1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

KIẾN THỨC TRỌNG tâm văn 12

363 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến Thức Trọng Tâm Văn 12
Chuyên ngành Ngữ Văn
Định dạng
Số trang 363
Dung lượng 4,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thao tác lập luận bình luận Khái niệm: Thao tác lập luận bình luận là nhận xét, đánh giá, thuyết phục người đọc người nghe đồng tình với ý kiến của mình về một hiện tượng vấn đề trong

Trang 3

Phần một: ĐỌC HIỂU

A TỔNG HỢP KIẾN THỨC LÝ THUYẾT

I CÁC PHONG CÁCH NGÔN NGỮ

1 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

Khái niệm: Ngôn ngữ sinh hoạt là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp sinh hoạt

hằng ngày, thuộc hoàn cảnh giao tiếp không mang tính nghi thức, dùng để trao đổi thông tin, ý nghĩ, tình cảm đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống

Đặc trưng: Ngôn ngữ sinh hoạt chủ yếu được thể hiện ở dạng nói, nhưng cũng tồn

tại ở dạng viết Trong các văn bản văn học, lời thoại của nhân vật thường ở dạng tái hiện,

mô phỏng lại

- Tính cụ thể: cụ thể về hoàn cảnh, cụ thể về con người và về cách diễn đạt

- Tính cảm xúc: thái độ, tình cảm qua giọng điệu, từ ngữ, cảm xúc,

- Tính cá thể: thể hiện qua cách nói riêng, giọng nói riêng, giới tính, tuổi tác, suy nghĩ,

Nhận biết: Các cuộc trò chuyện, đối thoại, nhật ký, thư từ

2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (hay còn gọi là ngôn ngữ văn chương, văn học)

Khái niệm: Ngôn ngữ nghệ thuật (văn chương) là ngôn ngữ được dùng trong các

văn bản thuộc lĩnh vực văn chương như nghệ thuật, văn xuôi, thơ, kịch,

Đặc trưng: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật thường mang các đặc tính sau:

- Tính tượng hình: từ ngữ, câu văn, hình ảnh hoặc toàn bộ văn bản có khả năng gợi ra nhiều

nghĩa, nhiều tầng nghĩa khác nhau, vừa có khả năng tạo nên một hình ảnh cụ thể, rõ nét, vừa gợi nhiều liên tưởng, từ đó hàm chứa những ý nghĩa sâu xa

- Tính truyền cảm: Bộc lộ cảm xúc của người viết và khơi gợi sự đồng cảm của người đọc

- Tính cá thể: Mỗi người có một giọng điệu riêng, một phong cách riêng từ việc sử dụng

ngôn từ đến cách sáng tạo, cách vận dụng ngôn ngữ

Nhận biết: Các văn bản trích từ các tác phẩm văn học: tự sự (truyện ngắn, tiểu

thuyết, phê bình, hồi kí), trữ tình (thơ, ca dao, tục ngữ), sân khấu (kịch, tuồng, chèo) Có thể tồn tại trong văn bản chính luận, báo chí

3 Phong cách ngôn ngữ báo chí

Khái niệm: Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức thời sự trong

nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo, của người viết và của dư luận quần chúng, nhằm cung cấp thông tin thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội

Trang 4

Đặc trƣng: Được dùng trong lĩnh vực thông báo tin tức, những vấn đề thời sự của

xã hội (phong cách ngôn ngữ báo chí hay còn gọi là thông tấn, có nghĩa là thu thập và biên tập tin tức để cung cấp cho các nơi)

- Tính thông tin thời sự: Những tin tức nóng hổi hằng ngày trên mọi lĩnh vực hoạt động

của xã hội phải được cập nhật, truyền bá một cách nhanh chóng

- Tính ngắn gọn: Để người đọc dễ dàng nắm bắt được thông tin cần thiết

- Tính sinh động, hấp dẫn: Để thu hút, kích thích sự tò mò hiểu biết của người đọc

Nhận biết: Căn cứ theo một số thể loại văn bản báo chí như:

- Bản tin (thời sự): cung cấp tin tức cho người đọc theo một khuôn mẫu: Nguồn tin – Thời

gian – Địa điểm – Sự kiện – Diễn biến – Kết quả

- Phóng sự: Cung cấp tin tức nhưng mở rộng phần tường thuật chi tiết sự kiện, miêu tả bằng

hình ảnh, giúp người đọc có một cái nhìn đầy đủ, sinh động và hấp dẫn

- Tiểu phẩm: Giọng văn thân mật, dân dã, thường mang sắc thái mỉa mai, châm biếm nhưng

hàm chứa một chính kiến về thời cuộc

- Quảng cáo: Một đoạn thông tin giới thiệu về sản phẩm và lời mời chào của nhà sản xuất,

đại lý phân phối hay người bán

4 Phong cách ngôn ngữ chính luận

Khái niệm: Ngôn ngữ chính luận là ngôn ngữ được dùng trong các văn bản trực tiếp

bày tỏ tư tưởng, lập trường, thái độ, chính kiến, đánh giá về những vấn đề thiết thực, nóng bỏng của đời sống trong lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội, theo một quan điểm nhất định

Đặc trƣng: Dùng để diễn đạt ý kiến, bình luận, đánh giá, nhận xét vấn đề theo quan

điểm chính trị

- Tính công khai về quan điểm chính trị: Bản chất của văn bản chính luận là đề cập đến

những vấn đề thời sự trong cuộc sống, vì vậy ngôn ngữ chính luận không chỉ đưa thông tin một cách khách quan mà phải thể hiện đường lối, quan điểm, thái độ chính trị của người viết (người nói) một cách công khai dứt khoát, không che giấu, úp mở Từ ngữ phải cân nhắc kĩ càng, đặc biệt những từ thể hiện lập trường, quan điểm chính trị

- Tính chặt chẽ trong biểu đạt và suy luận: Luận điểm, luận cứ, ý lớn, ý nhỏ, phải rõ ràng

rành mạch Hệ thống luận điểm chặt chẽ, từng ý, từng câu, từng đoạn được phối hợp với nhau một cách hài hòa, mạch lạc

- Tính truyền cảm, thuyết phục: Ngôn từ lôi cuốn, hấp dẫn, thuyết phục người nghe (người

đọc), giọng điệu hùng hồn, tha thiết, thể hiện lòng nhiệt huyết của người viết

Nhận biết: Các văn bản chính luận thời xưa thường viết theo thể hịch, cáo, thư,

sách, chiếu, biểu, Văn bản chính luận hiện đại bao gồm: các cương lĩnh; tuyên bố; tuyên ngôn, lời kêu gọi, hiệu triệu; các bài bình luận, xã luận; báo cáo, tham luận, phát biểu trong các hội thảo, hội nghị chính trị,

Trang 5

5 Phong cách ngôn ngữ khoa học

Khái niệm: Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh

vực nghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học

Đặc trƣng: Dùng trong môi trường của khoa học nhằm diễn đạt chuyên môn sâu

- Tính khái quát, trừu tượng: được thể hiện ở từ ngữ, cú pháp câu, nội dung và kết cấu văn

bản Nội dung thường dùng các thuật ngữ khoa học để biểu đạt Hình thức: trình bày theo kết cấu các phần, chương, mục, đoạn phục vụ cho hệ thống các luận điểm khoa học từ nhỏ đến lớn, từ cấp độ thấp đến cấp độ cao, từ khái quát đến trừu tượng (hoặc ngược lại)

- Tính lí trí, lôgíc: Thể hiện trong câu văn, cấu tạo đoạn văn và văn bản Từ ngữ mang một

nghĩa, không đa nghĩa hay nghĩa bóng và ít sử dụng các phép tu từ Câu văn phải chính xác, chặt chẽ, không dùng câu đặc biệt Mối quan hệ giữa các câu, các đoạn, các phần phải phục

vụ cho lập luận khoa học

- Tính khách quan, phi cá thể: Từ ngữ, câu văn hạn chế sử dụng những biểu đạt có tính

chất cá nhân Không mang dấu ấn cá thể của người viết, ít biểu lộ sắc thái cảm xúc

Nhận biết: Các bài học từ sách giáo khoa; các bài viết phổ biến kiến thức khoa học,

các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu

6 Phong cách ngôn ngữ hành chính

Khái niệm: Ngôn ngữ hành chính là ngôn ngữ dùng trong các văn bản hành chính

để giao tiếp trong phạm vi các cơ quan nhà nước hay các tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế hoặc giữa cơ quan với cá nhân, hay giữa các cá nhân với nhau trên cơ sở pháp lí

Đặc trƣng: Sử dụng trong lĩnh vực hành chính

- Tính khuôn mẫu: Thể hiện ở kết cấu văn bản thống nhất Phần đầu: quốc hiệu và tiêu

ngữ, tên cơ quan, địa điểm, thời gian ban hành văn bản Phần chính: nội dung chính của văn bản Phần cuối: chức vụ, chữ ký, họ và tên của người ký, dấu của cơ quan, nơi nhận

- Tính minh xác: Văn bản hành chính viết ra để thực thi nên đòi hỏi phải chính xác Câu từ

chỉ có một nghĩa, không dùng các phép tu từ hoặc lối biểu đạt hàm ý Nội dung được soạn thảo theo các căn cứ pháp lý rõ ràng và trình bày minh bạch các điều, khoản, chương, mục

để người tiếp nhận lĩnh hội chính xác và thi hành nghiêm túc Không được tùy tiện xóa bỏ, thay đổi hay sửa chữa

- Tính công vụ: Văn bản hành chính mang tính chất công việc chung của cả cộng đồng hay

tập thể, do đó hạn chế những biểu đạt tình cảm cá nhân

Nhận biết: Các văn bản như nghị quyết, nghị định, thông tư, chỉ thị, giấy chứng

nhận, đơn xin, bản khai, bản báo cáo, biên bản,

Trang 6

BÀI TẬP CỦNG CỐ Ngữ liệu 1: Văn bản sau thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

…Nguy hơn, thực phẩm bẩn chính là kẻ sát nhân thầm lặng, ảnh hưởng và di hại đến nhiều thế hệ làm kiệt quệ giống nòi, người tiêu dùng có còn đủ tỉnh táo để phân biệt trong ma trận thực phẩm đang giăng như mạng nhện ấy đâu là sạch, đâu là bẩn hay lực bất tòng tâm để rồi “nhắm mắt đưa chân”

Nếu không có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời, rồi đây 10, 20 năm sau, tỷ

lệ mắc ung thư và tâm thần của người Việt sẽ còn cao hơn rất nhiều Mọi nỗ lực để nâng cao chất lượng sống, cải tạo nòi giống chẳng lẽ bó tay trước những người đang đầu độc dân tộc mình!

