Cách viết tên riêng tiếng nước ngoài và tiếng dân tộc thiểu số trong văn bản hành chính

Một phần của tài liệu Tiếng việt thực hành tập bài giảng 2018 pdf (Trang 138 - 145)

Chương 6. NGÔN NGỮ VĂN BẢN HÀNH CHÍNH

6.1. Chính tả trong văn bản hành chính

6.1.3. Cách viết tên riêng tiếng nước ngoài và tiếng dân tộc thiểu số trong văn bản hành chính

6.1.3.1. Cách viết tên riêng tiếng nước ngoài

Tên riêng tiếng nước ngoài bao gồm: nhân danh, tộc danh, địa danh, tên cơ quan, tổ chức, khi dùng trong Văn bản hành chính tiếng Việt phải có cách viết, cách đọc hợp lí.

Từ trước đến nay, nhà nước chưa có một văn bản chính thức nào mang tính pháp lí, quy định về cách viết, cách đọc tên riêng tiếng nước ngoài trong văn bản tiếng Việt để áp dụng thống nhất ở tất cả các lĩnh vực. Một số ngành đã

có ban hành quy định riêng cho ngành mình. Chẳng hạn Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt ban hành kèm theo Quyết định số 240/QĐ ngày 05/3/1984 của Bộ Giáo dục áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục. Trong đó quy định cách viết tên riêng không phải tiếng Việt gồm 8 trường hợp:

1) Nếu chữ viết của nguyên ngữ dùng chữ cái Latin thì giữ đúng nguyên hình trên chữ viết của nguyên ngữ, kể cả các chữ cái f, j, w, z, ví dụ:

Shakespeare, Paris, California, Wrocaw...; dấu phụ ở một số chữ cái trong nguyờn ngữ cú thể lược bớt. Vớ dụ: Petofi (lược bỏ dấu phụ ở ử)...

2) Nếu chữ viết của nguyên ngữ thuộc một hệ thống chữ cái khác thì dùng lối chuyển tự chính thức sang chữ cái Latin. Ví dụ: Lomonosov, Moskva, Abdel...

3) Nếu chữ viết của nguyên ngữ không phải là chữ viết ghi từng âm bằng chữ cái thì dùng lối phiên âm chính thức bằng chữ cái Latin, thường là cách phiên âm đã có tính phổ biến trên thế giới. Ví dụ: Tokyo, Kyoto...

4) Trường hợp những tên riêng mà trong thực tiễn sử dụng rộng rãi trên thế giới đã quen dùng một hình thức viết bằng chữ cái Latin khác với nguyên ngữ thì dùng tên riêng phổ biến đó. Ví dụ: Hungary (nguyên ngữ là Magyarorszag), Bangkok (nguyên ngữ là Krung Thep hoặc Krung Rattanakosin)...

5) Đối với những sông núi nằm rải trên nhiều nước và có thể ở mỗi nước lại mang những tên riêng khác nhau hoặc được viết khác nhau, thì dùng hình thức tương đối phổ biến trên thế giới, song vẫn có thể dùng theo ngôn ngữ địa phương trong những văn bản nhất định. Ví dụ: sông Danube, có thể dùng Donau theo tiếng Đức, Duna theo tiếng Hungary, Dunares theo tiếng Rumania...

6) Những tên riêng hoặc bộ phận tên riêng mà có nghĩa thì dùng lối dịch nghĩa phù hợp. Ví dụ: Biển Đen (Чёрное море), Thái Bình Dương (Pacific Ocean)...

7) Những tên riêng đã có hình thức phiên âm Hán Việt mà đã được sử dụng quen thuộc thì không cần thay đổi, trừ khi có yêu cầu đặc biệt. Ví dụ: Bắc

Kinh, Thượng Hải, Quảng Đông, Lỗ Tấn...; Pháp, Hi Lạp, Thổ Nhĩ Kì, Luân Đôn, Ba Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc..., nhưng thay Ý bằng Italia, thay Úc bằng Australia... Tuy vậy cũng chấp nhận sự tồn tại khác nhau của một số tên riêng trong những phạm vi sử dụng khác nhau, chẳng hạn: dùng La Mã trong đế quốc La Mã, chữ số La Mã; nhưng lại dùng Roma trong thành Roma (thủ đô Italia ngày nay)...

8) Tên riêng trong các tiếng DTTS ở Việt Nam cũng thuộc trường hợp không phải tiếng Việt (Kinh).

