chữ viết trên văn bản, yêu cầu dùng từ, đặt câutrong hoạt động giao tiếp và ngôn ngữ dùng trong văn bản hành chính. Từ đó,phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt của sinh viên trong tiếp nhận và tạo lậpvăn bản, đặc biệt là văn bản hành chính, văn bản khoa học;Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt cho sinh viên; tạo thói quen về sử dụngtiếng Việt chuẩn xác trong giao tiếp;Tạo sự tương tác, hỗ trợ giữa học phần Tiếng Việt thực hành với học phầnVăn bản quản lí nhà nước và kỹ thuật soạn thảo văn bản, học phần Kỹ nănggiao tiếp hành chính...Nội dung Tập bài giảng Tiếng Việt thực hành được trình bày theo hướngbắt đầu giới thiệu những vấn đề khái quát nhất về văn bản đến những loại vănbản cụ thể; từ những kỹ năng chung nhất đến những thao tác cụ thể; từ nhữngyêu cầu chung về dùng từ, đặt câu đến những yêu cầu cụ thể về sử dụng ngônngữ trong một loại văn bản cụ thể. Cụ thể, nội dung tập bài giảng bao gồm: (1)Tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành, (2) Khái quát về văn bản, (3) Tiếp nhận vănbản, (4) Tạo lập văn bản, (5) Một số vấn đề chung về chính tả, dùng từ và đặtcâu, (6) Ngôn ngữ văn bản hành chính.Chúng tôi mong nhận được ý kiến góp ý của bạn đọc để Tập bài giảngđược hoàn thiện hơn.Nhóm tác giả
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH
Khái quát về tiếng Việt
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Theo số liệu thống kê, nước ta có 54 dân tộc, trong đó có dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh) Mỗi dân tộc ấy có ngôn ngữ riêng
Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt và là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam
1.1.2 Nguồn gốc tiếng Việt và mối quan hệ họ hàng của tiếng Việt
Thành tựu nghiên cứu khoa học nhiều năm gần đây cho rằng tiếng Việt (cùng với dân tộc Việt) có nguồn gốc bản địa Tiếng Việt xuất hiện từ rất sớm trên lưu vực sông Hồng và sông Mã, trong một xã hội có nền văn minh nông nghiệp
Tiếng Việt thuộc họ Nam Á Đó là một họ ngôn ngữ có từ rất xưa, trên một vùng rộng lớn nằm ở Đông Nam châu Á Vùng này, thời cổ vốn là một trung tâm văn hóa trên thế giới
Tiếng Việt có quan hệ họ hàng gần gũi với tiếng Mường, có quan hệ họ hàng xa hơn với các ngôn ngữ thuộc nhánh tiếng Môn-Khơme ở vùng núi phía Bắc, ở dọc Trường Sơn, ở miền Tây Nguyên, ở trên đất Cam-pu-chia, Miến Điện
Ví dụ: từ tay trong tiếng Việt thì từ tương đương trong tiếng Mường là thay, trong tiếng Khơ-mú, tiếng Ba-na, tiếng Mơ-nông, tiếng Stiêng là ti, trong tiếng Khơ-me là đay, trong tiếng Môn là tai
Từ cội nguồn ấy, Tiếng Việt đã có quá trình phát triển đầy sức sống, gắn bó với xã hội người Việt, với sự trưởng thành mạnh mẽ của tinh thần dân tộc tự cường và tự chủ
1.1.3 Sơ lược về quá trình phát triển của tiếng Việt
1.1.3.1 Tiếng Việt trong thời kỳ phong kiến
Trong một ngàn năm Bắc thuộc và dưới các triều đại phong kiến Việt Nam cho đến trước thời kỳ thuộc Pháp, ngôn ngữ giữ vai trò chính thống ở Việt
Nam là tiếng Hán, tiếng Việt chỉ được dùng làm phương tiện giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày Song cha ông ta đã đấu tranh để bảo tồn và từng bước phát triển tiếng Việt, giành lại những vị trí xã hội bị tiếng Hán chiếm giữ Để phát triển tiếng Việt, cha ông ta đã làm hai việc:
-Thứ nhất: Làm phong phú thêm vốn từ bằng cách vay mượn nhiều từ ngữ Hán cổ và Việt hóa chúng để tạo thành từ Hán-Việt;
-Thứ hai: Tạo ra chữ viết cho tiếng Việt, đó là chữ Nôm
Nhìn chung, tỷ lệ các yếu tố Hán trong tiếng Việt khá lớn (khoảng trên dưới 70%), nhưng về cơ bản chúng đã được Việt hóa Việt hoá là phương thức tự bảo tồn và phát triển của tiếng Việt trước sự chèn ép của các ngôn ngữ ngoại lai Theo hướng đó, tiếng Việt vừa giữ nguyên được bản sắc dân tộc, vừa ngày càng được hoàn thiện, tiến nhanh theo kịp trình độ các ngôn ngữ đã phát triển hiện nay trên thế giới
