Mục đích và yêu cầu của việc trình bày lịch sử vấn đề

Một phần của tài liệu Tiếng việt thực hành tập bài giảng 2018 pdf (Trang 67 - 102)

Chương 3. TIẾP NHẬN VĂN BẢN

3.3. Trình bày lịch sử vấn đề

3.3.1. Mục đích và yêu cầu của việc trình bày lịch sử vấn đề

Trình bày lịch sử vấn đề nhằm đánh giá một cách tổng quát về những công trình của các tác giả đi trước có liên quan đến đề tài, nói một cách cụ thể là nhìn lại những đóng góp cũng như những hạn chế của các tác giả đi trước về phương pháp nghiên cứu cũng như giải pháp cho vấn đề cụ thể. Người viết tiếp thu những thành tựu nghiên cứu trước đó và xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể để giải quyết những hạn chế của những công trình đó. Như vậy, việc trình bày lịch sử vấn đề làm nổi rõ ý nghĩa của đề tài về mặt lí luận và thực tiễn.

3.3.1.2. Yêu cầu

Người viết cần có sự đánh giá về những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài chứ không phải là sự liệt kê những công trình nghiên cứu;

Người viết cần có sự đánh giá về những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài từ trước đến nay (cái nhìn lịch đại) chứ không phải chỉ những công trình nghiên cứu hiện nay (cái nhìn đồng đại).

3.3.2. Cách trình bày lịch sử vấn đề Khi viết phần trình bày lịch sử vấn đề, người viết nên phân loại các công

trình nghiên cứu theo nội dung của chúng rồi lần lượt trình bày theo các nội dung ấy. Khi trình bày các nội dung, nên lần lượt điểm theo trình tự thời gian từ những bài viết sớm nhất cho đến những bài viết gần đây nhất. Với những công trình quan trọng cần có sự trình bày kĩ lưỡng, với những công trình ít quan trọng thì chỉ cần trình bày lướt qua, có thể gộp một số công trình có cùng quan điểm vào dể trình bày chung.

Sau khi điểm qua toàn bộ các nội dung có liên quan đến đề tài, người viết cần có sự đánh giá khái quát về những thành tựu đã đạt được đồng thời chỉ rõ những vấn đề cần được nghiên cứu thêm hoặc những vấn đề mới cần được nghiên cứu.

Ví dụ: Phần trình bày lịch sử vấn đề của luận văn thạc sĩ với đề tài: "Câu trong văn bản hành chính":

Văn bản hành chính là loại văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ, một phong cách chức năng của hoạt động lời nói. Phong cách hành chính công vụ trong đó có đơn vị câu đã được nhiều nhà phong cách học đề cập đến.

Các nhà phong cách học nước ngoài như R.Jakopson, N.M.Kogina, V.M.

Bugoxolapxki, L.G.Báclát...khi bàn về phong cách học nói chung, phong cách hành chính công vụ nói riêng đều ít nhiều nêu ra những đặc điểm về ngôn ngữ trong văn bản hành chính công vụ trong đó có những đặc điểm về câu.

Năm 1969, trong “Góp vào vấn đề phân loại các khuôn sáo ngôn ngữ tiếng Nga trong nhà trường”, V.M. Bugoxolapxki cho rằng trong phong cách hành chính công vụ luôn có hiện tượng dùng lặp đi lặp lại những câu, những từ những cấu trúc có sẵn và đó là các khuôn sáo hành chính. Khuôn sáo hành chính là đơn vị từ vựng hay đơn vị cú pháp luôn luôn được tái hiện, có tương quan với những hoàn cảnh thường được lặp đi lặp lại với những khái niện phổ biến và làm cho chúng được biểu đạt dễ dàng.

Năm 1972, trong “Về tính hệ thống lời nói của phong cách khoa hóco với một số phong cách khác”, N.M. Kogina tìm ra màu sắc phong cách đặc biệt của văn bản hành chính công vụ, đó là yêu cầu phải thực hiện. Từ đó câu dùng trong văn bản hành chính cũng phải thể hiện được đặc điểm này.

