1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập lớn học PHẦN TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH

17 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 32,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số các từ phức này, ta lại có thể chia ra: ❖ từ ghép: gồm 2 tiếng ghép lại và có quan hệ về mặt ngữ nghĩa Ví dụ: giáo viên, bác sĩ, trang phục, ăn mặc, tươi tốt, vô tuyến truyền hì

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

KHOA: VIỆT NAM HỌC

BÀI TẬP LỚN HỌC PHÀN: TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH

• • •

Giảng viên phụ trách : Lê Thị Thanh Xuân

Huế, tháng12 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC PHẦN CÂU HỎI

Câu hỏi 1 Trang

3

Câu hỏi 2 Trang

3

PHẦN BÀI LÀM

Câu 1 Trang 4 Câu 2 Trang

13

Tài liệu tham khảo

Câu 1 Trang

15

Câu 2 Trang

15

Trang 3

PHẦN CÂU HỎI Câu hỏi 1 Anh/Chị hãy trình bày hiểu biết về từ và từ vựng tiếng Việt.

Câu hỏi 2 Anh/Chị hãy viết một đoạn văn diễn dịch (từ 15 - 20 dòng) với câu chủ đề “Kỹ

năng mềm là một trong những yếu tố quan trọng giúp sinh viên thành công trong học tập.”

Trang 4

PHẦN BÀI LÀM

Câu 1.

* TỪ VÀ TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT

1 Từ tiếng Việt

Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, là vật liệu chủ yếu để tạo câu, để xây dựng lời nói

Từ là một tín hiệu ngôn ngữ bao gồm hai mặt: mặt hình thức (âm thanh, chữ viết) và mặt nội dung (nghĩa, ý nghĩa) Từ có tính độc lập về mặt ngữ pháp, nghĩa là từ có thể hoạt động độc lập trong câu Từ được sử dụng một cách nguyên vẹn, hoàn chỉnh trong mọi lời nói khác nhau Từ là một đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ

Ví dụ, từ ‘’mặt trời’’ được sử dụng nguyên vẹn, hoàn chỉnh, không thay đổi trong những cấu tạo câu khác nhau:

- Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ

Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn

(Chế Lan Viên)

-Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng

(Nguyễn Khoa Điềm)

-mặt trời lên từ đâu không nguồn cội.

Chỉ âm thầm giọt nắng hắt bâng quơ.

Chếch mái lầu cao mấy tầm che khuất.

Từ phố thênh thang bận cũ bây giờ.

(Trần Võ Thành Văn)

a) Xét về mặt cấu tạo, tiếng Việt có từ đơn và từ phức.

- Từ đơn là từ chỉ do một tiếng có nghĩa tạo thành

Trang 5

Ví dụ: bếp, cây, hoa, quả

- Từ phức gồm 2 hoặc nhiều hơn 2 từ tạo thành

Ví dụ: giáo viên, bác sĩ, trang phục, ăn mặc, long lanh, nhí nhảnh, lơ mơ, tươi tốt, vô tuyến truyền hình

Trong số các từ phức này, ta lại có thể chia ra:

❖ từ ghép: gồm 2 tiếng ghép lại và có quan hệ về mặt ngữ nghĩa

Ví dụ: giáo viên, bác sĩ, trang phục, ăn mặc, tươi tốt, vô tuyến truyền hình

Từ ghép được chia làm 2 loại đó là từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập

+Từ ghép chính phụ: trong từ ghép được chia làm từ chính và từ phụ, từ phụ có nhiệm vụ giúp

bổ sung nghĩa cho từ chính Thông thường từ chính sẽ được trước còn từ phụ đi theo sau bổ nghĩa cho từ chính, nghĩa của từ ghép chính phụ thường hẹp

Ví dụ:

- Xe máy: Xe là tiếng chính còn “đạp” là tiếng phụ

- Bút máy: Bút là tiếng chính còn “máy” là tiếng phụ

- Vàng hoe: vàng là tiếng chính còn hoe là tiếng phụ

- Ông ngoại: Ông là tiếng chính còn ngoại là tiếng phụ

+Từ ghép đẳng lập sẽ không có phân biệt từ nào chính từ nào phụ Thông thường nghĩa của từ ghép đẳng lập rộng hơn so với các từ đơn lẻ

Ví dụ:

- Quần áo: hai tiếng đều bình đẳng nhau về nghĩa

Công dụng:

