1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiếng việt thực hành

21 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 102,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Mối quan hệ giữa Thơ mới và Hát Nói Trong những năm đầu thập kỉ thứ 3 của thế kỷ trước xuất hiện một dòng thơ ca thuộc khuynh hướng lãng mạn. Đó là thơ mới (hay còn gọi thơ lãng mạn). Thơ mới là một cuộc thơ ca trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc ở thế kỷ 20. Sự xuất hiện của thơ mới gắn với sự ra đời của phong trào thơ mới 19321945. Phong trào thơ mới đã mở ra “Một thời đại mới trong thi ca”, mở đầu cho sự phát triển của thơ ca việt nam hiện đại. Thơ mới ra đời đã đem đến một làn gió hoàn toàn mới làm thay đổi những quy chuẩn của thơ ca truyền thống, phá vỡ tính quy ước, chuẩn mực đã ngự trị trong lối thơ cổ từ trước đó. Mặc dù thơ mới đã khẳng định được sự thắng thế trước thơ cũ nhưng từ trong mạch nguồn của nó vẫn có sự bắt nhịp với các lối thơ ca truyền thống, điều này được thể hiện rất rõ trong mối quan hệ giữa Thơ mới và hát nói. Về mối quan hệ giữa thơ mới và hát nói thì nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã có những kiến giải sâu sắc về sự tiếp ứng trong cảm hứng sáng tác của hai thể loại này, ông cho rằng: Sau nhiều thế kỷ thơ thất ngôn ngự trị dẫu có ngâm khúc, truyện nôm và hát nói cũng không làm vị trí thơ thất ngôn trong thơ truyền thống lung lay đến những năm 30 của thế kỷ XX, Thơ mới ra đời như một sự nổi loạn, một cuộc cách mạng. Thơ mới lúc đó mới là nói thơ Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận... với nội dung chủ yếu là biểu hiện những sắc thái tinh thần của con người cá nhân và các hình thức chủ yếu là thơ bảy chữ, tám chữ, năm chữ, lục bát. Các nhà thơ cũ công kích Thơ mới nhưng điều đáng chú ý là chỉ công kích về hình thức mà không nói về nội dung. Mặc dầu bị đả phá kịch liệt, Thơ mới vẫn nhanh chóng chiếm lĩnh văn đàn. Đến những năm 40 của thế kỷ XX, các nhà Thơ mới tuyên bố bỏ khái niệm Thơ mới, tuy thế có lẽ họ vẫn còn đôi chút mặc cảm nên tìm đến Tản Đà như một sự tìm về truyền thống, tìm một sự tiếp nối. Các yếu tố ở Tản Đà mà các nhà Thơ mới ca ngợi là cái phóng túng và tính cách đa tình. Những yếu tố ấy có ở trong nhiều bài thơ của nhiều thể thơ mà Tản Đà sử dụng nhưng các yếu tố đó lại là nét đặc trưng hát nói Tản Đà nói riêng và hát nói nói chung. Khi tìm sự liên hệ giữa hát nói và Thơ mới người ta thường nói về thể thơ như là một sự tiếp nhận thuần túy kỹ thuật là ở gieo vần, ở số chữ, nhưng như thế chưa đủ. Sự liên tục đó biểu thị các mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, giữa thể loại và người sáng tác, người tiếp nhận. Với thể thơ thất ngôn truyền thống thì hát nói khác lạ trên ba bình diện: nó là thể thơ giàu chất văn xuôi, là thơ chơi của một công chúng văn học khác, của một môi trường văn học khác; nó cũng thể hiện con người nhà nho nhưng là nhà nho tự thoát ly thành người khác nhà nho tài tử. Cả ba yếu tố đó không phải là những yếu tố cá biệt, riêng lẻ, tách rời mà đó là những yếu tố có liên quan mật thiết với nhau. Sự phát triển của văn học, của một thể loại văn học, không chỉ là tiến trình tự nó mà còn chịu sự tác động của công chúng văn học. Nhu cầu văn học, sinh hoạt văn học và phương thức phổ biến văn học tác động đến chức năng, tính chất của sự phát triển của thể loại, của bộ phận, của thành phần văn học, của nền văn học. Có thể nói rằng, công chúng của thơ chữ Hán chủ yếu là tác giả của nó những nhà nho. Công chúng của thơ nôm mở rộng phạm vi đến những người bình dân. Hát nói là loại thơ chơi, giàu tính chất văn nghệ nhất trong thơ truyền thống nhưng không được coi là chính thống. Công chúng của nó là những tài tử giai nhân, những khách thương tự do, những người học trò hỏng thi, những cầm nương, kỹ nữ giang hồ có nợ phong lưu. Họ là những người thoát ra khỏi sự kiểm soát của lễ giáo, của tâm lý dị nghị xướng ca vô loài, tập hợp nhau vào một tổ chức ngoài xã hội quan phương, tổ chức hát ca trù. Họ tham gia với nhu cầu thưởng thức văn nghệ, trả nợ cầm thi. Đó cũng là một lối chơi, cách hành lạc. Bài hát nói được trình bày có thể lấy bài cũ, có thể lấy bài mới hoặc sáng tác tại chỗ và các quan viên. có thể biểu thái độ tán thưởng bài hát, giọng hát bằng cách ném thẻ trù nơi quy định. Loại ý kiến phản hồi kịp thời như vậy đã tác động đến sáng tác. Khác với thi đàn, thi xã, thành phần tham gia tổ chức này không chỉ là trí thức cao cấp nên họ được phép không nghiêm nghị trong phạm vi, được phép lúc ngâm nga xáo trộn cổ kim đi. Hát nói chỉ tồn tại trong môi trường đó và nó được sáng tác để hướng tới, để đáp ứng nhu cầu giải trí văn nghệ của loại công chúng đó một công chúng mang đậm tính chất thị dân xã hội trung cận đại. Nó không còn là nhu cầu tự thân tác giả muốn bộc lộ tâm trí, nhu cầu làm văn để tải đạo, để minh đạo.