Năm 1978, L.G. Báclát trong “Tiếng Nga, phong cách học” cũng nói sự bất biến về hình thức của văn bản hành chính công vụ trong đó có đơn vị câu không tránh khỏi yêu càu này. Báclát cho rằng: Cú pháp của phong cách hành chính công vụ phản ánh xu hướng phân loại, trình bày chi tiết, xu hướng xem xét các quan hệ nhân - quả, điều kiện - kết quả trong sự thống nhát cảu các mặt xác nhận và quy định.

Ở Việt Nam, các nhà phong cách học khi nghiên cứu đã thật sự quan tâm đến phong cách hành chính - công vụ và những năm gần đây, một số kiến thức về phong cách hành chính công vụ trở thành một nội dung được giảng dạy trong nhà trường phổ thông từ bậc tiểu học.

Tiêu biểu cho các nhà phong cách học ở Việt Nam là Võ Bình, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hoà, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Hữu Đạt. Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đưa ra những đặc điểm về câu trong văn bản hành chính.

Tác giả Cù Đình Tú trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt” xuất bản năm 1983 đã khẳng định phong cách hành chính chỉ dùng câu tường thuật, không dùng câu nghi vấn, câu biểu cảm và ưa lối viết câu phức hợp.

Tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà trong “Phong cách học tiếng Việt” đã chỉ ra 9 nét đặc trưng của câu trong văn bản hành chính công vụ.

Tác giả Hữu Đạt với cuốn “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” cho rằng kết cấu của câu trong văn bản hành chính thiên về kết cấu diễn dịch.

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về phong cách hành chính công vụ vừa kể trên, những năm gần đây xuất hiện nhiều tài liệu hướng dẫn soạn thảo văn bản hành chính, trong đó có dành một mục bàn về cách hành văn của văn bản hành chính. Tiêu biểu là: “Soạn thảo và sử lí văn bản trong công tác của người lãnh đạo và quản lí” của Nguyễn Văn Thâm, “Hướng dẫn kĩ thuật nghiệp vụ hành chính” của Nguyễn Văn Thâm, Lưu Kiếm Thanh, Lê Xuân Lam, Bùi Xuân Lự, “Hướng dẫn soạn thảo văn bản quản lí nhà nước” của Lưu Kiếm Thanh...

Qua việc điểm lại các công trình nghiên cứu về văn bản hành chính, có thể đánh giá một cách khách quan rằng đơn vị câu trong văn bản hành chính đã được dành cho một sự quan tâm đáng kể. Tuy nhiên, những kết luận trong các công trình ấy còn mang tính khái quát, sơ lược. Vì thế, trong đề tài này, tác giả sẽ chi tiết hoá, phân tích những đặc điểm về câu trong văn bản hành chính trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của những tác giả trên.

ÔN TẬP CHƯƠNG 3 Câu hỏi

1) Trình bày mục đích, yêu cầu và thao tác tóm tắt văn bản 2) Trình bày mục đích, yêu cầu và thao tác tổng thuật văn bản

3) So sánh văn bản tóm tắt và văn bản tổng thuật

4) So sánh việc tổng thuật văn bản với việc trình bày lịch sử vấn đề cho một luận văn khoa học.

Bài tập thực hành

1) Tóm tắt các đoạn văn sau:

Đoạn 1. Sau năm 1986, đời sống văn hoá ở Việt Nam đã chuyển biến mạnh mẽ sang cơ chế thị trường. Cùng với việc mở rộng cơ chế thị trường, một quá trình đô thị hoá đã diễn ra mau lẹ. Với Nghị quyết Trung ương lần thứ 7, khoá VIII, đất nước ta bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với cơ chế thị trường, một chủ nghĩa bình quân trước kia đã từng có tác dụng duy trì nhiều giá trị văn hoá truyền thống trong nền sản xuất năng xuất thấp đang được các tiêu chuẩn thương mại và cạnh tranh thay đổi và có tác dụng giải phóng khả năng sáng tạo, phát huy tính tích cực, chủ động của mỗi cá nhân và bù đắp dần sự thiếu hụt các giá trị về văn hoá kinh doanh của nền văn hóa truyền thống.