Xét 8 trường hợp đã được quy định, có thể thấy ngay rằng nhiều trường hợp vẫn khó thống nhất (chẳng hạn, trường hợp 5 hoặc 7).

Trong lĩnh vực hành chính, bản Quy định tạm thời về viết hoa trong văn bản của Chính phủ và Văn phòng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 09/1998/QĐ-VPCP của Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ cũng có một số khoản, điểm quy định cách viết và viết hoa đối với tên riêng nước ngoài gồm tên người, tên nước, tên tổ chức:

1) Đối với tên người nước ngoài đã được phiên âm ra tiếng Việt (đọc theo âm tiếng Việt), viết hoa chữ cái đầu theo âm tiếng Việt đối với các âm tiết tạo thành tên riêng, giữa các âm tiết có gạch nối ngắn. Ví dụ: Phơ-ri-đơ-rích Ăng- ghen, V.I. Lê-nin...

2) Đối với địa danh nước ngoài có 2 trường hợp:

a) Địa danh nước ngoài đã phiên âm theo tiếng Việt (đọc theo âm tiếng Việt): viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất tạo thành tên riêng, giữa các âm tiết có gạch nối ngắn. Ví dụ: Mát-xcơ-va, Ác-hen-ti-na, Áp-ga-ni-xtan, Xu-đăng, Li-băng, Pa-le-xtin, In-đô-nê-xi-a, I-ta-li-a, Crô-a-ti-a, Tat-gi-ki-xtan, U-dơ-bê- ki-xtan, U-gan-đa, Ma-lai-xi-a, Cam-pu-chi-a, Ru-ma-ni-a, Phi-lip-pin,…

b) Địa danh được phiên theo âm Hán - Việt: viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết tạo thành tên riêng, giữa các âm tiết không có gạch nối. Ví dụ: Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Ba Lan, Bắc Kinh, Luân Đôn, Bình Nhưỡng, Nga, Pháp…

3) Đối với tên các tổ chức quốc tế có 2 cách thức:

a) Dịch nghĩa sang Việt và có chú giải bằng tiếng Anh. Ví dụ: Liên hợp quốc (United Nations), Ngân hàng Phát triển châu Á (The ASIAN Development Bank)...

b) Viết tắt tiếng Anh có chú giải lần đầu bằng tên đầy đủ tiếng Anh và tiếng Việt. Ví dụ: ASEAN (Hiệp hội Các nước Đông Nam Á - Association of South East Asian Nations), NATO (Tổ chức Bắc Đại Tây Dương - North Atlantic Treaty Organization), IMF (Quỹ tiền tệ Quốc tế - International Monetary Fund)...

Những quy định về cách viết và viết hoa tên riêng tiếng nước ngoài trong văn bản hành chính trên đây chưa đầy đủ vì chưa bao quát hết được các trường hợp nên khi đưa vào áp dụng trong thực tế còn có nhiều mắc mứu. Hơn nữa, từ thời điểm văn bản này được ban hành tới nay đã trải qua một thời gian dài với nhiều biến động trong cảnh huống ngôn ngữ ở Việt Nam, đặc biệt là xu hướng hội nhập quốc tế đã dẫn tới yêu cầu và nhu cầu học và sử dụng ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh khiến cho ngoại ngữ này ngày càng phổ biến hơn ở nước ta. Cho nên nhiều quy định trước đây đã không còn phù hợp với thực tế sử dụng.

Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã đưa ra phần Phụ lục về viết hoa trong văn bản hành chính, trong đó cũng có một số khoản điểm quy định về cách viết và viết hoa đối với tên tên riêng nước ngoài:

2. Tên người nước ngoài được phiên chuyển sang tiếng Việt

a) Trường hợp phiên âm qua âm Hán - Việt: Viết theo quy tắc viết tên người Việt Nam. Ví dụ: Kim Nhật Thành, Mao Trạch Đông, Thành Cát Tư Hãn…

b) Trường hợp phiên âm không qua âm Hán - Việt (phiên âm trực tiếp sát cách đọc của nguyên ngữ): Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất trong mỗi thành tố. Ví dụ: Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, Phri-đrích Ăng-ghen, Phi-đen Cat-xtơ- rô…