Trang 1

I Mối quan hệ giữa Thơ mới và Hát Nói

Trong những năm đầu thập kỉ thứ 3 của thế kỷ trước xuất hiện mộtdòng thơ ca thuộc khuynh hướng lãng mạn Đó là thơ mới (hay còn gọi thơlãng mạn) Thơ mới là một cuộc thơ ca trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc

ở thế kỷ 20 Sự xuất hiện của thơ mới gắn với sự ra đời của phong trào thơmới 1932-1945 Phong trào thơ mới đã mở ra “Một thời đại mới trong thi ca”,

mở đầu cho sự phát triển của thơ ca việt nam hiện đại

Thơ mới ra đời đã đem đến một làn gió hoàn toàn mới làm thay đổinhững quy chuẩn của thơ ca truyền thống, phá vỡ tính quy ước, chuẩn mực đãngự trị trong lối thơ cổ từ trước đó Mặc dù thơ mới đã khẳng định được sựthắng thế trước thơ cũ nhưng từ trong mạch nguồn của nó vẫn có sự bắt nhịpvới các lối thơ ca truyền thống, điều này được thể hiện rất rõ trong mối quan

hệ giữa Thơ mới và hát nói

Về mối quan hệ giữa thơ mới và hát nói thì nhà thơ Nguyễn Đức Mậu

đã có những kiến giải sâu sắc về sự tiếp ứng trong cảm hứng sáng tác của haithể loại này, ông cho rằng:

Sau nhiều thế kỷ thơ thất ngôn ngự trị - dẫu có ngâm khúc, truyện nôm

và hát nói cũng không làm vị trí thơ thất ngôn trong thơ truyền thống lung lay

- đến những năm 30 của thế kỷ XX, Thơ mới ra đời như một sự nổi loạn, mộtcuộc cách mạng Thơ mới lúc đó mới là nói thơ Thế Lữ, Xuân Diệu, HuyCận với nội dung chủ yếu là biểu hiện những sắc thái tinh thần của conngười cá nhân và các hình thức chủ yếu là thơ bảy chữ, tám chữ, năm chữ, lụcbát Các nhà thơ cũ công kích Thơ mới nhưng điều đáng chú ý là chỉ côngkích về hình thức mà không nói về nội dung Mặc dầu bị đả phá kịch liệt, Thơmới vẫn nhanh chóng chiếm lĩnh văn đàn Đến những năm 40 của thế kỷ XX,các nhà Thơ mới tuyên bố bỏ khái niệm Thơ mới, tuy thế có lẽ họ vẫn còn đôichút mặc cảm nên tìm đến Tản Đà như một sự tìm về truyền thống, tìm một