Song sự vận động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, của quá trình đô thị hoá cũng là nguyên nhân làm phát triển méo mó nhân cách và các quan hệ văn hoá. Khi cá nhân được giải phóng năng lượng sáng tạo, các mối quan hệ cộng đồng, với truyền thống, với họ hàng và thân tộc có khuynh hướng lỏng lẻo dần.

Đoạn 2. Thực hiện dán tem hàng nhập khẩu là biện pháp tích cực để chống nhập lậu và tiêu thụ hàng nhập lậu. Công tác này có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân và có các loại hình kinh doanh, lại phải triển khai trong thời gian rất ngắn. Do đó, sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp. Vì vậy, UBND thành phố yêu cầu các cấp, các ngành cần coi đây là một công tác trọng tâm đột xuất; phải tập chung chỉ đạo sát sao và thống nhất theo yêu cầu của Chỉ thị này và Thông tư số 30/1998/TTLT-BTC-BTM-BNV-TCHQ ngày 16-3-1998 của liên bộ Tài chính - Thương mại - Nội vụ - Tổng cục Hải quan.

2) Hãy tổng thuật các bài viết chủ đề môi sinh, môi trường được cho dưới đây:

Bài 1. Bảo vệ tài nguyên, thiên nhiên môi trường

Xung quanh chúng ta là thế giới vật chất. Tài nguyên và môi trường luôn luôn gắn liền với cuộc sống hàng ngày của mỗi người. Để bảo đảm cuộc sống, con ngườu chẳng những dựa vào hoàn cảnh tự nhiên mà còn phải biết cải tạo tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình, giữa thiên nhiên và con người có mối quan hệ khăng khít, hữu cơ không thể tách rời.

Thế giới vật chất bao la vô cùng, vô tận, nhưng hành tinh của chúng ta thì nhỏ bé và có hạn. Tài nguyên trong lòng đất cũng có hạn và đang ngày một cạn kiệt.

Việc khai thác tài nguyên trong lòng đất không có kế hoạch hoặc chỉ vì lợi ích trước mắt, không tuân thủ qui luật tự nhiên đã gây ra nhiều hậu quả. Nhiều vùng đất màu mỡ bị phá hoại, nhiều khu rừng đã bị đốt cháy trơ trụi. Nạn đốt rừng đầu nguồn đã gây ra lũ cho nhiều vùng, đặc biệt là các vùng ven sông và vùng đồng bằng.

Việc săn bắn thú rừng ngày càng tăng, những loài động vật hiếm quý bị con người tiêu diệt bất chấp lệnh cấm của nhà nước làm cho nhiều chủng loại ngày nay đã mất đi, chỉ còn rất ít như tê giác, khỉ hình người, cá voi, hải cẩu, vv…

Nếu con người không biết ngăn chặn những hành động phá hoại thiên nhiên và môi trường thì rất nguy hại. Đến một lúc nào đó con người không còn có thể khai thác từ thiên nhiên để lấy của cải vật chất nuôi sống chính bản thân mình. Môi trường sống của con người đang bị đe doạ: Chất thải công nghiệp làm vẩn đục các dòng sông, tai nạn của các con tàu chở dầu làm ô nhiễm hàng vạn cây số bờ biển các nước. Bầu khí quyển ngày càng bị các hợp chất của các - bon làm ô nhiễm, tầng ô - zôn bao bọc trái đất bị chọc thủng, các tia tử ngoại xâm nhập vào các dòng khí quyển xuống trái đất. Nhiệt độ khí quyển ngày càng tăng, lượng nước biển sẽ dễ dâng lên do sự tan băng ở Bắc và Nam cực của trái đất. Tất cả những điều đó là nguyên nhân phá hoại cân bằng sinh thái và đang là sự đe doạ khủng khiếp cho sự sống trên hành tinh của chúng ta.