Phát triển sẽ là gì nếu không phải giúp người dân nâng cao đời sống, tạo môi trường lành mạnh, an toàn để mỗi chúng ta sống và đóng góp cho xã hội, nhưng thực phẩm bẩn tràn lan như hiện nay như là cái u ác tính cho cả dân tộc, nếu không cắt bỏ sẽ di căn thành ung thư, hãy hành động ngay hôm nay đừng để đến lúc vô phương cứu chữa

Ngữ liệu 2: Văn bản sau thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

Nhận định bão có phạm vi ảnh hưởng rộng, khu vực chịu ảnh hưởng có các hoạt động kinh tế lớn, hệ thống cơ sở hạ tầng vừa trải qua các đợt mưa lũ kéo dài, trong công điện chiều 15/8, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai đã yêu cầu các địa phương quản lý chặt chẽ việc ra khơi của tàu thuyền Căn cứ tình hình cụ thể, chủ tịch tỉnh quyết định việc cấm biển

Địa phương cần tổ chức theo dõi, kiểm đếm tàu thuyền đang hoạt động trên biển, giữ thông tin liên lạc thường xuyên với chủ phương tiện để xử lý kịp thời các tình huống xấu có thể xảy ra; liên tục kiểm tra, hướng dẫn việc neo đậu tàu thuyền tại khu neo đậu, trú tránh ven biển, trong sông và nhất là quanh các đảo; tuyệt đối không để người dân ở lại lồng bè, chòi canh, tàu thuyền

Đối với khu vực đất liền, Ban chỉ đạo yêu cầu các địa phương hướng dẫn người dân chằng chống nhà cửa, biển quảng cáo, chặt tỉa cành cây; triển khai phương án đảm bảo an toàn cho các công trình công cộng, bến cảng, khu công nghiệp ven biển, các dự án lớn đang thi công, kho tàng, hầm lò, hệ thống truyền tải điện, bãi thải khai thác khoáng sản

Ngữ liệu 3: Văn bản sau thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

Đoạn trích 1

– Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?

Chí Phèo lim dim mắt, rên lên:

– Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi Nhưng tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp,

mà còn rũ tù chưa biết chừng

Trang 7

Cụ Bá cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm; người ta bảo cụ hơn người cũng bởi cái cười:

– Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì mà anh phải chết? Đời người chứ có phải con ngóe đâu? Lại say rồi phải không?

Đoạn trích 2

- Mẹ đi chợ về rồi à? Mẹ có mua bánh mì cho con không?

- Ôi! Mẹ lại quên mất rồi Con lấy xe đi đi

- Mấy giờ rồi mẹ nhỉ? Cô Lan còn bán hàng không ạ?

- Cô ấy bán đến mười rưỡi, bây giờ mới chín giờ thôi

Ngữ liệu 4: Văn bản sau thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

Có rất nhiều các giống mèo khác nhau, một số không có lông hoặc không có đuôi,

và chúng tồn tại với rất nhiều màu lông Mèo là những con vật có kỹ năng của thú săn mồi và được biết đến với khả năng săn bắt hàng nghìn loại sinh vật để làm thức ăn Chúng đồng thời là những sinh vật rất thông minh, có thể được dạy hoặc tự học cách sử dụng các công cụ đơn giản như mở tay nắm cửa hay giật nước trong nhà vệ sinh, đẩy vật dụng khi cần thiết

Mèo giao tiếp bằng cách kêu meo, gừ-gừ, rít, gầm gừ và ngôn ngữ cơ thể Mèo trong các bầy đàn sử dụng cả âm thanh lẫn ngôn ngữ cơ thể để giao tiếp với nhau

Giống như một số động vật đã thuần hóa khác (như ngựa), mèo vẫn có thể sống tốt trong môi trường hoang dã như mèo hoang Trái với quan niệm thông thường của mọi người rằng mèo là loài động vật cô độc, chúng thường tạo nên các đàn nhỏ trong môi trường hoang dã

Ngữ liệu 5: Nêu phong cách ngôn ngữ của đoạn trích sau:

Công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi gắn với nhiệm vụ chính trị của cấp

ủy, chính quyền các cấp, điều kiện cụ thể của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, đã đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện Nội dung, phương thức giáo dục không ngừng đổi mới Phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ có bước phát triển, tạo được dấu

ấn tốt trong đời sống xã hội Tổ chức Đoàn, mặt trận Đoàn kết tập hợp thanh niên ngày càng được củng cố, công tác phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh và chăm sóc thiếu niên, nhi đồng được quan tâm Nhiều nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong thanh niên được phát hiện, tôn vinh, góp phần tạo dựng hình ảnh đẹp về lớp thanh niên Việt Nam thời kỳ mới Uy tín, vị thế của tổ chức Đoàn trong xã hội và vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng

Trang 8

II CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT

1 Phương thức tự sự (kể chuyện, tường thuật)

Khái niệm: Tự sự là kể lại, thuật lại, trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này

dẫn đến sự việc kia, cuối cùng kết thúc thể hiện một ý nghĩa

Đặc trưng: Có cốt truyện; có nhân vật, có sự việc; có tư tưởng, chủ đề; có ngôi kể

2 Phương thức miêu tả

Khái niệm: Miêu tả là làm cho người đọc, người nghe, người xem có thể thấy sự

vật, hiện tượng, con người (đặc biệt là thế giới nội tâm) như đang hiện ra trước mắt qua ngôn ngữ miêu tả

Đặc trưng: Văn tả cảnh, tả người, tả vật, tả tâm lý nhân vật

3 Phương thức biểu cảm

Khái niệm: Biểu cảm là bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp tình cảm, cảm xúc của mình

về các sự vật, hiện tượng xung quanh

Đặc trưng: Các văn bản trữ tình, thơ, thư, điện mừng, thăm hỏi, chia buồn,

4 Phương thức thuyết minh

Khái niệm: Thuyết minh là trình bày thuộc tính, cấu tạo, chỉ số, dữ liệu, nguyên

nhân, mặt có ích hoặc có hại của sự vật hiện tượng để người đọc (người nghe) có tri thức

và có thái độ đúng đắn với chúng

Đặc trưng: Giới thiệu di tích, danh lam thắng cảnh, nhân vật, sản phẩm, sự kiện

5 Phương thức nghị luận

Khái niệm: Nghị luận là trình bày tư tưởng, quan điểm, ý kiến để bàn bạc phải trái,

đúng sai nhằm bộc lộ chủ kiến, thái độ của người nói (người viết)

Đặc trưng: Cáo, hịch, chiếu, biểu, xã luận, bình luận, lời kêu gọi, sách lí luận, tranh

luận về một vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa

6 Phương thức hành chính – công vụ (văn bản điều hành)

Khái niệm: Hành chính – công vụ là văn bản điều hành xã hội, có chức năng xã hội,

điều hành bằng luật pháp, văn bản hành chính

Đặc trưng: Có quy định, sự ràng buộc mối quan hệ giữa các tổ chức nhà nước, giữa

cá nhân với nhau trong khuôn khổ hiến pháp và các bộ luật văn bản pháp lý

Trang 9

BÀI TẬP CỦNG CỐ Ngữ liệu 1: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:

Trải qua các cuộc chiến tranh chống xâm lược, những cuộc đọ sức với thiên tai khắc nghiệt, nhân dân ta đã có truyền thống đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau Tình làng, nghĩa xóm, thương người như thể thương thân đã trở thành đạo lí của dân tộc ( ) Trước kia, ông cha ta đã phê phán thói xấu chỉ biết thu vén cho riêng mình: “Đèn nhà ai nấy sáng”, “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại” Cuộc sống quanh ta hiện nay không thiếu những người như thế Họ sống thờ ơ với mọi việc đang diễn ra, nhà nào đóng cửa biết nhà ấy Nhà hàng xóm có hoạn nạn, có con cái bị rơi vào cạm bẫy của các tệ nạn xã hội họ cũng bàng quan như không biết Đi đường gặp người bị tai nạn, họ cũng bỏ qua như không nhìn thấy Thấy lũ trẻ cãi nhau, đánh nhau, họ cũng làm ngơ Trước cảnh khổ đau của những người tàn tật, bất hạnh, họ cũng không mảy may xúc động ( )

(ST, trích báo Nhân dân, ngày 17-12-2006)

Câu 1: Đoạn trích trên chủ yếu sử dụng phương thức biểu đạt nào?

Câu 2: Nêu nội dung của đoạn trích trên Anh/chị suy nghĩ gì về thái độ sống của con

người hiện nay?

Ngữ liệu 2: Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi

Tôi yêu quý mẹ tôi như bất cứ một người con hiếu thảo nào trên trái đất này Mẹ nặng công sinh thành dưỡng dục Dù giông bão hay bạo tàn có lớn đến đâu tình mẹ đối với con vẫn như nước trong nguồn chẳng bao giờ vơi cạn

Mẹ tôi là một người phụ nữ nông dân suốt đời lam lũ Cuộc sống khó khăn khiến mẹ bươn trải đủ nghề để lo lắng chu toàn cho ngôi nhà của chúng tôi Tôi thương mẹ lắm! Mới hơn 40 tuổi mà tóc của mẹ đã có nhiều sợi chuyển hoa râm Đôi bàn tay mẹ gầy gầy xương xương và nứt nẻ Vầng trán hiền hòa và đuôi khóe mắt cũng ngày một đậm hơn những vết rạn chân chim Nhìn dáng mẹ tôi xúc động vô cùng bởi nó hiện lên cả một cuộc đời vất vả lo âu

(Trích Cảm nghĩ về mẹ)

Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt của đoạn trích trên?

Câu 2: Đoạn trích trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về tình mẫu tử?

Ngữ liệu 3: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi

Thơ lục bát có nguồn gốc lâu đời, là một thể thơ dân tộc, thơ lục bát bao gồm: có thể từ hai câu trở lên Trong đó cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu Các cặp câu gồm

có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát), xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài không giới hạn Thông thường thì bắt đầu bằng câu

Trang 10

sáu chữ và chấm dứt ở câu tám chữ Nhưng cũng có khi kết thúc bằng câu sáu để đạt tính

lơ lửng, thanh và vần, vì vậy tìm hiểu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau

Luật thanh trong thơ lục bát: Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc: nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh Nghĩa là các tiếng thứ 1, 3, 5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ

2, 4, 6 thì phải theo luật chặt chẽ như sau:

Câu lục: Theo thứ tự tiếng thứ 2 - 4 - 6 là Bằng (B) - Trắc (T) - Bằng (B)

Câu bát: Theo thứ tự tiếng thứ 2 - 4 - 6 - 8 là B - T - B – B

Ví dụ:

Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân (B - T - B)

Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều (B - T - B - B)

Câu 1: Phương thức biểu đạt của đoạn trích trên là gì?

Câu 2: Chỉ ra nội dung của đoạn trích?