sự tiếp nối Các yếu tố ở Tản Đà mà các nhà Thơ mới ca ngợi là cái phóngtúng và tính cách đa tình Những yếu tố ấy có ở trong nhiều bài thơ của nhiều

Trang 2

thể thơ mà Tản Đà sử dụng nhưng các yếu tố đó lại là nét đặc trưng hát nóiTản Đà nói riêng và hát nói nói chung.

Khi tìm sự liên hệ giữa hát nói và Thơ mới người ta thường nói về thểthơ như là một sự tiếp nhận thuần túy kỹ thuật là ở gieo vần, ở số chữ,nhưng như thế chưa đủ Sự liên tục đó biểu thị các mối quan hệ giữa nộidung và hình thức, giữa thể loại và người sáng tác, người tiếp nhận

Với thể thơ thất ngôn truyền thống thì hát nói khác lạ trên ba bìnhdiện: nó là thể thơ giàu chất văn xuôi, là thơ chơi của một công chúng vănhọc khác, của một môi trường văn học khác; nó cũng thể hiện con ngườinhà nho nhưng là nhà nho tự thoát ly thành người khác - nhà nho tài tử Cả

ba yếu tố đó không phải là những yếu tố cá biệt, riêng lẻ, tách rời mà đó lànhững yếu tố có liên quan mật thiết với nhau Sự phát triển của văn học,của một thể loại văn học, không chỉ là tiến trình tự nó mà còn chịu sự tácđộng của công chúng văn học Nhu cầu văn học, sinh hoạt văn học vàphương thức phổ biến văn học tác động đến chức năng, tính chất của sựphát triển của thể loại, của bộ phận, của thành phần văn học, của nền vănhọc Có thể nói rằng, công chúng của thơ chữ Hán chủ yếu là tác giả của nó

- những nhà nho Công chúng của thơ nôm mở rộng phạm vi đến nhữngngười bình dân Hát nói là loại thơ chơi, giàu tính chất văn nghệ nhất trongthơ truyền thống nhưng không được coi là chính thống Công chúng của nó

là những tài tử giai nhân, những khách thương tự do, những người học tròhỏng thi, những cầm nương, kỹ nữ giang hồ có "nợ phong lưu" Họ lànhững người thoát ra khỏi sự kiểm soát của lễ giáo, của tâm lý dị nghị

"xướng ca vô loài", tập hợp nhau vào một tổ chức "ngoài xã hội quanphương", tổ chức hát ca trù Họ tham gia với nhu cầu thưởng thức vănnghệ, trả nợ "cầm thi" Đó cũng là một lối "chơi", cách hành lạc Bài hátnói được trình bày có thể lấy bài cũ, có thể lấy bài mới hoặc sáng tác tạichỗ và các quan viên có thể biểu thái độ tán thưởng bài hát, giọng hát bằngcách ném thẻ trù nơi quy định Loại ý kiến phản hồi kịp thời như vậy đã tác

Trang 3

động đến sáng tác Khác với thi đàn, thi xã, thành phần tham gia tổ chứcnày không chỉ là trí thức cao cấp nên họ được phép không nghiêm nghịtrong phạm vi, được phép "lúc ngâm nga xáo trộn cổ kim đi" Hát nói chỉtồn tại trong môi trường đó và nó được sáng tác để hướng tới, để đáp ứngnhu cầu giải trí văn nghệ của loại công chúng đó - một công chúng mangđậm tính chất thị dân xã hội trung cận đại Nó không còn là nhu cầu tự thântác giả muốn bộc lộ tâm trí, nhu cầu làm văn để tải đạo, để minh đạo.