Trong giai đoạn này, có hai ngôn ngữ là tiếng Việt và văn ngôn Hán; có ba văn tự là chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ được sử dụng
1.1.3.2 Tiếng Việt trong thời kỳ thuộc Pháp
Trong thời kì thuộc Pháp, ở nước ta tồn tại ba ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Việt và văn ngôn Hán; có bốn loại văn tự là: chữ Pháp, chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ
Thời kì này, sự tranh chấp giữa ba ngôn ngữ diễn ra theo chiều hướng tiếng Pháp vươn lên chiếm vị trí số một, vai trò của văn ngôn Hán ngày càng giảm, vị thế của tiếng Việt ngày càng được đề cao Đây là thời kì thay thế dần chữ Hán và chữ Nôm bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ
Chính sách của nhà cầm quyền Pháp là đồng hoá về mặt ngôn ngữ và văn hoá Chúng muốn người Việt chấp nhận sử dụng tiếng Pháp, chữ Pháp và chấp nhận văn hoá, chính trị Pháp Để truyền bá tiếng Pháp và văn hoá Pháp nhằm củng cố nền thống trị của thực dân Pháp, nhà cầm quyền Pháp buộc phải dùng tiếng Việt làm phương tiện chuyển ngữ Vì thế, song song với việc dạy tiếng Pháp cho người Việt, thì việc dạy tiếng Việt cho viên chức hành chính Pháp được đặt ra Do chữ quốc ngữ gần với chữ Pháp nên người Pháp chọn chữ quốc ngữ làm phương tiện dạy và học tiếng Việt Điều này làm cho chữ quốc ngữ trở thành một phương tiện giáo dục chung
Dù người Pháp chủ trương sử dụng tiếng Việt và chữ quốc ngữ là chuyển ngữ nhưng với thái độ dè dặt Tiếng Việt được dạy chủ yếu ở lớp đồng ấu (lớp một); từ lớp sơ đẳng (lớp hai và lớp ba), học sinh học song ngữ Pháp-Việt; từ năm thứ thứ tư đến năm thứ sáu, tiếng Pháp giữ vị trí áp đảo; từ cấp trung học, tiếng Pháp chiếm vị trí độc tôn
Bối cảnh xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp đã tạo điều kiện cho sự phát triển chữ quốc ngữ Văn xuôi tiếng Việt đã hình thành và phát triển Báo chí, sách vở tiếng Việt ra đời ngày càng nhiều Nhiều thuật ngữ, từ ngữ mới đã được sử dụng, tuy chủ yếu vẫn là từ Hán Việt như: lãng mạn, dân chủ, bán kính, ẩn số…hoặc từ gốc Pháp như: Săm, axit, cao su, cà phê…
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt để thấy được sự giàu đẹp phong phú của tiếng Việt, làm cho nó ngày càng trở nên hữu ích hơn trong giao tiếp xã hội là trách nhiệm của toàn xã hội và được đặt ra thường xuyên Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Tiếng nói là tài sản vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp" Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, chúng ta cần:
- Có tình cảm yêu quý và thái độ trân trọng đối với tiếng nói và chữ viết của dân tộc, phải tìm tòi và phát hiện ra sự giàu đẹp, cùng bản sắc, tinh hoa tiếng nói của dân tộc ở tất cả các phương diện của nó: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách
- Phải rèn luyện một tư duy thường trực và thói quen trong sử dụng tiếng Việt sao cho đạt tới sự đúng đắn, chính xác, sáng sủa, mạch lạc nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao
- Sử dụng tiếng Việt trong sáng là sử dụng theo các chuẩn mực của tiếng Việt Đó là chuẩn mực về phát âm và chữ viết, chuẩn mực về từ ngữ, về ngữ pháp và chuẩn mực về phong cách
- Không phủ nhận và thủ tiêu những sự sáng tạo trong sử dụng, những cách dùng độc đáo, những độc đáo mới mẻ và sự uyển chuyển, linh hoạt trong cách sử dụng Tuy nhiên, những đóng góp và sáng tạo đó phải dựa trên những quy luật, những sự uyển chuyển, linh hoạt đó phải được thực hiện trong những điều kiện nhất định để giao tiếp xã hội không bị rối loạn