Trang 11

III CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN

1 Thao tác lập luận giải thích

Khái niệm: Thao tác lập luận giải thích là cắt nghĩa một sự vật, hiện tượng, khái

niệm để người khác hiểu rõ, hiểu đúng vấn đề

Cách giải thích: Tìm từ ngữ, lý lẽ để giảng giải, cắt nghĩa cho vấn đề Tự đặt ra hệ

thống câu hỏi để trả lời

2 Thao tác lập luận phân tích

Khái niệm: Thao tác lập luận phân tích là làm rõ đặc điểm về nội dung, hình thức,

cấu trúc và các mối quan hệ xoay quanh đối tượng

Cách phân tích: Chia tách đối tượng thành nhiều yếu tố theo những tiêu chí, quan

hệ nhất định Từ đó, đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh, để làm sáng tỏ vấn đề nhưng vẫn phải bao quát chúng theo một chỉnh thể thống nhất

3 Thao tác lập luận chứng minh

Khái niệm: Thao tác lập luận chứng minh là dùng những bằng chứng chân thực,

xác đáng đã được thừa nhận để làm rõ đối tượng

Cách chứng minh: Xác định vấn đề chứng minh để tìm nguồn dẫn chứng phù hợp

Dẫn chứng phải phong phú, tiêu biểu, toàn diện sát hợp với vấn đề cần chứng minh, sắp xếp dẫn chứng phải lôgíc, chặt chẽ và hợp lý

4 Thao tác lập luận so sánh

Khái niệm: Thao tác lập luận so sánh là làm rõ đối tượng đang được nhắc tới trong

mối tương quan với đối tượng khác

Cách so sánh: Đặt đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên cùng một tiêu

chí, nêu rõ quan điểm, ý kiến của người viết

5 Thao tác lập luận bình luận

Khái niệm: Thao tác lập luận bình luận là nhận xét, đánh giá, thuyết phục người

đọc (người nghe) đồng tình với ý kiến của mình về một hiện tượng (vấn đề) trong đời sống hoặc trong văn học

Trang 12

Cách bình luận: Trình bày rõ ràng, trung thực vấn đề bình luận, đề xuất và chứng

tỏ được ý kiến đánh giá là xác đáng Thể hiện rõ chủ kiến cá nhân

6 Thao tác lập luận bác bỏ

Khái niệm: Thao tác lập luận bác bỏ là dùng lý lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan

điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác Từ đó, đưa ra ý kiến đúng để thuyết phục

Cách bác bỏ: Nêu ý kiến sai, sau đó phân tích, bác bỏ, khẳng định, chứng minh ý

kiến đúng Khi bác bỏ, cần tỏ thái độ khách quan, đúng mực

Trang 13

BÀI TẬP CỦNG CỐ Ngữ liệu 1 Nêu thao tác lập luận của văn bản sau:

Loài người không được cho sẵn bất cứ cái gì trên mặt đất này Tất cả những gì anh

ta cần - anh ta phải làm ra chúng Và ở đây loài người đối mặt với sự lựa chọn cơ bản nhất của mình: anh ta chỉ có thể tồn tại được theo một trong hai cách - bằng cách làm việc độc lập với bộ óc của riêng anh ta, hay là trở thành một kẻ ăn bám sống nhờ bộ óc của những người khác Người sáng tạo chọn cách thứ nhất Kẻ ăn bám thì chọn cách thứ hai Người sáng tạo một mình đối mặt với tự nhiên Kẻ ăn bám đối mặt với tự nhiên thông qua những trung gian

Mối quan tâm của người sáng tạo là chinh phục tự nhiên Còn mối quan tâm của kẻ

ăn bám là chinh phục con người

Người sáng tạo sống với lao động của mình Anh ta không cần ai khác Mục đích cơ bản của anh ta là chính bản thân anh ta Kẻ ăn bám sống cuộc đời thứ cấp Anh ta cần những người khác Những người khác trở thành động lực chính của anh ta

(Trích tiểu thuyết Suối nguồn, Ayn Rand, NXB Trẻ, TP HCM.)

Ngữ liệu 2 Nêu thao tác lập luận của văn bản sau:

… (1) Cái thú tự học cũng giống cái thú đi chơi bộ ấy Tự học cũng là một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gấp trăm lần du lịch bằng chân, vì nó là

du lịch trong không gian lẫn thời gian Những sự hiểu biết của loài người là một thế giới mênh mông Kể làm sao hết được những vật hữu hình và vô hình mà ta sẽ thấy trong cuộc

du lịch bằng sách vở?

(2) Ta cũng được tự do, muốn đi đâu thì đi, ngừng ở đâu thì ngừng Bạn thích cái xã hội ở thời Đường bên Trung Quốc thì đã có những thi nhân đại tài tả viên – “Dạ minh châu” của Đường Minh Hoàng, khúc – “Nghê thường vũ y” của Dương Quý Phi cho bạn biết Tôi thích nghiên cứu đời con kiến, con sâu – mỗi vật là cả một thế giới huyền bí đấy, bạn ạ! Thì đã có J.H.Pha-brow và hàng chục nhà sinh vật học khác sẵn sàng kể chuyện cho tôi nghe một cách hóm hỉnh hoặc thi vị

(3) Đương học về kinh tế, thấy chán những con số ư? Thì ta bỏ nó đi mà coi cảnh

hồ Ba Bể ở Bắc Cạn hay cảnh núi non Thụy Sĩ, cảnh trời biển ở Ha-oai Hoặc không muốn học nữa thì ta gấp sách lại, chẳng ai ngăn cản ta cả

(Trích Tự học – một nhu cầu thời đại – Nguyễn Hiến Lê)

Trang 14

Ngữ liệu 3 Nêu thao tác lập luận của văn bản sau:

[…] Về mặt đạo lý, xem những người nhân văn chủ nghĩa là ăn bám cũng là sai lầm nghiêm trọng Tự do, bình đẳng, bác ái chính là tiêu chí cơ bản của một xã hội bắt đầu hiểu bản chất con người Chúng ta sinh ra, ai cũng có quyền bình đẳng, nhưng tạo hóa không thể công bằng với mỗi cá nhân Tạo hóa không thể phân phát trí tuệ và kĩ năng như nhau cho tất cả mọi người Chúng ta không thể chọn cha mẹ, chọn gia cảnh để sinh ra Có nghĩa, con người sinh ra vốn đã không bình đẳng Vậy thì ai sẽ mang lại cho chúng ta sự bình đẳng nếu không phải là những người theo chủ nghĩa nhân văn – những người quan tâm không chỉ tới những cá nhân xuất chúng mà còn tới những mảnh đời bất hạnh – nền tảng quan trọng của một xã hội tìm kiếm sự công bằng? Và để đảm bảo sự đánh giá công bằng đối với người sản xuất, có thể dẫn ra một quan điểm, ai đóng thuế nhiều và tạo nhiều việc làm cho xã hội là người tốt Giá trị của một người chính là ở chỗ người đó phục vụ xã hội như thế nào Mà phục vụ thì không chỉ là “tạo” hay “sản xuất”, mà quan trọng hơn cả là

tổ chức được một xã hội dân chủ, công bằng, phát triển và văn minh, nơi lợi ích riêng của mỗi cá nhân kết hợp nhuần nhị với lợi ích chung của toàn xã hội

(Trích Đạo đức mới là gì? - Đỗ Kiên Cường, Ngữ văn 11 nâng cao tập 2)

Ngữ liệu 4 Nêu thao tác lập luận của văn bản sau:

Để theo đuổi ước mơ của mình, bạn phải hành động Nếu không, bạn sẽ mất cơ hội Hãy chủ động hành động thay vì để cuộc đời đưa đẩy bạn Nếu không có được những gì bạn muốn, thì hãy chủ động tạo ra những gì bạn muốn Đấng “Sáng tạo” sẽ thắp sáng con đường bạn đi Vận may của cả đời bạn, cánh cửa của những ước mơ đang mở ra Con đường dẫn tới mục đích sống có thể xuất hiện trước bạn bất cứ lúc nào

Ngay cả khi đã xác lập được mục đích sống mạnh mẽ và đã phát triển được nguồn

hy vọng lớn lao, niềm tin sâu sắc, lòng tự tôn, thái độ sống tích cực, lòng dũng cảm, tính kiên cường, khả năng thích nghi và những mối quan hệ tốt, bạn không thể chỉ ngồi đó và chờ đợi vận may đến với mình Trên con đường vươn tới thành công, bạn phải nắm bắt từng

cơ hội Đôi khi bạn nhận thấy rằng trở ngại xuất hiện trên con đường của bạn không vì mục đích nào khác ngoài mục đích mở ra cơ hội để đưa bạn tới vị trí cao hơn Nhưng bạn phải

có lòng dũng cảm và sự quyết tâm để vươn lên

Một trong những khẩu hiệu của tôi tại Tổ chức Life Without Limbs là “một ngày mới, một cơ hội mới” Không có những khẩu hiệu được đóng khung trên tường - chúng tôi

cố gắng tạo ra những khẩu hiệu từ chính các hành động của mình

(Trích Sống cho điều ý nghĩa hơn - Nick Vujicic, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh) .

Trang 15

IV CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ

Các biện pháp tu từ được hình thành dựa trên 3 phương diện:

- Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh, (tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu)

- Tu từ về từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản, chơi chữ, nói giảm nói tránh,

thậm xưng, nói quá, nói phóng đại,

- Tu từ về cú pháp: lặp cú pháp, điệp cấu trúc, liệt kê, đảo ngữ, đối lập, câu hỏi tu từ,

1 Biện pháp so sánh

Khái niệm: So sánh là đối chiếu sự vật này với sự vật khác có nét tương đồng nhằm

tăng sức gợi hình biểu cảm cho người tiếp cận dễ hình dung So sánh có: so sánh hơn, so sánh bằng, so sánh kém, so sánh gấp nhiều lần,

Ví dụ:

- “Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”

- “Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa”

- “Càng ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”

2 Biện pháp ẩn dụ

Khái niệm: Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác

có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt

Ví dụ:

- “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”

- “Bà lão khẽ hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với nàng dâu:

Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng ”

- “Về thăm quê Bác làng Sen,

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”

3 Biện pháp nhân hóa

Khái niệm: Nhân hóa là cách gọi tả vật, đồ vật, bằng những từ ngữ vốn dùng cho

con người làm cho thế giới vật, đồ vật trở nên sinh động, gần gũi hơn, biểu thị được những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của con người

Ví dụ:

- “Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”

4 Biện pháp hoán dụ

Trang 16

Khái niệm: Hoán dụ là cách gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ

gần gũi với nó, nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt

Ví dụ:

- “Đầu bạc tiễn đầu xanh”

- “Vì sao trái đất nặng ân tình, Nhắc mãi tên Người Hồ Chí Minh”

5 Biện pháp nói giảm, nói tránh

Khái niệm: Nói giảm nói tránh là dùng cách diễn đạt tế nhị uyển chuyển tránh gây

cảm giác phản cảm, thô tục hay thiếu lịch sự

6 Biện pháp nói quá, nói phóng đại, thậm xưng

Khái niệm: Nói quá, nói phóng đại là diễn đạt mức độ, quy mô, tính chất lớn hơn

sự vật hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng tính biểu cảm

Ví dụ:

- “Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”

- Hôm nay tôi đi vào rừng trông thấy một con rắn, chao ôi to đến là to, dài đến là dài Bề ngang thì chắc chắn là bốn mươi thước rồi, còn bề dài thì dễ đến hơn trăm thước”

- “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

7 Biện pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc

Khái niệm: Điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc là lặp lại một từ hoặc cụm từ để nhấn

mạnh làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh.

Ví dụ:

- “Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.”

- “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”

8 Biện pháp tương phản đối lập

Khái niệm: Tương phản đối lập là dùng những từ ngữ hoặc hình ảnh có tính chất

Trang 17

tương phản để nhấn mạnh làm nổi bật một ý nghĩa nào đó

Ví dụ:

- “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

- “O du kích nhỏ giương cao súng

Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu.”