Cấu trúc nhịp điệu, tổ chức câu thơ của hát nói đã khác truyền thống,trước hết đó là nội dung thể hiện đòi hỏi, nhưng cũng có phần đã chịu sựtác động của nhu cầu, môi trường mà nó tồn tại Cách thức tồn tại của hátnói là hát Nhịp 3/2/3 (câu tám chữ) và nhịp 3/4 (câu bảy chữ) làm cho ngữđiệu câu thơ gần với ngữ điệu văn nên hát nói có thể đọc, có thể chuyển từphương pháp tự sự sang giai điệu Cùng với cách ngắt nhịp như thế và việcngắt câu làm hai dòng, việc sử dụng hư từ, khẩu ngữ, liên từ làm cho vănxuôi hóa thơ:

Ừ thế thì, khi trăng trong, khi gió mát, lúc hoa xuân.

Chi sự nghiệp, để tình quân ngao ngán dạ

(Tản Đà)

Yếu tố số chữ trong câu thơ cũng góp phần làm tăng cường chất vănxuôi (trừ loại câu đã được nhịp nhàng hóa kiểu 2/2/2/2 trong câu 8 của thơlục bát) Bởi vậy, so với thơ thất ngôn thì câu 8 chữ của hát nói là hướng

mở về hướng văn xuôi cùng với loại câu 9 chữ, 13 chữ, 23 chữ trong thểthơ này Nhiều công trình đã nói đến ưu điểm của việc đưa yếu tố vănxuôi vào thơ nhưng xem đó như là thành công đầu tiên của Thơ mới Việcvăn xuôi hóa thơ trữ tình là biểu hiện sự phá vỡ niêm luật nghiệt ngã củathơ luật để thể hiện cảm xúc thực và phong phú của đời sống tâm hồn conngười cá nhân Môi trường sinh hoạt của hát nói tạo điều kiện cho yếu tốtính cách cá nhân của nhà Nho bộc lộ Đặt loại tính cách cá nhân nàytrong dòng lịch sử hát nói thì sẽ thấy nó nằm trên cùng một tuyến phát

Trang 4

triển bao gồm từ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Quý Tân,Dương Khuê, Tản Đà Những đại biểu ấy tự ý thức về mình hơn ngườitrên các phương diện: tài, tình, chơi, hưởng thụ, kinh luân và họ thườngbiểu hiện thái độ tự do phóng túng Họ tự nhận mình là người tài tử vàmuốn lập một sự nghiệp lẫy lừng để trổ tài, để làm điều khác thường trongthiên hạ (yêu vi thiên hạ kỳ) để "đâu đấy tỏ" Người tài tử không chịu yênphận trong khuôn phép, trong trật tự lễ giáo, vì vậy thường bộc lộ sựngang tàng phá phách "dọc ngang ngang dọc" (Nguyễn Công Trứ) Tưtưởng tự do đó cùng một biểu hiện với sự phô mình, khoe mình ra Đó là

từ ý thức về mình, vì mình, xuất phát điểm là bản thân mình, lấy cá nhânmình làm trung tâm chứ không phải ý thức về nghĩa vụ với cộng đồng, vớiquân vương Cùng một biểu hiện là sự bộc bạch về mình, về "nợ côngdanh" nhưng ở người tài tử và người hào kiệt tự nhiệm, những biểu hiện

đó khác nhau về mục đích và ý nghĩa Sự ý thức về cá nhân của người tài

tử bao giờ cũng được đặt trên nền ý thức của cộng đồng về chính mình, vìvậy mới có sự day dứt: "người có biết ta hay chăng tá" và khẳng định

"chẳng biết ta ta vẫn là ta" (Nguyễn Công Trứ) Sự khẳng định mình mộtcách mạnh mẽ "có sự nghiệp đứng trong trời đất Không công danh thờinát với cỏ cây" trên một phương diện nào đó đã gần với ý thức cá nhân tưsản: hoặc là tất cả, hoặc không là gì cả Thế nhưng người tài tử nào cũngbăn khoăn rất nhiều về "tình trái" (nợ tình) Tản Đà tự nhận mình là