Nhiều tổ chức quốc tế cùng với chính phủ nhiều nước đã có nhiều lời kêu gọi và việc làm thiết thực để bảo vệ, gìn giữ những nguồn tài nguyên, những loài

động vật trên trái đất. Mặt khác nhiều quốc gia đã áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào việc khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhên. Thế giới ngày nay đang bước vào việc tìm kiếm nguồn năng lượng nào ít chất thải nhất để giảm bớt sự ô nhiễm bầu khí quyển, giữ gìn sự trong lành của thiên nhiên.

Như vậy vừa bảo đảm cho cuộc sống của con người vừa bảo vệ thiên nhiên lâu dài.

(Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp) Bài 2. Bảo vệ môi sinh

Môi sinh đang ở trong tình trạng báo động, nói một cách khẩn thiết: thiên nhiên đang kêu cứu. Thảm hoạ huỷ diệt đang đe doạ loài người. Nếu lương tri loài người đã thức tỉnh thì quả là đúng lúc.

Chẳng thế mà tháng 10 năm 1992 một hội nghị cỡ nguyên thủ quốc gia đã họp ở Riô Đê Gianerô với chương ttình nghị sự chỉ bàn về boa vệ môi sinh. Và chúng ta gần như hàng tháng được nghe, đọc, nhìn từ các phương tiện thông tin đại chúng, nào là tầng ôzôn bị thủng, nào là thiên tai, lụt lội, núi nở, bão lốc…

Tựa như thiên nhiên đang nổỉ giận và hậu quả khốc liệt của việc đối xử tàn tệ với thiên nhiên đang diễn ra.

Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, sự gia tăng dân số, việc khai thác tài nguyên một cách vô tổ chức, việc tăng nhanh quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, hoá học hoá nông nghiệp, tác động to lớn của con người vào thiên nhiên từ nhiều mặt mang lại tính toàn cầu trong đó có vấn đề chất thải, đã ảnh hưởng sâu sắc đến sinh quyển, đụng chạm đến mọi quốc gia và quả đất là “ngôi nhà” chung của loài người. Riêng năm 1970, con người đã sản sinh ra 40 tỷ tấn chất thải trong quá trình sản xuất và sinh hoạt. Tính đến cuối thế kỷ XX này, khối lượng chất thải sẽ lên đến 100 tỷ tấn/năm. Sinh quyển khí quyển, nguồn nước, tóm lại toàn bộ môi sinh bị nhiễm bẩn do kim loại và các hợp chất bị thải loại, phân bón, chất độc hoá học, các chất thải phóng xạ, nước thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt. Những chất thải ở thể rắn, thể lỏng và thể khí không ngừng tăng lên. Riêng chất thải ở thể rắn mỗi năm có tới 10 - 12 tỷ tấn. Chỉ một công dân Mỹ sống ở thành phố mỗi năm thải 1 tấn rác.

Mỗi năm lượng nước thải trên thế giới khoảng 1000k3, để xử lý khối lượng nước bẩn này cần một lượng nước sạch gấp 20 lần. Như vậy là con người đã sử dụng một lượng đáng kể nước ngọt dự trữ thiên nhiên có trong các ao hồ (40.000 km3). Hàng năm gần 10 triệu tấn dầu và các sản phẩm dầu mỏ đổ thải ra đại dương. Do kết quả sử dụng nhiệt năng, mỗi năm khí quyển tiếp nhận 20 tỉ tấn khí cacbonic và các khí độc khác (đó là nguyên nhân chủ yếu gây nên các trận mưa bụi cacbonic).

Hậu quả là nửa cuối thế kỷ XX, sinh quyển đã trở nên tồi tệ rõ rệt.

