Chương 4. TẠO LẬP VĂN BẢN
4.3. Viết đoạn văn và liên kết các đoạn văn
4.3.2. Cách liên kết các đoạn văn trong văn bản
Văn bản là một chỉnh thể bao gồm nhiều đoạn văn. Nếu chỉ biết viết những đoạn văn thì chưa thể xây dựng một văn bản hoàn chỉnh. Ta cần phải biết liên kết các đoạn văn. Thông thường có hai cách liên kết các đoạn văn:
4.3.2.1. Dùng những phương tiện liên kết câu
- Dùng những phương tiện liên kết câu ở các câu giáp giới giữa hai đoạn.
Ta có thể sơ đồ hoá như sau:
ĐV1 có C1 C2 C3 ĐV2 có C1
C2 C3 C4
Dùng phương tiện liên kết câu để liên kết câu thứ ba của đoạn thứ nhất và câu thứ nhất của đoạn thứ hai để liên kết hai đoạn văn.
Những phương tiện liên kết thuộc những phương thức liên kết câu như:
Phương thức nối, lặp, thế, liên tưởng.
+ Phương thức nối: Dùng quan hệ từ hoặc những từ ngữ có tác dụng chuyển tiếp như: Trước hết, sau cùng, nói tóm lại, bên cạnh đó... để nối các câu.
Ví dụ: Theo nghĩa hẹp: “Cải cách hành chính” là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương pháp hành chính mới trong lĩnh vực quản lí của bộ máy hành chính nhà nước.
Như vậy, cải cách hành chính ở nước ta là trọng tâm của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm những thay đổi có chủ định nhằm hoàn thiện: thể chế hành chính, cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp và đội ngũ công chức hành chính để nâng cao hiệu lực, năng lực và hiệu quả hoạt động của nền hành chính công phục vụ nhân dân.
+ Phương thức lặp: Một số từ ngữ hoặc cấu trúc được lặp lại trong các câu kế tiếp nhau.
Ví dụ:: Văn minh, trên một ý nghĩa nào đó là biểu hiện của văn hoá. Một con người, một xã hội có văn hoá thường gắn với các nền văn minh. Nền văn minh lúa nước, văn minh sông Hồng gắn rất chặt chẽ với bản sắc dân tộc Việt Nam.
Song, như Hồ Chí Minh đã phân tích, văn minh không trùng khít với văn hoá. Văn minh thực tế là cơ cấu xã hội, là trình độ kĩ thuật của một giai đoạn phát triển của một dân tộc, của khu vực, của loài người.
+ Phương thức thế: Dùng đại từ hay những từ ngữ đồng nghĩa trong câu sau để thay thế cho những từ ngữ hoặc nội dung của cả câu trước.
Ví dụ: Nền hành chính nhà nước thể hiện được tính dân chủ và hoạt động có hiệu lực và hiệu quả phải là nền hành chính quán triệt đầy đủ nguyên tắc hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa – đó là sự tuân thủ pháp luật, trong đó không có chủ thể nào là ngoại lệ của sự tuân thủ đó.
Một nền hành chính như vậy phải thực thi có hiệu lực quyền hành pháp trong khuôn khổ quyền lực nhà nước thống nhất, không phân chia mà chỉ có sự phân công rành mạch giữa các tổ chức thực hiện quyền lực đó.
+ Phương thức liên tưởng: Dùng những từ ngữ có mối quan hệ liên tưởng (chỉnh thể - bộ phận, nhân - quả, đồng nhất, đối lập...) trong các câu kế tiếp nhau để nối kết.
Ví dụ: Văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện bằng tiếng Việt.
Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì cần phải được định nghĩa trong văn bản.
- Dùng những phương tiện liên kết câu ở đầu các đoạn văn.
Ví dụ: Và đây là một ví dụ khác trong lĩnh vực y tế: giá của 10 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân kiểu tàu Minít trong số 15 chiếc mà Hoa Kì dự định đóng từ nay đến năm 2000 cũng đủ để thực hiện một chương trình phòng
bệnh trong cùng 14 năm đó và sẽ bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em riệng cho châu Phi mà thôi.
Và đây là một ví dụ khác trong lĩnh vực giáo dục: chỉ 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là đủ tiền xoá nạn mù chữ cho toàn thế giới...
Và đây là một ví dụ ...
Các đoạn văn trên sử dụng cấu trúc lặp cú pháp ở đầu mỗi đoạn để liên kết ý, tạo sự chặt chẽ cho văn bản.
4.3.2.2. Dùng câu chuyển tiếp và đoạn chuyển tiếp để liên kết các đoạn
a) Dùng câu chuyển tiếp
Về vị trí: Câu chuyển tiếp có thể đứng đầu đoạn văn sau hoặc đứng cuối đoạn văn trước.
Về nội dung: Thường có hai phần: Phần đầu tóm lược nội dung chính của đoạn đi trước và phần sau mở ra nội dung của đoạn đi sau. Như vậy, câu chuyển tiếp không có tác dụng về mặt ngữ nghĩa trong đoạn văn mà có tác dụng liên kết.
Về hình thức: Đoạn văn chuyển tiếp thường có chứa các từ chuyên dụng để chuyển tiếp như: Sau đây, trước hết, trở lên...
Ví dụ: Bên cạnh những thuận lợi nêu ở trên, Nhà trường cũng đứng trước những khó khăn, thách thức.
b) Dùng đoạn văn chuyển tiếp
Bên cạnh loại đoạn văn chỉnh thể (loại đoạn văn có tính độc lập tương đối cao về ngữ nghĩa, không cần dựa vào những đoạn văn khác vẫn có thể hiểu được nội dung của chúng một cách tương đối đầy đủ trọn vẹn; là một tiểu văn bản, chứa đựng một tiểu chủ đề và thường có cấu trúc diễn dịch, quy nạp hoặc tổng phân hợp) còn có loại đoạn văn chuyển tiếp.
Về nội dung: Đoạn văn này có hai phần nội dung giống như câu chuyển tiếp. Nó không có tiểu chủ đề.
Về dung lượng: Đoạn văn chuyển tiếp thường chỉ gồm một vài câu.
Để viết đoạn văn chuyển tiếp, trước hết cần xác định vị trí của nó tức là dùng để nối đoạn văn nào với đoạn văn nào trong văn bản. Sau đó xác định nội
dung chuyển tiếp tức là thâu tóm nội dung của đoạn văn trước và xác định nội dung đoạn văn đi sau. Sau khi xác định được nội dung của nó, người viết có thể ghép hai nội dung đó vào trong một câu hoặc tách thành hai câu nhưng trong đoạn văn chuyển tiếp thường có chứa các yếu tố liên kết chiều ngược hoặc chiều xuôi.
Ví dụ: Trên đây là mấy điều về bảo tồn các di sản văn hoá phi vật thể và truyền miệng của nhân loại nói chung. Sau đây là mấy việc làm cụ thể để bảo tồn di sản văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.