- Luôn luôn tiếp nhận những yếu tố ngôn ngữ có giá trị tích cực từ các ngôn ngữ khác đảm bảo các yêu cầu về tính truyền thống và hiện đại để phát triển tiếng Việt hiện đại
KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN 2.1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Trong bất kì xã hội nào cũng luôn luôn tồn tại nhu cầu giao tiếp, tức là nhu cầu trao đổi, tiếp xúc với nhau Hoạt động giao tiếp đã kết nối suy nghĩ, cảm xúc, tình cảm, hành động giữa các cá thể độc lập; hình thành và duy trì các mối quan hệ đơn giản hay phức tạp, hẹp hay rộng trong một cộng đồng, một xã hội, Trong xã hội con người, hoạt động giao tiếp diễn ra thường xuyên, liên tục và để lại dấu vết của nó trên tất cả mọi mặt của đời sống Điểm khác biệt căn bản của giao tiếp giữa con người với con người và giao tiếp giữa các loài vật là: Trong quá trình trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, con người luôn ý thức được phương tiện sử dụng, mục đích, nội dung cần biểu đạt
Hoạt động giao tiếp của con người có thể được thực hiện bằng nhiều phương tiện khác nhau nhưng phương tiện chủ yếu và quan trọng nhất là ngôn ngữ Nhờ có phương tiện ngôn ngữ mà hoạt động giao tiếp của con người được thực hiện thuận lợi, được phát triển và có sự văn minh, vượt trội hơn hẳn so với hoạt động giao tiếp của các loài khác
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là việc con người sử dụng ngôn ngữ để trao đổi, tiếp xúc với nhau, cụ thể là việc người ta dùng ngôn ngữ để diễn đạt, bộc lộ ý nghĩ, nhận thức, kinh nghiệm, thái độ, tình cảm của mình cho người khác hiểu, nhằm tác động đến tư tưởng, tình cảm, nhận thức, hành vi của người đó
2.1.1 Điều kiện của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin hai chiều Giao tiếp bằng ngôn ngữ là việc trao đổi thông tin giữa các nhân vật được thực hiện bằng ngôn ngữ, tức thông tin được truyền đi dưới dạng tín hiệu là ngôn ngữ Do vậy, để hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể diễn ra cần phải có các điều kiện sau đây:
1) Có người phát (Sp1) và người nhận (Sp2) Hai vị trí này cũng có thể chuyển đổi cho nhau trong quá trình giao tiếp Người phát và người nhận có thể là cá thể hoặc tập thể
2) Có thông tin cần trao đổi (thông điệp)
3) Thông tin trao đổi/ thông điệp được mã hóa đưới dạng tín hiệu đặc biệt là ngôn ngữ Sản phẩm ngôn ngữ mã hóa thông điệp được người ta gọi là diễn ngôn
4) Ngôn ngữ mã hóa thông điệp phải là ngôn ngữ chung của các nhân vật tham gia giao tiếp, tức là các nhân vật tham gia giao tiếp đều sử dụng và hiểu được ngôn ngữ này
5) Các điều kiện khác như hoàn cảnh giao tiếp (thời gian, không gian, sự kiện), mục đích giao tiếp
Từ các điều kiện trên, có thẻ mô hình hóa hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ:
2.1.2 Các hình thức giao tiếp ngôn ngữ
2.1.2.1 Theo cách tiếp cận đối tượng giao tiếp
Theo tiêu chí này, có giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp
- Giao tiếp trực tiếp là hình thức giao tiếp thông dụng nhất Các nhân vật giao tiếp gặp gỡ nhau và dùng công cụ ngôn ngữ, kết hợp với phi ngôn ngữ để trao đổi với nhau những thông tin nhất định Cách giao tiếp này thường cho hiệu quả tốt và nhanh nhất
Thông điệp Sp1 (Sp2) -Diễn -ngôn - Sp2(Sp1)
Tín hiệu/ ngôn ngữ Ngữ cảnh: không gian, thời gian, sự kiện
- Giao tiếp gián tiếp được thực hiện qua phương tiện trung gian như văn bản, thư từ, sách báo, điện thoại, vô tuyến, truyền hình, phương tiện kĩ thuật nghe nhìn hoặc môi giới qua một người khác
2.1.2.2 Theo hoàn cảnh giao tiếp
Theo hoàn cảnh giao tiếp, có thể phân thành giao tiếp mang tính nghi thức và giao tiếp phi chính thức
- Giao tiếp mang tính nghi thức cần tuân theo những nghi lễ, quy tắc do tập thể, cộng đồng hay xã hội đặt ra