9 Biện pháp liệt kê

Khái niệm: Liệt kê là đưa ra hàng loạt các sự vật, sự việc, hiện tượng nối tiếp nhau nhằm

diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn những khía cạnh khác nhau của thực tế hay tư tưởng, tình cảm

Ví dụ:

- “Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

Không giết được em, người con gái anh hùng!”

- “Để nấu được chè ta cần những nguyên liệu sau: đỗ, đường, nước, ”

10 Biện pháp chơi chữ

Khái niệm: Chơi chữ là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái

dí dỏm, hài hước, làm câu văn hấp dẫn và thú vị hơn

Ví dụ:

- “Bà già đi chợ cầu Đông

Xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn”

11 Câu hỏi tu từ

Khái niệm: Câu hỏi tu từ là đặt ra câu hỏi nhưng không yêu cầu câu trả lời mà nhằm

nhấn mạnh một ý nghĩa khác

Ví dụ:

- “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

- “Có chở trăng về kịp tối nay?”

Trang 18

V PHÂN BIỆT CÁC THỂ THƠ

Để phân biệt được các thể thơ các em phải xác định được những quy tắc về số câu,

số tiếng, cách gieo vần, ngắt nhịp, Căn cứ vào luật thơ, người ta phân chia các thể thơ Việt Nam thành 3 nhóm chính:

- Các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát, hát nói

- Các thể thơ Đường luật: ngũ ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt,

- Các thể thơ hiện đại: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp, tự do, thơ văn xuôi

1 Thể thơ Lục bát

- Số tiếng: Mỗi cặp gồm hai dòng, một câu 6, một câu 8

- Vần: Hiệp vần ở tiếng thứ 6, tiếng thứ 8 dòng bát với tiếng thứ 6 dòng lục

- Nhịp: Chẵn (2/2/2, 4/4)

- Hài thanh: Tiếng 2 (B), tiếng 4 (T), tiếng 6 (B) Đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng 6, 8

dòng thơ bát

2 Thể thơ Song thất lục bát

- Số tiếng: Cặp song thất (2 câu 7 tiếng) và một cặp lục bát (6 - 8)

- Vần: Cặp song thất (tiếng 7, 5 vần T), cặp lục bát hiệp vần B, giữa cặp song thất, lục bát

có vần liền

- Nhịp: 2 câu thất 3/4, lục bát 2/2/2

- Hài thanh: Song thất, tiếng 3 linh hoạt B/T

3 Thể thơ Ngũ ngôn Đường luật

- Ngũ ngôn tứ tuyệt: 5 tiếng 4 dòng

- Ngũ ngôn bát cú: 5 tiếng 8 dòng

- Vần: Độc vận, vần cách

- Nhịp: 2/3

- Hài thanh: có sự luân phiên B-T hoặc niêm B-B, T-T ở tiếng thứ 2,4

4 Thể thơ Thất ngôn đường luật

- Thất ngôn tứ tuyệt: 7 tiếng 4 dòng

5 Các thể thơ hiện đại

Thơ 5 tiếng, thơ 7 tiếng, thơ 8 tiếng, thơ hỗn hợp, thơ tự do, thơ văn – xuôi (câu thơ

Trang 19

Phần hai: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

1 Tìm hiểu văn nghị luận xã hội

- Nghị luận xã hội là bàn về những vấn đề xã hội như một tư tưởng đạo lý; một lối

sống; một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực của đời sống hay một vấn đề thiên nhiên môi trường

- Các dạng bài nghị luận xã hội (trong chương trình THPT):

Dạng 1: Nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý

Ví dụ: Suy nghĩ của anh/chị về lời dạy của Đức Phật trong câu nói sau: “Đạo đức

là ngọn đèn sáng chiếu mọi phẩm chất của con người Đạo đức không phải là roi vọt dùng

để hành hạ, làm nhục hay làm khổ người ta”

Dạng 2: Nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống

Ví dụ: Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ

nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp đỡ các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề trên

Dạng 3: Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học (hoặc một ý kiến)

Ví dụ: Trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ có đoạn: Hồn Trương Ba: Ông Đế Thích, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt được nữa

Không thể được! Không thể được!

Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!

Hồn Trương Ba: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được Tôi muốn được

là tôi toàn vẹn

Đế Thích: Thế ông nghĩ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả tôi đây

Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong Mà cả Ngọc Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc Hoàng Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!

Hồn Trương Ba: Sống nhờ vào đồ đạc của cải người khác, đã là chuyện không nên, đằng

này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!

Từ đó, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề: con người cần được sống

là chính mình

Như vậy, các em cần chú ý:

- Mục đích của văn nghị luận xã hội là phát biểu trực tiếp tư tưởng, tình

cảm, quan điểm, thái độ của người viết đối với vấn đề xã hội Qua đó tác động đến nhận thức, tình cảm và hành động của người nghe, người tiếp nhận theo quan điểm đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực xã hội mà người viết thể hiện

Trang 20

- Văn nghị luận xã hội đòi hỏi người viết phải có lập trường tư tưởng

vững vàng, có tầm nhìn, có sự khái quát rộng lớn chứ không phải chỉ là nhận định cá nhân Khi trình bày phải có hệ thống lập luận chặt chẽ; lí lẽ sắc sảo; dẫn chứng chính xác, chân thực giàu sức thuyết phục

2 Thế nào là một đoạn văn?

Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ

chấm xuống dòng Hay nói cách khác, đoạn văn là một phần của văn bản nằm giữa hai chỗ chấm xuống dòng Đoạn văn được cấu tạo bởi nhiều câu văn để diễn đạt một nội dung hoặc một ý trọn vẹn của một vấn đề

Với yêu cầu của đề thi là viết đoạn văn khoảng 200 chữ về một ý kiến hoặc một vấn

đề đặt ra trong văn bản Điều này đòi hỏi thí sinh phải có tư duy đọc hiểu tốt, vừa diễn tả được nội dung phần văn bản đã cho, vừa gắn kết với đời sống xã hội, tránh tình trạng lan man dài dòng

3 Các hình thức của một đoạn văn

a Đoạn văn diễn dịch: Câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn Các

câu còn lại triển khai cụ thể ý của câu chủ đề, bổ sung, làm rõ cho câu chủ đề

Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, có thể kèm theo nhận xét, đánh giá và bộc lộ cảm nhận của người viết

b Đoạn văn quy nạp: Câu chủ đề khép lại nội dung nằm ở cuối đoạn Đoạn văn

được trình bày theo các ý từ nhỏ đến lớn, từ các ý chi tiết đến khái quát; từ các luận cứ cụ thể đến ý kết luận bao trùm

Các câu triển khai được trình bày bằng các thao tác lập luận, minh họa, cảm nhận và rút ra nhận xét đánh giá chung

c Đoạn văn tổng phân hợp:

Mở đoạn: dẫn ý cần bàn luận (Tổng) Thân đoạn: trình bày vấn đề (Phân) Kết đoạn: đánh giá chung vấn đề (Hợp)

Các ý trong phần thân đoạn, tức phần “Phân tích” được triển khai theo cách phân

tích, chứng minh bằng các luận điểm, luận cứ rồi rút ra nhận xét

d Đoạn văn song hành: Không có câu chủ đề, các ý triển khai nội dung song song

nhau, không nội dung nào bao trùm lên nội dung nào Mỗi câu trong đoạn nêu một khía cạnh của chủ đề đoạn văn, làm rõ thêm nội dung đó

e Đoạn văn móc xích: Là các ý trong đoạn văn đan xen nhau, gối ý hoặc lặp lại

một vài từ ngữ đã có ở câu trước vào đầu câu sau Đoạn văn móc xích có thể có hoặc không

có câu chủ đề

Trang 21

4 Cấu trúc đoạn văn nghị luận xã hội

Dạng 1: Nghị luận về một tư tưởng đạo lý là bàn luận về một ý kiến, một quan niệm

về tư tưởng đạo lý Tư tưởng đạo lí ấy có thể có ý nghĩa tích cực như: lòng nhân ái, vị tha, bao dung, lối sống đẹp, cử chỉ đẹp, tình yêu thương giữa con người với con người, Cũng có thể là những quan niệm sai lầm cần phê phán và từ đó có hành động đúng đắn

để làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn

Mở đoạn: giới thiệu và khái quát vấn đề

+ Đưa ra luận điểm, luận cứ, phân tích,

chứng minh, so sánh, để chỉ ra tác hại của

cái sai, cái chưa đúng

- Bàn luận:

+ Biểu dương, ca ngợi tư tưởng đúng đắn

- Bài học nhận thức và hành động Kết đoạn: đánh giá chung vấn đề Kết đoạn: đánh giá chung vấn đề

Dạng 2: Nghị luận về một hiện tượng đời sống là các hiện tượng diễn ra trong cuộc

sống hàng ngày, nhất là các hiện tượng liên quan trực tiếp đến giới trẻ Các hiện tượng này có thể có ý nghĩa tích cực như hiến máu nhân đạo, tiếp sức mùa thi, người tốt việc tốt, nhưng cũng có thể là những hiện tượng tiêu cực cần phê phán như sự lười biếng, những thói xấu học đường,

Mở đoạn: giới thiệu và khái quát vấn đề

+ Phân tích tác hại của hiện tượng tiêu cực

+ Chỉ ra nguyên nhân sai trái

+ Phân tích ý nghĩa của hiện tượng

+ Biện pháp nhân rộng hiện tượng

+ Phê phán hiện tượng trái ngược

- Bài học nhận thức và hành động Kết đoạn: đánh giá chung vấn đề Kết đoạn: đánh giá chung vấn đề

Dạng 3: Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học (hoặc trong

một đoạn trích trong văn bản báo chí, nghị luận )

Mở đoạn: giới thiệu vấn đề nghị luận

Trang 22

Thân đoạn:

- Tóm tắt nội dung văn bản: khái quát vấn đề chính của văn bản đã đưa

- Giải thích: làm rõ hiện tượng (thuật ngữ nếu có)

- Bàn luận:

+ Phân tích những mặt đúng – sai, lợi – hại, ý nghĩa – tác hại;

+ Những vấn đề liên quan đến văn bản và gắn chúng vào đời sống

+ Đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng phù hợp

- Bài học nhận thức và hành động thiết thực

Kết đoạn: đánh giá lại vấn đề

Dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học sẽ dẫn một đoạn trích, suy cho cùng cũng là từ đoạn trích rút ra những bài học, vấn đề có tính xã hội hoặc mang một tư tưởng đạo lý

Trang 23

Phần ba: CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC

1 SÓNG – Xuân Quỳnh

Tác giả: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ nữ xuất sắc trưởng thành trong

cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói của người phụ nữ giàu yêu thương, luôn khao khát hạnh phúc bình dị đời thường; đồng thời cũng là tiếng lòng của một người nhiều âu lo, luôn day dứt, trăn trở trong tình yêu Chị viết nhiều và viết rất hay

về tình yêu, trong đó “Sóng” là một bài thơ tiêu biểu Đến với Xuân Quỳnh và “Sóng”, thơ

ca Việt Nam hiện đại mới có được một tiếng nói bày tỏ trực tiếp những khao khát tình yêu vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm của một trái tim phụ nữ đang yêu