- Sử dụng các từ ghép giúp cho người viết, người nói diễn đạt ý nghĩa các từ ngữ cần được sử dụng trong câu văn và lời nói của mình

-Giúp cho người đọc, người nghe hiểu rõ ý nghĩa mà người viết, người đọc diễn đạt một cách chính xác mà không cần suy đoán

Trang 6

❖ từ láy: được tạo thành bởi các tiếng giồng nhau về vần, thường từ trước là tiếng gốc và từ sau sẽ láy âm hoặc vần của tiếng gốc Các tiếng đó có thể là một tiếng hoặc cả hai tiếng đều không có nghĩa nhưng khi ghép lại tạo thành một từ có nghĩa

Ví dụ: long lanh, nhí nhảnh, lơ mơ: từ phức láy, gọi tắt là từ láy.

Từ láy được phân loại thành 2 dạng dựa trên cấu trúc trùng lặp và các bộ phận được lặp:

- Từ láy bộ phận: các tiếng sẽ có sự giống nhau về vần, phụ âm đầu

+ Từ láy vần: Các vần được láy với nhau

Ví dụ:

• Tím lịm: láy vần “im”

• Liêu xiêu: láy vần “iêu”

+ Láy âm tiết đầu: âm tiết đầu tiên của hai từ được láy với nhau

Ví dụ:

• Long lanh: láy âm đầu là “l”

• Thoang thoảng: láy âm đầu là “th”

- Từ láy toàn bộ: tiếng sẽ được lặp lại toàn bộ, tuy nhiên cũng có sự thay đổi thanh điệu, phụ

âm cuối để mang lại sự hài hòa âm thanh khi nói hoặc viết

Ví dụ:

• Trăng trắng, long lỏng, đu đủ, mơn mởn, đo đỏ, hồng hồng : láy toàn bộ có thay đổi thanh sắc cuối để hài hòa hơn

• Xa xa, xanh xanh, hồng hồng, rưng rưng.: láy toàn bộ để tạo cảm giác mạnh hơn

Trang 7

Công dụng:

Từ láy được sử dụng để tạo âm điệu và sắc thái biểu cảm cho từ ngữ, ngoài ra còn biểu

đạt tâm trạng, cảm xúc của người nói, người viết Đặc biệt trong thơ ca và văn chương, từ láy được sử dụng như một biện pháp nghệ thuật để đạt được ý đồ của tác giả một cách chính xác nhất

Ví dụ:

• Cô bé có gương mặt bầu bĩnh đáng yêu: từ láy “bầu bĩnh” dùng để miêu tả khuôn mặt cô gái thể hiện sự yêu thích

• Bầu trời trong xanh với những đám mây lững lờ trôi: từ láy “lững lờ” thể hiện khung cảnh thanh bình yên ả

b) Xét về mặt số lượng nghĩa, từ được chia thành từ một nghĩa và từ đa nghĩa.

❖ Từ một nghĩa

Ví dụ:

bút: là dụng cụ dùng mực, than, sáp ghi trên bề mặt, thường là bề mặt giấy Công dụng của bút là để viết hoặc vẽ Đây là nghĩa duy nhất của từ “bút” Vậy “bút” là từ một nghĩa

- sách, vở, tốt, đẹp, xấu, ngày, tháng, năm: từ một nghĩa.

❖ Từ nhiều nghĩa: Từ nhiều nghĩa hay từ đa nghĩa là những từ có một số nghĩa biểu thị những đặc điểm, thuộc tính khác nhau của một đối tượng Trong tiếng Việt, từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Và các nghĩa của từ bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau Hay nói một cách khác, một từ nhưng có thể gọi tên nhiều sự vật, hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy được gọi là từ nhiều nghĩa Thông thường, từ nhiều nghĩa sẽ có một nghĩa đen và một hay nhiều nghĩa bóng (nghĩa chuyển)

❖ Nghĩa đen: là nghĩa chính, nghĩa gốc của từ Nghĩa đen là nghĩa trực tiếp, gần gũi,

quen thuộc, dễ hiểu và thông thường nó không hoặc ít phụ thuộc vào ngữ cảnh

❖ Nghĩa bóng: là nghĩa có sau (nghĩa chuyển, nghĩa ẩn dụ ), được suy ra từ nghĩa đen.

Muốn hiểu nghĩa chính xác của một từ được dùng, phải tìm nghĩa trong ngữ cảnh đặt ra

Ví dụ: cổ, ăn, đầu, miệng, mắt, chân, tay: từ nhiều nghĩa.