Ở một số nước và một số vùng rộng lớn, tình trạng ô nhiễm đã thực sự là mối hiểm hoạ. Trách nhiệm này thuộc về các nước công nghiệp phát triển, các nước này đã gây ra 2/3 sự ô nhiễm bẩn (trong số đó Hoa Kỳ gây ra 30%, các nước Tây Âu gây ra 20%).

Vấn đề bảo vệ sinh thái bao gồm nhiều mặt: bảo vệ sức khoẻ, kinh tế, giáo dục và nhiều vấn đề khác.

- Hướng thứ nhất: Phát minh những thiết bị lọc, hạn chế sử dụng các nguyên liệu có chứa lưu huỳnh, tái sử dụng rác các loại.

- Hướng thứ hai: Thay thế công nghệ sản xuất cổ truyền, bằng các “công nghệ sạch”, không có chất thải độc hại.

- Hướng thứ ba: Kiểm soát và phân bổ hợp lý các ngành công nghiệp gây nhiễm bẩn nhất (luyện kim đen và màu, công nghiệp dầu và hoá dầu, công nghiệp giấy) đối với môi sinh.

Vấn đề môi sinh cần được giải quyết ở những quy mô khác nhau, trên quy mô thế giới, quy mô từng nước, từng ngành. Vấn đề này mang tính toàn cầu.

Các nhà bác học đã cho rằng nhiệt độ không khí đã tăng 3 đến 4 độ C khiến cho khí hậu toàn cầu thay đổi đáng kể. Tầng ozôn đã bị rách, thủng hàng nghìn km2. Các nhà du hành vũ trụ có dịp được quan sát Trái đất từ vũ trụ đã ví Trái đất như quả cầu bé nhỏ và mỏng manh.

Bảo vệ sinh quyển tức là bảo vệ cuộc sống của mỗi chúng ta.

(Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp)

Chương 4

TẠO LẬP VĂN BẢN

4.1. Định hướng - xác định các nhân tố giao tiếp của văn bản 4.1.1. Nhân vật giao tiếp

Là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp. Đó là người nói và người nghe, người viết và người đọc, người tạo lập và người tiếp nhận văn bản.

Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân.

Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát - nhận trong giao tiếp. Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa những nhân vật giao tiếp với nhau.

4.1.2. Nội dung giao tiếp

Là vấn đề được đề cập đến trong văn bản. Bao gồm chủ đề chung và các chủ đề bộ phận của văn bản.

4.1.3. Hoàn cảnh giao tiếp

Được hiểu theo hai cách. Ở cách hiểu hẹp: Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh thời gian, không gian diễn ra hoạt động giao tiếp. Ở cách hiểu rộng: Hoàn cảnh giao tiếp là môi trường văn hoá, xã hội...chi phối hoạt động giao tiếp.

4.1.4. Mục đích giao tiếp

Là cái đích mà các nhân vật giao tiếp đặt ra trong cuộc giao tiếp. Mục đích giao tiếp bao gồm: Đích thuyết phục (giao tiếp làm thay đổi trạng thái nhận thức của các nhân vật giao tiếp), đích truyền cảm (giao tiếp làm thay đổi trạng thái tình cảm của các nhân vật giao tiếp), đích hành động (thông qua giao tiếp, các nhân vật giao tiếp thúc đẩy nhau hành động).

4.1.5. Cách thức giao tiếp

Hoạt động giao tiếp được thực hiện bằng những phương tiện giao tiếp nào (phương tiện ngôn ngữ; phương tiện kí hiệu, tín hiệu; phương tiện vật chất cụ thể), trực tiếp hay gián tiếp, giao tiếp chính thức hay giao tiếp không chính thức?

Việc xác định các nhân tố giao tiếp có thể có các nhân tố đã được xác định sẵn hoặc không được xác định sẵn.

Trường hợp các nhân tố giao tiếp đã xác định sẵn:

Một phần của tài liệu Tiếng việt thực hành tập bài giảng 2018 pdf (Trang 67 - 102)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(216 trang)