Tác phẩm: Bài thơ “Sóng” được Xuân Quỳnh sáng tác ở bãi biển Diêm Điền vào

năm 1967, in trong tập “Hoa dọc chiến hào” Bài thơ mang âm hưởng của những con sóng

biển, ẩn vào đó là những con sóng lòng đang khao khát tình yêu mãnh liệt Bài thơ có hai

hình tượng song song và tương trợ lẫn nhau, đó là “Sóng” và “Em”, cả hai đã cùng nhau

tạo nên nét riêng biệt cho bài thơ

Lời dẫn: Tình yêu là đề tài muôn thuở của thơ ca, nhiều nhà thơ nổi tiếng viết rất

hay về tình yêu Trước đó, ông hoàng của thơ tình Xuân Diệu cũng đã mượn hình tượng

“Biển” để bày tỏ tình yêu của mình; đến với Xuân Quỳnh, chị lại mượn hình tượng “Sóng”

để diễn tả những cảm xúc, tâm trạng, những sắc thái tình cảm vừa phong phú, phức tạp vừa tha thiết, sôi nổi của một trái tim phụ nữ đang rạo rực, khao khát yêu đương

Trong bài thơ, song song với hình tượng “Sóng” là hình tượng “Em” “Sóng” là

hình ảnh ẩn dụ cho tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hóa thân của cái tôi trữ tình

Hai nhân vật “sóng” và “em”, tuy hai nhưng lại là một, tuy một nhưng lại là hai Có lúc

phân đôi ra để soi chiếu, làm nổi bật sự tương đồng; có lúc lại hòa nhập vào nhau để tạo nên sự cộng hưởng Hai hình tượng này song song với nhau từ đầu đến cuối bài thơ, vừa soi sáng vừa bổ sung cho nhau nhằm diễn tả một cách quyết liệt hơn, sâu sắc hơn và thấm thía hơn khát vọng tình yêu đang dâng trào trong trái tim nữ thi sĩ, trong trái tim những người trẻ đang yêu

Một số nhận định về Xuân Quỳnh và bài thơ “Sóng”:

- Được xem là một trong những người viết thơ tình hay nhất trong nền thơ Việt Nam từ sau Cách mạng, Xuân Quỳnh đem đến cho bạn đọc một tình yêu vừa nồng nhiệt, táo bạo, vừa tha thiết, dịu dàng, vừa giàu trực cảm, vừa lắng sâu những trải nghiệm, suy tư

- Dù viết về tình yêu đôi lứa hay tình yêu Tổ quốc, về thế giới trẻ thơ hồn nhiên, trong trắng hay những quan hệ nhân sinh muôn vẻ, thơ Xuân Quỳnh vẫn nổi bật ở vẻ đẹp nữ tính

- Xuân Quỳnh đã triệt để tận dụng lối tổ chức theo nguyên tắc tương xứng, hô ứng, trùng

Trang 24

điệp Nhất là việc tạo ra các cặp từ, các vế câu, các cặp câu, thậm chí ngay cả các khổ thơ cũng hình thành các cặp đi liền kề, kế tiếp luân phiên đắp đổi nhau về bằng - trắc nữa

Trang 25

NỘI DUNG KIẾN THỨC QUAN TRỌNG

1 Những cung bậc trạng thái của sóng,

của người phụ nữ khi yêu

- 2 câu đầu: Những trạng thái đối lập, khác

nhau của sóng

Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

+ Nghệ thuật đối lập: “dữ dội – dịu êm”;

“ồn ào – lặng lẽ” gợi lên những trạng thái

khác nhau của sóng

+ Phép ẩn dụ: “sóng” là hình ảnh ẩn dụ

cho những cung bậc cảm xúc người phụ nữ

khi yêu

+ Điệp từ “và” kết nối hai trạng thái đối

lập làm cho những cung bậc của sóng,

những cung bậc trạng thái của người phụ nữ

khi yêu trở nên hài hòa

- 2 câu sau: Diễn tả hành trình vươn tới

biển lớn của sóng

Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể

+ Biện pháp nhân hóa: diễn giải hành

trình đi tìm biển lớn của sóng

+ Phép ẩn dụ: Hành trình vươn tới tình

yêu rộng lớn, cao cả của em Em cũng như

sóng không cam chịu một tình yêu nhỏ bé,

tầm thường, tù túng, chật hẹp mà sẵn sàng

vươn tới tình yêu cao cả, rộng lớn

Mở đầu bài thơ là những cung bậc trạng thái khác nhau của sóng, đồng thời đó cũng

là những trạng thái tâm lý đặc biệt của người

phụ nữ khi yêu: “Dữ dội và dịu êm - Ồn ào

và lặng lẽ” Bằng nghệ thuật đối lập, nhà thơ

đã gợi lên vẻ đẹp của những con sóng biển

với những trạng thái khác nhau: “dữ dội” –

“dịu êm”, “ồn ào” – “lặng lẽ” Những lúc

bão tố phong ba thì biển “dữ dội”, “ồn ào”

còn khi sóng gió qua đi, biển lại quay trở về

với vẻ hiền hòa vốn có của mình “dịu êm” –

“lặng lẽ” Ẩn đằng sau những cung bậc trạng

thái đối lập nhau của sóng là cái tôi trữ tình của nhà thơ, đó là những cung bậc cảm xúc của em Tính khí của người con gái khi yêu

cũng như sóng vậy: lúc “dữ dội, ồn ào”, với

những ghen tuông hờn dỗi khi lại thu mình

trở về với vẻ nữ tính, duyên dáng “dịu êm,

lặng lẽ” vốn có của mình Để kết nối giữa

những trạng thái đối lập của sóng cũng như của em nhà thơ đã sử dụng liên từ kết nối

“và” làm cho những cung bậc cảm xúc ấy

tuy đối lập nhưng lại rất hài hòa, dễ thương

Nhà thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa để nói đến hành trình đi tìm biển

lớn của sóng: “Sông không hiểu nổi mình/

Sóng tìm ra tận bể” “Sông” là không gian

chật hẹp, tù túng; “Bể” là biển, là khoảng

không rộng lớn, bao la Chính vì quá chật hẹp

và tù túng nên sông không hiểu nổi những đam mê, những khát vọng lớn lao của sóng, vậy nên sóng đã quyết vươn ra đại dương bao

la để thỏa sức vùng vẫy, để tìm thấy sức sống mạnh mẽ của mình với những giá trị đích thực Tình yêu của em cũng vậy, em không cam chịu sự tầm thường, nhỏ hẹp, em muốn vươn tới cái lớn lao để hiểu sâu hơn về tâm hồn mình, về tình yêu dành cho anh Đây là một quan niệm mới mẻ, hiện đại trong tình

Trang 26

+ Đây là một quan niệm mới mẻ, hiện

đại trong tình yêu: người con gái thời hiện

đại, không đứng yên thụ động mà chủ động

vươn tới những điều cao cả, rộng lớn

Khổ 2: Tình yêu mãi là khát vọng, là

những rung động, bồi hồi trong nhịp đập

trái tim tuổi trẻ

- 2 câu đầu: quy luật tự nhiên của sóng:

Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

+ Thán từ: “Ôi” thể hiện nỗi thổn thức

của trái tim đang yêu khi nhận ra quy luật

muôn đời của sóng biển với những cung bậc

trạng thái khác nhau

+ Nghệ thuật đối lập: giữa con sóng

“ngày xưa – ngày sau” Sóng là thế, muôn

đời vẫn thế, vẫn luôn mang trong mình

những cung bậc khác nhau như tình yêu

tuổi trẻ, không bao giờ đứng yên

- 2 câu sau: nhà thơ khẳng định tình yêu

luôn song hành cùng tuổi trẻ:

Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ

+ Tính từ chỉ trạng thái: “khát vọng –

bồi hồi” diễn tả nhịp sống trong lồng ngực

tuổi trẻ Nếu đại dương bao la vô tận mang

nhịp đập sóng biển thì trong lồng ngực tuổi

trẻ lại thổn thức với muôn điệu yêu thương

+ Tuổi trẻ sinh ra là để yêu, tình yêu

làm cho tuổi trẻ phải bồi hồi, xao xuyến

yêu: tình yêu của người con gái hiện đại không thụ động khi yêu mà chủ động vươn tới những điều cao cả, vĩ đại Thật mạnh bạo

mà cũng thật quyết liệt!

Nỗi khát vọng tình yêu, luôn rạo rực trong trái tim con người và trong quan niệm của Xuân Quỳnh là khát vọng muôn đời của nhân loại mà quyết liệt nhất là tuổi trẻ Nó cũng như sóng, mãi mãi trường tồn, vĩnh hằng với thời gian và không gian Từ ngàn đời xưa, con người đã đến với tình yêu và mãi mãi vẫn cứ đến với tình yêu như một chân lý không thể thay đổi, như nhà thơ Xuân

Diệu từng viết: “Làm sao sống được mà

không yêu – Không nhớ, không thương một

kẻ nào” Ngay đầu đoạn thơ thứ 2, tác giả sử

dụng thán từ “Ôi” như một tiếng nấc thổn

thức khi nhận ra sự nhiệm màu của đất trời

Cùng với đó, là nghệ thuật đối lập giữa “ngày

xưa” – “ngày sau” lại càng làm tôn thêm vẻ

đẹp của sóng Sóng là thế, muôn đời vẫn thế

không bao giờ thay đổi, vẫn “dữ dội” - “dịu

êm”, vẫn “ồn ào” - “lặng lẽ” như tình yêu

tuổi trẻ, không bao giờ đứng yên

Đúng vậy, tình yêu luôn luôn song hành cùng tuổi trẻ, tuổi trẻ mãnh liệt nhất là khi yêu, vì tình yêu mà sẵn sàng dâng hiến, sẵn sàng bất chấp tất cả Bởi đó là giai đoạn đẹp nhất của đời người, giai đoạn mà người ta ví

“thanh xuân như một cơn mưa rào, dù cho

bạn từng bị cảm lạnh vì tắm mưa thì bạn vẫn muốn được đắm mình trong cơn mưa ấy lần nữa” Nếu đại dương bao la vô tận mang

nhịp đập của những con sóng biển thì trong lồng ngực của tuổi trẻ lại thổn thức với muôn

nhịp điệu của yêu thương, ở đó là: “Nỗi khát

vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ” Tình

yêu là khát vọng, là ước mơ của biết bao

người và tình yêu làm cho tuổi trẻ phải “bồi

hồi”, “xao xuyến”, phải nhớ nhung điên

Trang 27

+ Những cảm xúc “xao xuyến”, “bồi hồi”

chính là gia vị ngọt ngào trong tình yêu, nó

đã tạo nên cái “bồi hồi trong ngực trẻ”

Khổ 3: Những băn khoăn, suy nghĩ về sự

khởi nguồn của tình yêu khi đứng trước

biển lớn

Trước muôn trùng sóng bể

Em nghĩ về anh, em

Em nghĩ về biển lớn

Từ nơi nào sóng lên?