Trang 8

Từ đầu có một số nghĩa như sau:

(1) Bộ phận chứa não bộ ở trên cùng

Ví dụ: đầu người, đầu cá,

(2) Bộ phận ở trên cùng, đầu tiên

Ví dụ: đầu bảng, đầu danh sách, đầu sổ,

(3) Bộ phận quan trọng nhất

Ví dụ: đầu đàn, đầu ngành, đầu đảng,

Trong những nghĩa này, nghĩa (1) được xem là nghĩa đen (nghĩa chính) Đó là nghĩa xuất hiện đầu tiên của từ Những nghĩa (2), (3) còn lại là những nghĩa bóng (nghĩa chuyển) Đó là những nghĩa xuất hiện sau nghĩa chính.

Ngoài ra, cũng có một số từ mang tính chất trung gian giữa nghĩa đen và nghĩa bóng, đang chuyển dần từ nghĩa đen sang nghĩa bóng

Chúng ta cũng có thể phân loại từ nhiều nghĩa theo nghĩa thường trực và nghĩa không thường trực.

Dựa vào nghĩa của từ đã thực sự mang tính ổn định, thống nhất chưa hay chỉ đúng trong một số tình huống nào đó để có thể phân biệt được nghĩa Nói cho dễ hiểu thì một nghĩa được coi là nghĩa thường trực, nếu nó đã đi vào cơ cấu chung ổn định Nghĩa không thường trực nghĩa là nghĩa rất hay trong cách nói bóng gió của ngôn ngữ giao tiếp, truyện ngụ ngôn hoặc trong cách nói ẩn dụ, hoán dụ

Ví dụ như trong câu: “Áo trắng em đến trường, cùng đàn chim ca rộn ràng Từng làn gió vờn tóc em, kỷ niệm buồn vui ngập tràn.”

Trong câu trên từ “áo trắng” đang nói đến nữ sinh Và trong thực tế nó chỉ mang nghĩa này trong một số trường hợp nhất định Từ đó, ta có thể nói từ “áo trắng” mang nghĩa không thường trực

b) Xét về mặt quan hệ âm và nghĩa, từ được chia thành: từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa

Trang 9

• Từ đồng âm: là những từ phát âm giống nhau hay cấu tạo âm thanh giống nhau, nhưng

nghĩa, từ loại hoàn toàn khác nhau (gọi ngắn gọn là đồng âm khác nghĩa hay đồng âm dị

nghĩa).

Các loại đồng âm:

o Đồng âm từ vựng ghi tên

Tất cả các từ đều thuộc cùng một từ loại

Ví dụ:

Con đường này thật rộng!

Chúng ta nên pha thêm đường.

o Đồng âm từ vựng - ngữ pháp

Các từ trong nhóm đồng âm với nhau chỉ khác nhau về từ loại

Ví dụ:

Chú ấy câu được nhiều cá quá!

Vài câu nói ấy thì được cái gì!

o Đồng âm từ với tiếng

Ở đây, các đơn vị tham gia vào nhóm đồng âm khác nhau về cấp độ, và kích thước ngữ âm của chúng đều không vượt quá một tiếng

Ví dụ:

Ông ấy cười khanh khách.

Nhà ông ấy đang có khách.

Em bị cốc đầu.

Cái cốc bị vỡ.

o Đồng âm với tiếng nước ngoài qua phiên dịch

Đây là các từ đồng âm với nhau qua phiên dịch như:

Cầu thủ sút bóng.

Trang 10

• Sa sút phong độ

❖ Từ đồng nghĩa: là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau Có thể chia từ đồng nghĩa thành 2 loại

+Từ đồng nghĩa hoàn toàn (đồng nghĩa tuyệt đối): Là những từ có nghĩa hoàn toàn giống nhau, được dùng như nhau và có thể thay đổi cho nhau trong lời nói

Ví dụ: mẹ - má

quả - trái +Từ đồng nghĩa không hoàn toàn ( đồng nghĩa tương đối, đồng nghĩa khác sắc thái): Là các từ tuy cùng nghĩa nhưng vẫn khác nhau phần nào sắc thái biểu cảm ( biểu thị cảm xúc, thái độ) hoặc cách thức hành động Khi dùng những từ ngữ này, ta phải cân nhắc lựa chọn cho phù hợp