(Khoản 2, Mục II, Phụ lục VI, Thông tư số 01/2011/TT-BNV) 2. Tên địa lý nước ngoài được phiên chuyển sang tiếng Việt

a) Tên địa lý đã được phiên âm sang âm Hán - Việt: Viết theo quy tắc viết hoa tên địa lý Việt Nam. Ví dụ: Bắc Kinh, Bình Nhưỡng, Pháp, Anh, Mỹ, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha…

b) Tên địa lý phiên âm không qua âm Hán - Việt (phiên âm trực tiếp sát cách đọc của nguyên ngữ): Viết hoa theo quy tắc viết hoa tên người nước ngoài. Ví dụ:

Mát-xcơ-va, Men-bơn, Sing-ga-po, Cô-pen-ha-ghen, Béc-lin…”

(Khoản 2, Mục III, Phụ lục VI, Thông tư số 01/2011/TT-BNV)

Nhìn chung, những quy định trên còn hết sức sơ lược, chưa bao quát hết được các trường hợp tên riêng nước ngoài trong văn bản tiếng Việt trong thực tế.

Nhất là nhiều khi cùng một trường hợp, các quy định lại đồng thời cho phép có nhiều cách phiên chuyển khác nhau. Cho nên đã dẫn đến thực trạng cùng một tên riêng nước ngoài nhưng tồn tại nhiều cách viết khác nhau, ví dụ:

Shakespeare/ Xêchxpia/ Sếch-xpia; Moskva/ Moscow/ Moscou/ Matxcơva/ Mát- xcơ-va/ Mạc Tư Khoa... khiến cho người đọc nhiều khi không không nhận ra đó là những cách viết của cùng một tên nữa (!).

6.1.3.2. Cách viết tên riêng tiếng dân tộc thiểu số

Tên riêng tiếng dân tộc thiểu số trong văn bản hành chính bao gồm các trường hợp: nhân danh, tộc danh và địa danh.

Hiện nay nhà nước chưa có quy định về cách viết, cách đọc tên riêng tiếng dân tộc thiểu số trong văn bản tiếng Việt. Ở lĩnh vực hành chính, bản Quy định tạm thời về viết hoa trong văn bản của Chính phủ và Văn phòng Chính phủ (ban hành kèm theo Quyết định số 09/1998/QĐ-VPCP) và Thông tư số 01/2001/TT- BNV cũng có một số khoản điểm đưa ra cách viết, mà cụ thể là cách viết hoa tên riêng của người dân tộc thiểu số và tên địa danh được đặt theo tiếng dân tộc thiểu số nhưng không xem xét và đặt ra quy định riêng mà gộp cùng với tên người và tên địa lí tiếng Việt vào một đối tượng là tên người Việt Nam và địa danh Việt Nam.

Chẳng hạn, tại Phụ lục VI, Thông tư số 01/2011/TT-BNV quy định:

II. VIẾT HOA DANH TỪ RIÊNG CHỈ TÊN NGƯỜI 1. Tên người Việt Nam

a) Tên thông thường: Viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết của danh từ riêng chỉ tên người. Ví dụ: Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Giàng A Pao, Kơ Pa Kơ Lơng

III. VIẾT HOA TÊN ĐỊA LÝ 1. Tên địa lý Việt Nam

a) Tên đơn vị hành chính được cấu tạo giữa danh từ chung (tỉnh, huyện, xã…) với tên riêng của đơn vị hành chính đó: Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết tạo thành tên riêng và không dùng gạch nối. Ví dụ: thành phố Thái Nguyên, tỉnh Nam Định, tỉnh Đắk Lắk…; quận Hải Châu, huyện Gia Lâm, huyện Ea H’leo, thị xã Sông Công, thị trấn Cầu Giát…; phường Nguyễn Trãi, xã Ia Yeng

Thực ra, tên của người dân tộc thiểu số (ngoại trừ những tên được đặt theo cách đặt tên của người Việt/ Kinh) và các địa danh được đặt theo tiếng dân tộc thiểu số là những tên riêng thuộc tiếng dân tộc thiểu số (tức là không thuộc tên riêng tiếng Việt). Cho nên, khi sử dụng trong văn bản tiếng Việt, cần có quy định riêng về cách viết, cách đọc, không nên đập nhập vào cùng tên riêng tiếng Việt, khiến cho việc áp dụng quy định trở nên khó khăn.