+ Điệp ngữ “Em nghĩ”: 2 lần, thể hiện

nỗi niềm băn khoăn của nữ thi sĩ

+ Nỗi niềm băn khoăn, trăn trở của nhà

thơ hoàn toàn có căn cứ khi đứng trước

“muôn trùng sóng bể” và nghĩ về tình yêu

của mình

+ Câu hỏi tu từ: “Từ nơi nào sóng lên?”

là tiền đề cho những suy tư, trăn trở ở khổ

thơ thứ tư

Khổ 4: Lý giải nguồn gốc của sóng, qua

đó nhà thơ tự bâng khuâng về khởi nguồn

của tình yêu:

Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau

cuồng, mà chính xác hơn phải nói là “cuộc

sống này sẽ thật vô vị nếu không có dư vị ngọt ngào của tình yêu” Phải yêu, phải say đắm

trong tình yêu, trong ánh mắt của kẻ si tình

thì người ta mới hiểu được cái cảm giác “bồi

hồi” trong lồng ngực là như thế nào!

Đứng giữa biển rộng mênh mông, con người ta thường cảm thấy choáng ngợp, lo sợ trước sự hùng vĩ của nó Và chính điều đó, làm cho nữ thi sĩ cảm thấy băn khoăn, trăn trở về tình yêu của mình Sự trăn trở, âu lo

đó hoàn toàn có căn cứ được thể hiện qua khổ

thơ thứ 3, với hai lần điệp ngữ “Em nghĩ

Em nghĩ ” “Em nghĩ về anh, em/ Em nghĩ

về biển lớn”, nghĩ về “biển lớn” là nghĩ về

những điều lớn lao, về nguồn gốc bí ẩn của

tự nhiên là sóng; nghĩ về “anh và em” là nghĩ

về khởi nguồn tình yêu đôi lứa, nghĩ về tình yêu của chúng ta Sóng vì nhớ bờ mà vượt qua muôn trùng hải lý để hướng về bờ Liệu rằng, tình yêu của anh có đủ lớn để vượt qua sóng gió, vượt qua khó khăn thử thách để luôn hướng về em như sóng biển được không? Những suy nghĩ ấy, những trăn trở ấy cuối cùng được dồn trong một câu hỏi tu từ

cuối khổ thơ “Từ nơi nào sóng lên?” Đây

cũng là câu hỏi làm tiền đề cho những suy tư, trăn trở của nhà thơ Xuân Quỳnh trong tình yêu ở khổ thơ thứ tư

Mọi quy luật tự nhiên đều có sự minh chứng, lý giải từ các nghiên cứu khoa học: Sóng bắt đầu từ gió, gió bắt đầu từ sự di chuyển của không khí, từ nơi có áp suất cao xuống nơi có áp suất thấp, cũng như nước chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp Vậy mà, Xuân Quỳnh lại không thể lý giải được nguồn gốc của gió và đành lắc đầu bất lực:

“Em cũng không biết nữa” “Không biết” ở

đây không có nghĩa là Xuân Quỳnh không hiểu gió bắt đầu từ đâu mà khi đứng trước sự

Trang 28

+ Câu thơ đầu: Lý giải nguồn gốc của

sóng là từ gió, nghĩa là sóng biển là do gió,

nhờ có gió mà sóng lên

+ Câu thơ thứ 2, 3: nhà thơ lại không lý

giải được nguồn gốc của gió và đành lắc

đầu bất lực “Em cũng không biết nữa”

+ Câu thơ cuối “Khi nào ta yêu nhau?”,

nữ thi sĩ băn khoăn tự hỏi về khởi điểm tình

yêu của mình

Liên hệ: Như ông hoàng của thơ tình, Xuân

Diệu cũng từng băn khoăn định nghĩa về

tình yêu:

“Đố ai định nghĩa được tình yêu”

Hay: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?”

+ Đối với tình yêu chân thành không

toan tính, không vụ lời thì càng yêu say

đắm, càng say đắm thì càng khó lý giải mà

không thể lý giải thì càng lại thiêng liêng và

cao quý

2 Nỗi nhớ, sự thủy chung son sắt của

người phụ nữ trong tình yêu

(Khổ 5 + khổ 6)

Khổ 5: Nỗi nhớ của sóng luôn hướng về

bờ cũng như nỗi nhớ của em luôn dành

cho anh

+ Cấu trúc khổ thơ khác biệt: 6 câu thơ

+ Biện pháp nhân hóa và ẩn dụ

- 2 câu đầu: những trạng thái khác của sóng

Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước

bao la, rộng lớn của biển cả, đứng trước những băn khoăn vô định của tình yêu, người

ta không thể giải thích được bằng lý lẽ thông thường Tình yêu không giống như một phép

toán “1 + 1 = 2”; “2 x 2 = 4”, mà nó là một

hiện tượng tâm lý đầy bí ẩn, không thể giải đáp được về thời điểm xuất phát hay nơi tình yêu bắt đầu Như một vị triết gia người Đức

đã từng nói: “Cái đẹp không ở đôi má hồng

của người thiếu nữ mà ở trong ánh mắt của

kẻ si tình", hay Xuân Diệu trước đó đã từng

băn khoăn “Làm sao cắt nghĩa được tình

yêu?” thì nay, lại một lần nữa Xuân Quỳnh

đưa câu hỏi mà bất kỳ người phụ nữ nào khi yêu cũng đều muốn giải đáp lên một tầm cao mới, nhưng thật tiếc là đến nay vẫn chưa ai

có thể giải đáp được: “Khi nào ta yêu

nhau?” Chính vì không thể lý giải được

nguồn gốc mà tình yêu trở nên huyền bí hơn, càng huyền bí lại càng làm cho người ta khao khát khám phá, và càng khám phá lại càng thấy thiêng liêng cao quý Hay nói đúng hơn, đối với tình yêu chân thành không toan tính, không vụ lợi thì càng yêu càng say đắm, càng say đắm càng khó lý giải

Tình yêu bao giờ cũng gắn liền với nỗi nhớ, mà xa cách thì nỗi nhớ lại càng da diết hơn, có lẽ ta cộng theo cấp số nhân cũng không thể diễn tả được hết nỗi nhớ ấy Như thấu hiểu được điều đó, Xuân Quỳnh đã dành riêng cho nhân vật trữ tình của mình một khổ thơ đặc biệt chỉ để bày tỏ nỗi nhớ Sóng

không chỉ mang trong mình trạng thái “dữ

dội” – “dịu êm”,“ồn ào” – “lặng lẽ” mà ở

đây ta còn chứng kiến thêm con sóng “dưới

lòng sâu” – “trên mặt nước”, qua phép đối

và hình thức lặp cấu trúc: “Con sóng Con

sóng ” nhà thơ đã tạo nên sự trùng trùng

điệp điệp của những con sóng với nhiều dạng

thức khác nhau “Sóng dưới lòng sâu” là

những con sóng ngầm thể hiện chiều sâu,

Trang 29

+ Lặp cấu trúc: “Con sóng ”

+ Phép đối: “dưới lòng sâu” – “trên

mặt nước” tạo nên sự trùng điệp, mênh

mông của những con sóng với nhiều dạng

 Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi

mượn hình ảnh sóng động để ẩn dụ cho nỗi

niềm, tình yêu của người phụ nữ khi yêu

- 2 câu sau: Diễn tả nỗi nhớ của sóng, dù

sóng trên mặt nước hay con sóng dưới lòng

sâu thì tất cả đều nhớ bờ, đều hướng về bờ

mà vỗ:

Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

+ Sóng bất chấp không gian rộng lớn

“dưới lòng sâu – trên mặt nước”, bất chấp

cả thời gian “ngày đêm” để vươn về bờ đến

nỗi “không ngủ được”

- 2 câu thơ cuối: Nhà thơ thêm vào để hoàn

thiện giai điệu nỗi nhớ

Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

+ Xuân Quỳnh đã mạnh dạn bày tỏ nỗi

nhớ một cách trực tiếp, điều đó cho thấy nét

hiện đại trong quan niệm về tình yêu của

nữ thi sĩ

không ai thấy và cũng khó có thể cảm nhận được, chỉ có nó mới hiểu mình đang cồn cào,

da diết đến mức nào; “Sóng trên mặt nước”

là những con sóng nổi tung bọt trắng xóa trên mặt biển ngày đêm gào thét cùng đại dương bao la, nó thể hiện chiều rộng Dù sâu hay rộng thì tất cả đều quy tụ lại tượng trưng cho tình yêu và nỗi nhớ của em dành cho anh Sóng là em, em chính là sóng, tuy hai nhưng

là lại một, tuy một mà lại là hai Cũng giống như sóng, tình yêu của em, nỗi nhớ của em không đơn thuần là nhớ theo cảm tính mà nỗi nhớ ấy vừa có chiều sâu vừa có chiều rộng Xuân Quỳnh đã vô cùng tinh tế khi mượn hình ảnh sóng động để ẩn dụ cho nỗi niềm

của người phụ nữ khi yêu: “yêu” da diết dữ dội; “nhớ” cồn cào mãnh liệt

Ta lại gặp thán từ “Ôi” thêm một lần nữa

trong lúc nỗi nhớ về bờ của sóng đang dâng trào Bờ là đích đến cuối cùng của sóng Vì nhớ bờ mà sóng bất chấp không gian rộng

lớn, bất chấp “muôn trùng sóng bể”, bất chấp cả thời gian “ngày đêm” để vươn về bờ

một cách nhanh nhất Sóng khao khát gặp bờ

đến độ “không ngủ được” Dường như bốn

câu thơ không đủ để bày tỏ nỗi nhớ, Xuân Quỳnh đã tự thêm vào khổ thơ thứ 5 hai câu thơ nữa để hoàn thiện giai điệu nỗi nhớ Chủ thể trữ tình trong nỗi nhớ da diết kia, không

ai khác chính là em: “Lòng em nhớ đến anh/

Cả trong mơ còn thức” “Lòng” là nơi sâu

kín nhất của người phụ nữ, để nói được những tâm tư tình cảm ấy ra thật sự là một điều rất khó nhưng nữ thi sĩ đã bộc lộ một cách thẳng thắn và chân thành Điều đó chứng tỏ, tình yêu của em dành cho anh phải mãnh liệt đến nhường nào thì mới có thể làm được như vậy Và Xuân Quỳnh là phải là một hồn thơ rất hiện đại thì mới có thể bộc lộ một cách tinh tế như thế! Sự tương đồng giữa sóng và em, giữa một hiện tượng thiên nhiên

Trang 30

+ Sự tương đồng giữa sóng và em: Sóng

nhớ bờ và em nhớ anh, đó là quy luật của

tình yêu

+ Nỗi nhớ không chỉ hiện lên lúc ý thức

được (khi thức) mà còn gắn với tiềm thức

(ngủ vẫn nhớ) Như vậy, nỗi nhớ là luôn

hiện hữu trong tâm trí của người phụ nữ

khi yêu

Khổ 6: Tiếng lòng thể hiện sự thủy chung

của người phụ nữ trong tình yêu

Dẫu xuôi về phương Bắc

Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương

+ Phép đối: “dẫu xuôi – dẫu ngược”,

“phương Bắc – phương Nam”

+ Nói ngược “xuôi Bắc – ngược Nam”

(người ta vẫn hay nói “vào Nam ra Bắc” có

nghĩa là “xuôi phương Nam, ngược

phương Bắc” mới đúng)

+ Tình yêu có thể làm cho phương

hướng đảo lộn, nhưng quan trọng nhất là

“phương anh” thì em vẫn luôn hướng về,

một lòng thủy chung son sắt

3 Niềm tin mãnh liệt vào tình yêu chân

thành, đồng thời cũng là những băn

khoăn, lo lắng cái hữu hạn của đời người

với cái bao la của vũ trụ

(khổ 7 + khổ 8 + khổ 9)

với trạng thái con người đó là nỗi nhớ, sóng nhớ bờ và em nhớ anh, đó là quy luật muôn đời của tình yêu Đố ai yêu mà không nhớ, làm gì có ai nhớ mà không yêu bao giờ! Nỗi nhớ thường trực mọi không gian và thời gian, nỗi nhớ không chỉ tồn tại trong ý thức mà còn len lỏi vào tiềm thức, xâm nhập vào cả cõi

mơ Vậy nên, nhớ đến nỗi“cả trong mơ còn

thức” là điều hoàn toàn dễ hiểu!