Ví dụ: chết - hi sinh Hy sinh có nghĩa là chết nhưng nhằm mục tiêu cao cả hoặc một lý tưởng tốt đẹp Vì vậy ta sẽ nói anh chiến sĩ hi sinh trong trận đấu chứ không nói anh chiến sĩ chết trong trận đấu Ngược lại, ta nói anh ấy chết vì tai nạn giao thông chứ không nói anh ấy hi sinh vì tai nạn giao thông Vì tai nạn là một sự cố xảy ra ngoài ý muốn, không phải một mục tiêu hay lý tưởng cao cả

Phân biệt từ nhiều nghĩa và từ đồng âm

- Từ đồng âm là hiện tượng chuyển nghĩa của từ làm cho các nghĩa của từ hoàn toàn khác nhau

Ví dụ:

Tôi có một cái cày (cày: danh từ)

Bố tôi đang cày ngoài ruộng ( cày: động từ)

Từ nhiều nghĩa là từ chuyển nghĩa của từ loại giữa nghĩa gốc và nghĩa chuyển luôn có mối liên

hệ chặt chẽ với nhau

- Ví dụ:

Ông em bị đau chân (chân: bộ phận trên cơ thể con người hoặc động vật)

Dưới chân bàn có hai chiếc hộp nhỏ xinh (chân: chỉ những vật tiếp xúc gần nhất với mặt đất )

Trang 11

- Từ nhiều nghĩa trong nghĩa chuyển có thể thay thế bằng từ khác

Ví dụ: Hãy nghĩ cho chín rồi mới nói

Hãy nghĩ cho kỹ rồi mới nói

(Có thể thay thế được bằng các từ khác bởi trong từ nhiều nghĩa chỉ có một nghĩa gốc và các từ còn lại đều là nghĩa chuyển.)

- Từ đồng âm không thể thay thế trong nghĩa chuyển

(Không thể thay thế bởi các từ khác vì trong từ đồng âm các từ đều là nghĩa gốc.)

❖ Từ trái nghĩa: là những từ khác nhau về ngữ âm và đối lập nhau về ý nghĩa Một từ nhiều nghĩa có thể thuộc nhiều cặp từ trái nghĩa khác nhau

Ví dụ: cứng mềm; cao thấp; tốt xấu; xinh xấu; may xui; thắng thua; hiền -dữ; tươi - héo; công bằng - bất công;

Từ trái nghĩa được chia làm 2 loại:

+ Từ trái nghĩa hoàn toàn: Là những từ luôn mang nghĩa trái ngược nhau trong mọi trường hợp Chỉ cần nhắc tới từ này là người ta liền nghĩ ngay tới từ mang nghĩa đối lập với nó

Ví dụ: dài - ngắn; cao - thấp; xinh đẹp - xấu xí; to - nhỏ; sớm - muộn; yêu - ghét; may mắn - xui xẻo; nhanh - chậm;

+ Từ trái nghĩa không hoàn toàn: Đối với các cặp từ trái nghĩa không hoàn toàn, khi nhắc tới từ này thì người ta không nghĩ ngay tới từ kia

Ví dụ: nhỏ - khổng lồ; thấp - cao lêu nghêu; cao - lùn tịt;

d) Xét về mặt nguồn gốc, từ được chia thành từ thuần Việt và từ mượn.

❖ Từ thuần Việt là những từ do người Việt sáng tạo, và như thế, là những từ có nguồn gốc nội sinh

Ví dụ: cha, mẹ, mưa, nắng, vợ, chồng

❖ Từ mượn là từ vay mượn từ tiếng nước ngoài để làm phong phú thêm cho vốn từ vựng của ngôn ngữ nhận

Ví dụ: mít tinh, vô lăng, không phận, ban công, cà vạt, băng hà, internet, rock: từ

mượn.

Những yếu tố Hán được mượn dùng trong tiếng Việt gọi là từ Hán Việt

Trang 12

e) Xét về mặt phạm vi sử dụng, từ được chia thành từ toàn dân và từ địa phương.

Ví dụ:

- đầu, trâu, bò, bố, mẹ, dứa, lợn, hoa, nhà, ao, hồ, sông, suối, ra, vào, đi, đứng: từ toàn dân

-thầy, u, tía, má, thầy, u, heo, hí, chi, mô, tê, răng, rứa: từ địa phương

g) Xét về mặt phong cách, từ được chia thành từ đơn phong cách và từ đa phong cách.