"giống đa tình" Cái đa tình của người tài tử lại được biểu hiện dưới dạngcác lời than: tài tử giai nhân tương phùng ít ỏi, hội ngộ khó khăn, hay lybiệt, sầu tương tư Họ tự giải thích: "đa tình bởi tại tài hoa", "Càng tài tửcàng nhiều tình trái" (Nguyễn Công Trứ) Như vậy người tài tử vừa tựcông khai tính đa tình vừa xem tình yêu là một nhu cầu và đã mặc nhiênthừa nhận sự tồn tại của nó như một lẽ tất nhiên Trong thơ nôm các mối

tình "vụng trộm" đều được biện chính Các mối tình trong Phan Trần, Sơ

kính tân trang đều được hợp thức hóa bởi sự hẹn ước của gia đình Cái

Trang 5

quyết định mối tình Kim - Kiều nằm bên ngoài ý muốn chủ quan của họ:

"nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha" và các "cuộc tình" của Kiều thì phảiphê là "mắc điều tình ái" cho hợp lý Quan hệ phong phú của con người bịNho giáo, ý thức hệ chính thống khuôn lại thành năm hay ba mối quan hệ(tam cương, ngũ thường) mà quan hệ tình yêu không được chấp nhận.Việc lấy vợ, lấy chồng chỉ là "thực hiện một nghĩa vụ khách quan" chứkhông phải là kết quả tự nguyện của tình yêu, của "một khuynh hướng chủquan", vì vậy có đôi chút tình yêu chăng, chủ yếu cũng chỉ là "bổ sungvào hôn nhân", "sau hôn nhân", hoặc ở người ngoại tình Trong điều kiệnnhư thế, tình yêu nam nữ theo nghĩa hiện đại chỉ xảy ra "ngoài xã hộiquan phương" và cái tôi đa tình được công khai có ý nghĩa chống lại ýthức lễ giáo Cái tôi đa tình làm thay đổi cái nhìn về phụ nữ: yếu tố sắcđược đưa lên hàng đầu (giai nhân) và người phụ nữ không chỉ được nhìnnhận dưới góc độ thuần túy đạo đức Sự hình thành mối quan hệ tình yêu

là điều kiện cho cảm xúc yêu đương phát triển Cảm xúc yêu đương trởthành đối tượng được nhận thức, đối tượng được thể hiện Cao Bá Quát

"bứt rứt trăm đường nghìn nỗi" vì tình Nguyễn Công Trứ cho tình yêu làthứ bất khả giải và ông trở thành tù binh của "ma lực" đó: "mắc mớ vào

đố gỡ cho ra" Như vậy tình yêu không còn là một thứ vừa hạnh phúc vừa

có lỗi như trong truyện nôm Tình yêu, một mặt của đời sống hiện thực,

có điều kiện thể hiện các dạng thái chân thực của nó Sự thể hiện quan hệyêu đương cũng có một tiến trình phát triển Người giai nhân ở NguyễnCông Trứ, Nguyễn Quý Tân, Cao Bá Quát đến Dương Khuê mới có hìnhhài và tên gọi cụ thể: cô đầu Cúc, cô đầu Oanh ; đến Tản Đà, người giainhân có thêm một sắc thái mới: sự trôi nổi giang hồ Con người cá nhân từchỗ tự ý thức về mình đi đến biểu hiện mình, chiếm lĩnh mình như mộtthực thể khách quan để phản ánh Qua quá trình lịch sử con người mới trởthành cá nhân, vì vậy việc nó tự ý thức và thể hiện chính nó cũng từ đơngiản đến phức tạp, từ sơ sài đến hoàn chỉnh Con người cá nhân tài tử

Trang 6

trong hát nói mặc dầu vùng vẫy vẫn không thoát khỏi trật tự luân thường,vẫn chấp nhận trật tự đó như lẽ tất nhiên, và không đi đến giải phóng cánhân Nó đòi hỏi tình yêu nhưng vẫn không đi đến giải phóng phụ nữ Ởđấy cũng không thể hình thành quan niệm bình đẳng Người giai nhân sẽ

bị xem là "đào tiên lăn cõi tục" (Cao Bá Quát) nếu không nằm trong côngthức hợp lý "giai nhân tài tử" Vì vậy, mặc dù đã thay đổi cấu trúc nhịpđiệu và văn xuôi hóa, hát nói vẫn chưa làm thay đổi được quan niệm vănhọc chức năng đã tồn tại từ lâu trong văn học truyền thống Các nét tínhcách cá nhân ở hát nói vẫn còn đơn điệu so với văn học hiện đại