Trong tình yêu, khoảng cách và thời gian

sẽ chẳng là gì, nếu chúng ta luôn nghĩ về nhau thì hình bóng của người yêu sẽ đầy ắp trong tâm trí Đến với khổ thơ thứ 6, sau khi thể hiện nỗi nhớ một cách trực tiếp, chân thành không giấu diếm thì nhà thơ tiếp tục bày tỏ sự thủy chung son sắt của mình Đầu mỗi câu thơ, thi sĩ Xuân Quỳnh đã đóng vào

đó những từ chỉ sự đối lập “xuôi” –

“ngược”, “Bắc” – “Nam” như gợi lên sự

gian nan vất vả cần phải vượt qua khi chúng

ta yêu nhau Lại thêm “dẫu xuôi” – “dẫu

ngược” nữa thì đã xa cách lại càng xa cách

muôn trùng Ở đây có điều đáng ngẫm là:

Người ta vẫn hay nói “vào Nam ra Bắc”, tức

“xuôi phương Nam, ngược phương Bắc”

mới đúng, nhưng trong thơ Xuân Quỳnh chị lại nói ngược lại Phải chăng nhà thơ muốn nhắn nhủ: Cuộc đời dẫu có thế nào đi chăng nữa thì em vẫn mãi yêu anh Sóng gió có làm cho phương hướng đảo lộn thì tình yêu của

em vẫn hướng về một phương duy nhất – đó

là “phương anh”

Bài thơ “Sóng” ra đời khi nhà thơ Xuân

Quỳnh đã từng nếm trải sự đổ vỡ trong tình yêu Song, với người phụ nữ hồn nhiên, tha thiết, yêu đời này vẫn luôn phơi phới một niềm tin vào tình yêu chân thành Dẫu biết rằng, con người là hữu hạn so với sự bao la,

vô hạn của vũ trụ

Trang 31

Khổ 7: Niềm tin vào tình yêu đích thực

Ở ngoài kia đại dương

+ Ẩn dụ: Cũng như tình yêu của em và

anh, muốn đến được bến bờ hạnh phúc thì

phải cùng nhau vượt qua mọi khó khăn,

thách thức

+ Gian nan và thử thách là điều không

thể thiếu trong tình yêu, nhưng khi đã cùng

nhau vượt qua thì sẽ là tình yêu bền vững

Khổ 8: Những băn khoăn, lo lắng, những

trực cảm trong tình yêu của nhà thơ,

nhưng vẫn có niềm tin mãnh liệt vào tình

+ Phép so sánh: Lấy cái không gian để

nói thời gian, lấy thời gian để nói cái hữu

hạn của đời người trước vũ trụ bao la

Liên hệ: thơ Xuân Diệu

Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời

Hàng trăm, hàng ngàn con sóng ở ngoài đại dương xa xôi, dù gặp muôn trùng khó khăn, cách trở, hàng vạn hải lý xa xôi nhưng chúng vẫn luôn hướng về bờ, bờ là đích đến cuối cùng của sóng Và đó cũng là nghệ thuật

ẩn dụ mà nữ thi sĩ mang tên Xuân Quỳnh gửi gắm để chỉ tình yêu mãnh liệt của người con gái đang yêu Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được bờ như tìm về cội nguồn yêu thương, cũng như anh và em sẽ phải cùng nhau vượt qua mọi khó khăn thử thách thì mới có thể về bên nhau, để sống trọn vẹn trong hạnh phúc

lứa đôi Như ông bà ta đã ví:

“Yêu nhau mấy núi cũng trèo Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua”

Gian nan và thách thử là điều không thể thiếu trong tình yêu, nhưng khi chúng ta đã cùng nhau nếm trải, cùng nhau vượt qua thì sẽ là tình yêu bền vững

Trong tình yêu, Xuân Quỳnh gặp khá nhiều khó khăn trắc trở, từng nếm trải những khổ đau, cay đắng nên chị luôn dự cảm trước

những giông bão cuộc đời Những từ “tuy

dài thế” – “vẫn đi qua” – “dẫu rộng” chứa

đựng nỗi âu lo, sự ngậm ngùi Bởi tương lai, hạnh phúc còn đang ở phía trước, chúng ta không thể biết trước điều gì sẽ xảy ra, vì thế việc ý thức được thời gian hữu hạn của đời người làm cho nữ thi sĩ có những băn khoăn,

lo lắng, cùng những trực cảm, đắn đo về tình yêu là điều không thể tránh khỏi Tuy nhiên, qua ý thơ, Xuân Quỳnh như muốn nhắn nhủ đến tất cả các bạn trẻ: Hãy cứ tin tưởng vào tình yêu, tình yêu chân thành sẽ vượt qua tất

cả, sẽ không vì những khó khăn, thử thách

mà bị chia rẽ Nhạy cảm về sự chảy trôi của thời gian nên tiếc cho sự hữu hạn của tuổi trẻ với cái bao la của đất trời, ông hoàng thơ tình cũng rất đồng cảm với Xuân Quỳnh, Xuân Diệu viết:

Lòng tôi [ trích ] cả đất trời

Trang 32

+ Tình yêu chân thành sẽ vượt qua tất cả,

không vì những khó khăn, thách thức mà

chia rẽ đôi lứa

Khổ 9: Khát vọng hòa tình yêu bé nhỏ của

mình vào biển lớn bao la để sống hết mình

với tình yêu, mong muốn tình yêu riêng

được hóa thân vào cái chung vĩnh hằng

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

+ Sóng khao khát “được tan ra” để hòa

chung vào nhịp vỗ của đại dương bao la

+ Tình yêu của em cũng vậy, cũng muốn

hòa vào biển lớn tình yêu của nhân loại để

bất tử hóa với thời gian

 Đây chính là khát vọng mãnh liệt,

tha thiết của người phụ nữ với trái tim đôn

hậu, chân thành, giàu trực cảm

Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng vào

những ngày cuối năm 1967, khi cuộc kháng

chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân

miền Nam đang vào giai đoạn ác liệt Thanh

niên trai tráng cùng nhau ra trận “Xẻ dọc

Trường Sơn đi cứu nước”, từ sân đình, bến

nước, gốc đa cho tới sân ga, sân trường

đâu đâu cũng thấy những “cuộc chia ly màu

đỏ” Vậy nên, có đặt bài thơ “Sóng” vào

bối cảnh lịch sử ấy mới cảm nhận, thấu hiểu

hết nỗi nhớ và khao khát về hạnh phúc của

người phụ nữ đang yêu

Có thể nói, Xuân Quỳnh đã yêu thì yêu rất mãnh liệt nhưng cũng rất tỉnh táo để nhận thức những trắc trở, thách thức trong tình yêu Đồng thời cũng rất tin tưởng vào sức mạnh của tình yêu sẽ giúp ta vượt qua tất cả

Tưởng chừng như tin tưởng vào tình yêu chân thành là lời nhắn của Xuân Quỳnh gửi tới tất cả chúng ta là đủ để nữ thi sĩ dừng bút tại đây, nhưng không cái tôi trữ tình của nhà thơ không đơn giản như vậy Chị còn mang trong trái tim bé bỏng của mình một khát vọng to lớn, đó là khát vọng hòa tình yêu bé nhỏ của mình vào cái chung rộng lớn, muốn được bất tử hóa tình yêu vào cái chung vĩnh

hằng Sóng khao khát “được tan ra” thành

“trăm con sóng nhỏ”, sóng chỉ thực sự là

sóng khi được hòa vào nhịp vỗ của đại dương bao la Tình yêu của em cũng vậy, nếu chỉ giữ riêng cho mình thì sẽ nhanh chóng tàn phai theo năm tháng, nếu được hòa vào biển lớn tình yêu nhân loại thì sẽ bất tử mãi mãi Đây là một khát vọng vô cùng nhân văn của nhà thơ, một khát vọng mãnh liệt, tha thiết của người phụ nữ với trái tim đôn hậu, chân thành đầy trực cảm

Qua hình tượng sóng nói riêng và bài thơ

“Sóng” nói chung, chúng ta cảm nhận được

vẻ đẹp trẻ trung, tâm hồn trong sáng của người con gái khi yêu Họ chủ động bày tỏ những khao khát, những mong muốn, những rung động của mình trong tình yêu, không giấu giếm, không che đậy Đó là nét hiện đại,

là quan niệm mới mẻ của người phụ nữ trong thời đại mới Chúng ta đã có một núi Vọng Phu, một hòn Trống Mái tượng trưng cho sự thủy chung, son sắt trong tình yêu thì nay lại

có thêm “Sóng” để tô thêm cho bức tượng

đài sừng sững về tình yêu

Trang 33

ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT

1 Nhịp điệu, vần điệu, thanh điệu của bài thơ gợi lên hình tƣợng sóng

- Những câu thơ năm chữ như những con sóng với những bước sóng đều đặn tiếp nối nhau

– Sự đan xen vần bằng và vần trắc: câu thơ trên vần bằng, câu thơ dưới vần trắc đan xen tiếp nối nhau: “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ/ Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể” tạo nhịp sóng xuống (vần bằng) – lên (vần trắc), tạo hình ảnh những con sóng nhấp nhô Cặp câu này vừa lướt qua, cặp câu khác đã xuất hiện, tựa như con sóng này vừa lịm xuống, con sóng khác đã trào lên

Sự đan xen vần mang thanh bằng với vần mang thanh trắc tiếp nối nhau làm cho âm điệu những câu thơ năm tiếng khi giáng (vần bằng) khi thăng (vần trắc), khi trầm (vần bằng) khi bổng (vần trắc) nhịp nhàng như những đợt sóng vỗ suốt chiều dài bài thơ

Câu chữ của bài thơ gợi lên hình ảnh con sóng biển và sóng biển là sự hoá thân của sóng lòng, để rồi sóng lòng lại tràn ra câu chữ mà thành sóng thơ, đem đến ý nghĩa ẩn dụ biểu tượng của hình tượng sóng