Trong thực tế còn tồn tại nhiều cách viết không thống nhất. Ví dụ:

H'Lơk Niê - H'lơc Niê - H'Lơc Niê - H' Lơk Niê - H' Lớc Niê - Hơ Lơk Niê - Hơ Lớc Niê;

Y GRet KĐăm - Y Gret Kđăm - Y Grét Kđăm - Y Greh Kdăm;

Kpah Klơng - Kpǎ Klơng - Kpa Klơng - Kơ-pa Kơ-lơng - Kơ Pa Kơ Lơng;

Đắc Lắc - Đăk Lăk - Đắk Lắk - ĐắkLắk - ĐăkLăk - DăkLăk;

Đắc Lấp - Đăk Rlâp - Đắk Rlấp;

Ea H’leo - Ea H’Leo...

Thậm chí ngay trong một cơ quan, một văn bản cũng tồn tại những cách viết khác nhau. Chẳng hạn, trong Quyết định số 41/2011/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Lăk có ba cách viết: DăkLăk, Đắk Lắk, ĐắkLắk; trong Nghị quyết số 35/NQ-HĐND ngày 22/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đăk Lăk có 2 cách viết: Đắk Lắk, ĐắkLắk.

Trên thực tế, có thể khái quát một số cách viết, cách đọc tên riêng dân tộc thiểu số trong văn bản tiếng Việt như sau:

1) Việt hóa hoàn toàn dựa vào âm:

Kpah Klơng (Kpǎ Klơng) → Kơ Pa Kơ Lơng;

Dăklăk → Đắc Lắc;...

2) Việt hóa hoàn toàn dựa vào nghĩa:

Prêk Króc (sông, rạch cây chanh) → rạch Chanh;

Phnom Thma Phlơn (núi đá lửa) → hòn Đá Lửa;...

3) Thay bằng từ Hán - Việt:

(cao nguyên) Lang Biang → Lâm Viên;

(làng) Cwah Patih → Thành Tín;

(làng) Hamu Limaung → Tôn Thành...

4) Phiên âm kết hợp chuyển tự (phiên chuyển) sang tiếng Việt, có các cách viết sau:

a) Viết rời, có dấu, có gạch ngang giữa các âm tiết:

Pakooh → Pa-cô;

Taooih → Tà-ôi (Ta-ôi);

Êđê Adham → Ê-đê A-tham;

Êđê Ktul → Ê-đê Kơ-tun;

Lang Biang → Lang Bi-ang ...

b) Viết rời, có dấu, không có gạch ngang giữa các âm tiết:

Pakooh → Pa cô;

Taooih → Tà ôi (Ta ôi);

Êđê Adham → Ê đê A tham;

Êđê Ktul → Ê đê Kơ tun...

c) Viết liền, có dấu:

Pakooh → Pacô;

Taooih → Tẵi (Taôi);

Êđê Adham → Êđê Atham;...

5) Giữ nguyên dạng:

Kpah Klơng (Kpǎ Klơng), H'Bhih (H'Bh), M'drăk, H'Blên, Brũ, Mdhur, Adham, Bih, Lang Biang,...

Như đã khẳng định, tên riêng gắn mật thiết với đối tượng và có vai trò quan trọng trong việc nhận diện đối tượng. Cũng như cách phiên chuyển tên riêng nước ngoài, cách phiên chuyển tên riêng tiếng dân tộc thiểu số trong văn bản hành chính tiếng Việt trên thực tế có rất nhiều giải pháp, mỗi giải pháp đều có những ưu, nhược nhất định. Vì vấn đề nhạy cảm chính trị và vì tính chính xác, tường minh của ngôn ngữ hành chính, nên chọn các giải pháp sau:

- Đối với tên riêng của tiếng dân tộc thiểu số có chữ viết thuộc hệ chữ Latin thì dùng nguyên ngữ có lược bớt những chữ cái và dấu phụ xa lạ với tiếng Việt và lần đầu có chú giải cách đọc;

- Đối với tên riêng của tiếng dân tộc thiểu số có chữ viết không thuộc hệ chữ Latin thì chuyển tự sang chữ Latin và lần đầu cũng có chú giải cách đọc;

- Đối với tên riêng của tiếng dân tộc thiếu số không có chữ viết thì dùng kí tự Latin để ghi lại các âm tương ứng;

- Đối với các tên địa lí đã được Việt hóa dựa vào nghĩa hoặc thay bằng tên Hán - Việt mà đã quá quen thuộc với cả người Việt và người dân tộc thiểu số thì vẫn nên dùng giải pháp này.

Một phần của tài liệu Tiếng việt thực hành tập bài giảng 2018 pdf (Trang 138 - 145)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(216 trang)