Ví dụ:

-từ trường, hoán dụ, ẩn dụ, số nguyên tố: từ đơn phong cách.

-tốt, cây, giường, tủ, suy nghĩ, hành động: từ đa phong cách.

2 Từ vựng tiếng Việt

Từ và các đơn vị tương đương với từ lập thành kho từ vựng của một ngôn ngữ Các đơn

vị tương đương với từ gồm: thành ngữ và quán ngữ.

-Thành ngữ là những tập hợp từ mang tính cố định, tạo thành một chỉnh thể, có ý nghĩa

chung khác với nghĩa của từng yếu tố tạo thành và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu

Ví dụ:

+Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không!

(Trần Tế Xương)

-Quán ngữ là những tập hợp từ được quen dùng trong nói, viết hằng ngày nên phần nào

đó đã mang tính cố định So với thành ngữ, tính cố định của quán ngữ không cao và nghĩa của quán ngữ có thể coi là nghĩa của tổng các yếu tố hợp thành quán ngữ đó

Ví dụ:

+ Chúc mọi người một năm mới bình an.

+ Xin thân ái cháo tạm biệt các bạn.

Trang 13

+ Xin cám ơn quý vị đã chú ý lắng nghe

Bên cạnh những hiểu biết về từ, hiểu rỗ về thành ngữ và quán ngữ cũng giúp chúng ta có điều kiện rèn luyện kĩ năng nói, viết tốt những đơn vị đương đương với từ trong hoạt động giao tiếp

Câu 2:

Trong môi trường học thuật bậc cao, để thành công, những kiến thức chuyên môn trong giáo trình hay nghiên cứu thôi là chưa đủ Ngoài kiến thức chuyên ngành ra, “kỹ năng mềm là một trong những yếu tố quan trọng giúp sinh viên thành công trong học tập.” Vậy, kỹ năng mềm là gì? Kỹ năng mềm hay còn gọi là kỹ năng thực hành xã hội, là một kĩ năng liên quan đến trí tuệ cảm xúc dùng đến các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống của con người Kỹ năng mềm khác kỹ năng cứng ở chỗ, kỹ năng cứng là tập hợp các kỹ năng và khả năng để một người

có thể hoàn thành một loại tác vụ nghề nghiệp chuyên môn và thường được dạy tại các trường học, còn kỹ năng mềm hình thành do tự học hỏi, trải nghiệm, tự nhìn lại và rút ra bài học Kỹ năng mềm rất quan trọng đối với mọi người, mọi ngành, mọi nghề; đối với sinh viên, nó là công cụ giúp sinh viên học tập thành công bởi nó bao gồm hai nhóm kĩ năng chính quan trọng: nhóm kỹ năng hướng nội và nhóm kĩ năng hướng ngoại Ở nhóm đầu tiên bao gồm khả năng lắng nghe, tự học, đặt mục tiêu, tổ chức, quản trị bản thân và lập kế hoạch Khi có những kĩ năng mềm ở nhóm này, sinh viên sẽ tránh được những vấn đề quá tải vì khủng hoảng quản lí thời gian và mục tiêu Thực tế cho thấy, môi trường và phong cách học tập ở đại học thường khác xa so với môi trường trung học, nếu sinh viên không biết quản lý thời gian, không biết sử dụng các công cụ quản lý thời gian như ma trận Eisenhower, đồng hồ Pomodoro hay lên kế hoạch hành động chi tiết, hợp lý thì thường sẽ bị quá tải công việc, áp lực, rối loạn lo âu hay thiếu ngủ Nếu sinh viên quá tải với công việc, khi không có kĩ năng mềm, sẽ không biết cách vượt qua khủng hoảng, dẫn đến trì hoãn công việc Trì hoãn quá nhiều sẽ càng sinh thêm căng thẳng Sự đi xuống về thể chất và tinh thần chắc chắn sẽ ảnh hướng đến kết quả học thuật của sinh viên Vì thế, có được những kĩ năng ở nhóm hướng nội này, sinh viên sẽ biết thiết kế kế hoạch học tập cá nhân hóa, phù hợp với tiến độ, sở thích, điều kiện sức khỏe, từ đó gặt hái được thành công trong học tập Ở nhóm thứ hai bao gồm những kĩ năng như giải quyết vấn đề, thuyết trình, tạo lập mối quan hệ, tổ chức và lãnh đạo Những kĩ năng này sẽ giúp sinh viên hòa nhập

Ngày đăng: 20/02/2022, 12:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w