Con người cá nhân mà Thơ mới phản ánh là lớp trí thức Tây họcsống trong thành thị tư sản được văn hóa, văn học phương Tây trang bị vềquan niệm chủ nghĩa cá nhân, về quan niệm văn học Những yếu tố đượctiếp tục lúc đầu là tự phát, không phải kế thừa, về sau các nhà Thơ mớitìm về truyền thống với ý thức tự giác Xuân Diệu tìm về Tản Đà và cùngvới Thao Thao, Thế Lữ, Huy Cận tìm về thơ tám chữ qua hát nói Một sốnhà thơ khác tìm về lục bát, thất ngôn, song thất lục bát Xuân Diệu cangợi Tản Đà ở khía cạnh "dám cho trái tim và linh hồn sống cái đời riêngcủa chúng" Từ con người tự giải phóng nửa vời của thành thị phong kiến

- người tài tử, trong sự kiềm tỏa của thể chế chuyên chế, của lễ giáo luânthường Nho giáo đến con người cá nhân chủ nghĩa tư sản thuộc địa thìmột số mặt được phát triển, một số mặt mất dần Con người cá nhân tưsản coi cá nhân là những thực thể độc lập, duy nhất và mọi người lànhững cá nhân Nó tôn trọng người khác với sắc thái cá thể của họ, của

"vũ trụ chứa đầy bí mật", "em là em anh vẫn cứ là anh" (Xuân Diệu) Nóbước lên văn đàn với chữ "tôi" và tự giới thiệu "tôi là một khách tình si"(Thế Lữ); "Tôi là con chim lạc chiều đánh lưới (Xuân Diệu), "tôi là "làm nhiều người đương thời bỡ ngỡ, khó chịu Yếu tố thị tài như ở người

cá nhân tài tử không còn đất sống, chỉ hồi quang ở hình ảnh như con hổ ởvườn bách thú (Thế Lữ), con voi già của Phạm Huy Thông Xã hội thành

Trang 7

thị tư sản thu hút tài năng về nhiều hướng chuyên môn và cái tài đượcđịnh giá, vì vậy tính cách thị tài không phát triển Các loại tài: học vấn,kinh luân, cầm quân, cầm thi không còn tụ lại trong số người và tâm lýhưởng thụ không còn là tâm lý cá biệt để phô trương như ở người tài tửtrong hát nói Một loạt yêu cầu xuất hiện, vì vậy, cầm, kỳ, thi, tửu khôngcòn là vị trí chủ yếu của sinh hoạt tinh thần Con người cá nhân tư sảntrong Thơ mới không phát triển toàn diện để nhận lãnh vai trò lịch sử củamình, để xây dựng ý thức hệ mới phủ định ý thức hệ cũ mà phát triển theohướng ích kỷ, lạnh lùng, tôn thờ cái tôi và thần ái tình Sự cảm nhận vàthể hiện tình yêu được phát triển Sự ý thức về cuộc đời ngắn ngủi "thuởtrung gian thiếu tráng có là bao" (Nguyễn Công Trứ) đến Xuân Diệu đượcnâng lên thành triết lý, tuyên ngôn sống (Vội vàng, Giục giã) Nếu ở Tản

Đà người kỹ nữ xuất hiện hình ảnh trôi nổi giang hồ (Cánh bèo) thì người

kỹ nữ ở Xuân Diệu đã xuất hiện sự khủng hoảng "chớ để riêng em lại gặp

lòng em" (Lời kỹ nữ) và ở Thế Lữ người kỹ nữ đã ý thức về sự bạc bẽo

"tôi nhớ tình ta anh vội quên" (Bên sông đưa khách) Các nhà Thơ mới

vừa thể hiện sự phức tạp của đời sống tâm hồn của con người cá nhân,vừa thấy được cái biểu hiện mới trong cảm xúc yêu đương kiểu: "Đượcgần nhau sung sướng biết bao nhiêu" (Xuân Diệu) hoặc "Cái buổi ban đầulưu luyến ấy " (Thế Lữ) Đó là những dạng tâm trạng chưa có trongtruyền thống

Sự biểu hiện đời sống tâm hồn phong phú của con người cá nhân đòihỏi phải đổi mới phương thức biểu hiện Trên đường tìm một hình thứcthích hợp để thể hiện mình, các nhà Thơ mới đã tìm thấy ở hát nói các yếutố: số chữ, gieo vần, nhịp điệu (nhịp 2/3 và nhịp 3/4) Một số yếu tố kháccủa hát nói được tiếp tục như ngắt câu thơ thành hai dòng, sử dụng hư từ,khẩu ngữ, liên từ kiểu:

Song le sương khói yêu đương vẫn,

Phảng phất còn vương vấn cạnh lòng

Trang 8

(Thế Lữ)

Đó là biểu hiện văn xuôi hóa thơ trữ tình Quá trình văn xuôi hóa thơtrữ tình biểu hiện cụ thể từ hát nói đến Thơ mới như một tiến trình từtruyền thống đến hiện đại Chính việc đưa chất văn xuôi xâm nhập Thơ mới

mà thơ của họ bị phái thơ cũ phê là lủng củng, rườm rà, không có âm điệu

và sự phê phán này đứng từ điểm nhìn của thơ Đường luật Sự tiếp nhậnyếu tố truyền thống nhất thiết phải từ một hoặc một số người đủ hiểu biết

và thú vị với thơ truyền thống Hát nói tiếp tục được hiện diện trong Thơmới, ngoài ra yếu tố nội tại của nó thích hợp với cái mới, phải kể đến vaitrò của những cá nhân các nhà thơ như Thao Thao và Thế Lữ

Nếu như hát nói tồn tại trong một tổ chức "ngoài xã hội quanphương" thì Thơ mới lúc đầu chỉ được sự hưởng ứng, đòi hỏi của nhữnghọc sinh Tây học, tiểu tư sản và tầng lớp thị dân Công chúng Thơ mới cầnvăn học để giải trí, để được xúc động, hấp dẫn - và tiếp nhận văn học theoquan niệm văn học phương Tây Thế hệ công chúng này thay thế nhà nhotrong việc đánh giá, đòi hỏi văn học đương đại Nhà nho bây giờ đã trởthành hình ảnh đáng thương trong thơ Vũ Đình Liên Cuộc sống đã kháctrước, vì vậy ánh trăng, dậu mùng tơi, lũy tre làng dừng lại ngoại thànhkhông còn tác động đến cách cảm, cách nghĩ của người dân thị thành Một

cô gái từ quê ra tỉnh khi trở về cũng "bay đi ít nhiều" hương đồng gió nội,không thể giữ nổi vẻ "chân quê" (Nguyễn Bính) Trong các loại sinh hoạtvăn học truyền thống chỉ còn hát ca trù tồn tại được ở thành thị với vài biếnđổi Sáng tác văn học đã trở thành một nghề và nhanh chóng nhận được ýkiến phản hồi Sinh hoạt văn học không còn là của số ít người, và nó trởthành nhu cầu được sự đón đợi của nhiều người Như vậy, về mặt nhu cầuvăn học, sinh hoạt văn học, phương thức phổ biến văn học của côngchúng hát nói và Thơ mới, là những mức độ khác nhau, cấp độ khác nhau,trên cùng hướng phát triển

Trang 9

Khảo sát tính liên tục của những yếu tố trên, từ hát nói đến Thơ mới,

đã cho thấy rằng:

− Trong lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ cổ trung đại có lúc đãxuất hiện những điều kiện để hình thành (và đã hình thành) xu hướng vănhọc mới nhưng không đủ sức phát triển lên để tự đổi mới văn học dân tộc.Nguyên nhân sâu xa là trong lịch sử Việt Nam thời trung đại chưa có sựphát triển mạnh mẽ của đô thị để có một tầng lớp thị dân và từ đó, để cómột dòng văn học thành thị đáp ứng nhu cầu tinh thần của nó

- Mối quan hệ giữa hát nói và Thơ mới không chỉ có quan hệhình thức Nội dung của sự kế thừa, sự liên tục đó là con người tự giảiphóng nửa vời của thành thị phong kiến trong sự thúc ước của thể chếchuyên chế luân thường Nho giáo, sang con người cá nhân chủ nghĩa của

xã hội tư sản thuộc địa

Sau 75 năm kể từ khi ra đời cho đến nay, phong trào thơ mới đã có chỗđứng vững chắc trong đời sống văn học dân tộc Qua thời gian những giá trịtốt đẹp của phong trào thơ mới việt nam 1932-1945 càng được thử thách và

có sức sống lâu bền trong lòng các thế hệ người đọc Nhìn nhận thơ mới trongmối quan hệ với thể hát nói- một thể thơ truyền thống của dân tộc đã chochúng ta thấy được sự tiếp ứng của chặng đường phát triển thơ ca việt namtrên con đường tiến đến thơ ca hiện đại Giá trị của thơ ca nằm trong lòngcông chúng nhưng sự vận động của nó lại gắn liền với những hoàn cảnh lịch

sử cụ thể đưa đến những cảm hứng mới cho thơ ca việt nam đương đại.Những tìm tòi và phát hiện của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu góp phần đưa đếncho người đọc cái nhìn đa diện và sâu sắc hơn về sự phát triển của thơ mớitrong lòng thơ ca dân tộc, đồng thời cũng khẳng định được sự tiến bộ và cáchtân của thơ mới trên bước đường làm thay đổi diện mạo của thơ ca việt nam,tiến dần đến sự phát triển của thơ ca đương đại

II Ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ mới

Trang 10

1 Ảnh hưởng của Đường Thi đối với Thơ Mới là một vấn đề từ lâu đã được

đề cập tới Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân ViệtNam mặc dù dành nhiều trang để miêu tả ảnh hưởng cuả thơ Pháp (đặc biệt làtrường phái Tượng trưng) nhưng các ông đã trân trọng và có một hứng thúđặc biệt về ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ Mới (điều này được bộc lộqua công phu miêu tả, khảo cứu và cụ thể hơn từ chính số lượng trang viết).Khi phân chia các dòng mạch Thơ Mới, Hoài Thanh - Hoài Chân nói tới dòngmạch chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng mạch mang tính cách Việt, đồngthời cũng nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng từ Đường Thi

Tiếp sau Thi nhân Việt Nam, những tác động của thơ Đường đối vớiThơ Mới cũng là đối tượng được nghiên cứu trong một loạt những chuyênluận, những bài viết của Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, PhươngLựu… Nhiều cứ liệu cũng như những vấn đề lý luận đã được bổ sung và tổngkết Xung quanh vấn đề này, ý kiến của các nhà nghiên cứu là khá thống nhất

Ai cũng nhận thấy chất liệu Đường Thi đã khảm sâu và trở thành một bộ phậnhữu cơ trong chỉnh thể của thế giới nghệ thuật Thơ Mới Tuy vậy, một sự khảocứu toàn diện và công phu về ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ Mớinhìn chung vẫn là một việc trong tương lai Bản tham luận này do thế là một

cố gắng nhằm thu hẹp dần cái khoảng cách cần được vượt qua này

2 Trong bài này, để mô tả ảnh hưởng của Đường Thi đối với Thơ Mới chúngtôi dựa vào bố cục của một bài thơ bao gồm các phần nhan đề, đề từ, tên tácgiả, khổ thơ, câu thơ (cú pháp, từ ngữ, hình ảnh) Trên cơ sở khảo sát các tácphẩm trong: Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh - Hoài Chân), Mấy vần thơ (ThếLữ), Tuyển tập Xuân Diệu - Tập 1, Tuyển tập Huy Cận, Tuyển tập Lưu Trọng

Lư, Tuyển tập Nguyễn Bính, Mùa cổ điển (Quách Tấn), Điêu tàn (Chế LanViên),Tác phẩm chọn lọc (Hồ Dzếnh), Thơ say (Vũ Hoàng Chương), Thơ vănHàn Mặc Tử

Ngày đăng: 21/04/2018, 14:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w