2 Sóng là hình tƣợng nghệ thuật ẩn dụ, mang tính biểu tƣợng

– Lớp nghĩa tả thực: Hình tượng sóng được diễn tả chân thực, sinh động với những trạng thái phong phú, đa dạng: khi dữ dội, lúc dịu êm; khi ồn ào, lúc lặng lẽ; sóng vỗ bờ ngày đêm, con sóng hướng tới bờ

– Lớp nghĩa ẩn dụ, biểu tượng: Mọi tính chất của sóng đều được quy chiếu về vẻ đẹp phẩm chất tâm hồn người phụ nữ, hướng tới cắt nghĩa bản chất tình yêu, tạo nên cấu trúc

song hành giữa sóng và em

+ Hình tượng sóng gợi lên sự phong phú trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu: vừa đắm say vừa tỉnh táo, vừa dè dặt vừa cuồng nhiệt, vừa âu lo vừa tin tưởng

+ Hình tượng sóng thể hiện vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu: mạnh dạn, chủ động, khát khao mãnh liệt nhưng vẫn giàu nữ tính, dịu dàng, đằm thắm yêu thương, thuỷ chung, trong sáng

Lời kết: Hình tượng “Sóng” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Xuân Quỳnh

Trước hết, nó được gợi ra từ âm hưởng dạt dào, nhịp nhàng của bài thơ; sau đó là từ nhịp của những con sóng trên biển liên tiếp, triền miên xô vào bờ Điều đó có được là nhờ vào thể thơ năm chữ với những câu thơ thường, không ngắt đã tạo nên một bản nhạc không lời hòa theo tiếng sóng lúc dạt dào, sôi nổi lúc sâu lắng, êm đềm Không chỉ là tiếng sóng mà còn là tiếng lòng của người phụ nữ đang yêu Xuân Quỳnh đã mượn và thể hiện một cách

rất thành công Qua bài thơ “Sóng”, tiếng lòng người phụ nữ mới có được một tiếng nói

bày tỏ trực tiếp cảm xúc tình yêu trên thi đàn thơ ca Việt Nam

MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP

Đề 1: Phân tích hình tượng sóng trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh Anh chị

cảm nhận được gì về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng này?

Trang 34

Gợi ý

I Mở bài

- Nêu được yêu cầu của đề: Hình tượng sóng và đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn

của người phụ nữ trong tình yêu

Tình yêu đôi lứa, tình nghĩa vợ chồng là đề tài muôn thuở được các thi sĩ khai thác

và thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau Các nhà văn, nhà thơ thường thông qua những biểu tượng, quy luật tự nhiên trong cuộc sống hay những vật gần gũi, thân quen để ví von, ẩn dụ khi nói về tình yêu Như nhà thơ Nguyễn Trung Kiên dùng hình tượng “Đôi dép” để triết lý sâu sắc về sự gắn bó, thủy chung, son sắt trong tình yêu Nhà thơ Vũ Cao thì ví tình yêu đôi lứa như ngọn “Núi đôi” không thể chia lìa “núi chồng núi vợ đứng song đôi”; nhà thơ Trần Hòa Bình vô tình nhìn thấy một chiếc lá rụng giữa mùa thu cũng có bài thơ hay để chiêm nghiệm về cuộc đời, về tình yêu Nhưng có lẽ, hình tượng được nói đến nhiều nhất và thể hiện được sự tinh tế, đằm thắm mà dữ dội, mãnh liệt nhất của tình yêu là hình tượng sóng biển Và, một trong những nhà thơ đã mượn hình tượng sóng biển để nói về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ

nữ trong tình yêu một cách thành công nhất trên thi đàn thơ ca Việt Nam hiện đại là nữ thi sĩ mang tên Xuân Quỳnh

(Bài làm của học sinh)

II Thân bài

- Đôi nét về tác giả, tác phẩm:

+ Xuân Quỳnh (1942 - 1988) là một nhà thơ nữ xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, khao khát tình yêu, biết nâng niu hạnh phúc đời thường bình dị

+ Bài thơ “Sóng” (in trong tập “Hoa dọc chiến hào”) được sáng tác năm 1967,

tiêu biểu về nhiều mặt cho hồn thơ Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh là nhà thơ nữ xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại thời kì kháng chiến chống Mỹ Thơ chị thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, đằm thắm, biết khao khát tình yêu và luôn nâng niu, trân trọng hạnh phúc bình dị đời thường Bài thơ “Sóng” ra đời như khúc tình ca thay lời muốn nói của biết bao trái tim đang khao khát bày tỏ trực tiếp những mong muốn trong tình yêu “Sóng” được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, sáng tác năm 1967, tiêu biểu về nhiều mặt cho hồn thơ Xuân Quỳnh

1 Phân tích hình tƣợng sóng

- Sóng là hình tượng trung tâm của bài thơ và là một hình tượng ẩn dụ Cùng với

hình tượng em (hai hình tượng này song hành xuyên suốt tác phẩm), sóng thể hiện những trạng thái, quy luật riêng của tình yêu cùng vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ rất

Trang 35

truyền thống mà rất hiện đại

- Sóng có nhiều đối cực như tình yêu có nhiều cung bậc, trạng thái và như tâm hồn

người phụ nữ có những mặt mâu thuẫn mà thống nhất (Phân tích hai câu đầu với kết

cấu đối lập - song hành và với việc đặt các từ “dịu êm”, “lặng lẽ” ở cuối câu tạo điểm

nhấn)

- Hành trình của sóng tìm tới biển khơi như hành trình của tình yêu hướng về cái

vô biên, tuyệt đích, như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật hẹp, tù

túng (Phân tích hai câu sau của khổ 1 với kiểu nói nhấn mạnh như không hiểu nổi, tìm ra tận )

- Điểm khởi đầu đầy bí ẩn của sóng cũng giống điểm khởi đầu và sự mầu nhiệm, khó nắm bắt của tình yêu (Phân tích các khổ 3, 4 của bài thơ với điệp từ nghĩ và sự

xuất hiện của nhiều câu hỏi tu từ )

- Sóng luôn vận động như tình yêu gắn liền với những khát khao, trăn trở không yên, như người phụ nữ khi yêu luôn da diết nhớ nhung, cồn cào, ước vọng về một tình

yêu vững bền, chung thủy (Phân tích các khổ 5, 6, 7, 8 của bài thơ với lối sử dụng

điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp; với hiệu quả của hình thức đối lập “trên - dưới”,

“thức - ngủ”, “bắc – nam”, “xuôi - ngược” ; với kiểu giãi bày tình cảm bộc trực

như “Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức” )

- Sóng là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu như tình yêu là khát vọng muôn đời của

con người, trước hết là người phụ nữ (nhân vật trữ tình) muốn dâng hiến cả cuộc đời cho một tình yêu đích thực (Phân tích khổ cuối của bài thơ với ý nghĩ và cách nói rất táo bạo của một người con gái hiện đại: Làm sao được tan ra )

2 Cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu qua hình tượng Sóng

- Trước hết, hình tượng sóng cho ta thấy được những nét đẹp truyền thống của

người phụ nữ trong tình yêu: thật đằm thắm, dịu dàng, thật hồn hậu dễ thương, thật

chung thủy

- Hình tượng “Sóng” cũng thể hiện được nét đẹp hiện đại của người phụ nữ trong

tình yêu: táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có

phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian, nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu

3 Nhận xét chung

- Sóng là bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ Việt Nam hiện đại nói chung

- Riêng việc sử dụng hình tượng “sóng” làm ẩn dụ thì không mới, nhưng những tâm

sự về tình yêu cùng cách khai thác sức chứa của ẩn dụ này lại có những nét thực sự mới

Trang 36

mẻ Xuân Quỳnh quả đã tìm được một hình tượng thơ đẹp để giãi bày tình yêu dịu

dàng mà mãnh liệt, gần gũi, riêng tư mà rộng mở, phóng khoáng của người phụ nữ

4 Đánh giá về nghệ thuật và mở rộng

- Đặc sắc nghệ thuật: Hình tượng “sóng” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của

Xuân Quỳnh Qua thể thơ năm chữ nhịp ngắn, giàu nhạc điệu; hình ảnh ẩn dụ đồng hiện giữa “sóng” và “em”; từ ngữ, hình ảnh khơi gợi nhiều cảm xúc

- Nâng cao: Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng vào những ngày cuối năm 1967, khi cuộc

kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân miền Nam đang vào giai đoạn ác liệt

Thanh niên trai tráng cùng nhau ra trận “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, từ sân đình, bến nước, gốc đa cho tới sân ga, sân trường đâu đâu cũng thấy những “cuộc

chia ly

màu đỏ” Vậy nên, có đặt bài thơ Sóng vào bối cảnh lịch sử ấy mới cảm nhận, thấu hiểu

hết nỗi nhớ và khao khát về hạnh phúc của người phụ nữ đang yêu

III Kết bài: học sinh tự viết (có hướng dẫn phần luyện viết)

Bài thơ “Sóng” của nữ hoàng thơ tình - Xuân Quỳnh giống như một câu chuyện

cổ tích đời thường về tình yêu Có lẽ, khi đọc bài thơ này, những trái tim đã từng đau đớn, thất vọng, mất niềm tin trong tình yêu cũng sẽ thêm một lần nữa được thổn thức với những xúc cảm mà nó mang lại Bởi nó đánh thức ta, khơi dậy trong ta về nguồn gốc,

về đạo lý, ân tình của tình yêu khiến mỗi câu thơ, mỗi ý thơ như sợi chỉ đan vào tâm hồn ta bao sợi nhớ sợi thương, se lành bao vết thương dù đã tổn thương Từ đó soi chiếu vào tình yêu của mình để ta biết trân trọng nhau hơn, đặc biệt là trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ khi họ đã dâng hiến trọn vẹn cho tình yêu

(Bài viết của học sinh)

Đề 2 Trong bài thơ Sóng – Xuân Quỳnh đã thể hiện tình yêu son sắt của người phụ

nữ qua các khổ thơ:

Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ

Trang 37

Hướng về anh một phương

Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu

+ Khổ 5,6: Nỗi nhớ, sự thủy chung son sắt của người phụ nữ trong tình yêu

+ Khổ 9: Khát vọng hòa tình yêu nhỏ bé của mình vào biển lớn

+ Sự thay đổi trong quan niệm tình yêu của nhân vật trữ tình: Trong tình yêu, nỗi nhớ,

sự thủy chung son sắt thuộc về tình yêu đôi lứa nên dù có khó khăn thử thách cũng luôn hướng về nhau Nhưng để tình yêu đó thực sự bền vững phải biết hòa mình vào cái chung, vào biển lớn

II Thân bài

- Vài nét về tác giả, tác phẩm:

+ Xuân Quỳnh là nữ nhà thơ xuất sắc trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Thơ chị là tiếng nói của người phụ nữ giàu yêu thương, luôn khao khát hạnh phúc bình dị đời thường; đồng thời cũng là tiếng lòng của một người nhiều âu lo, luôn day dứt, trăn trở trong tình yêu

+ “Sóng” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh, được sáng tác vào năm 1967

in trong tập “Hoa dọc chiến hào” Với thể thơ 5 chữ mang âm hưởng của những con sóng

biển, ẩn vào đó là những con sóng lòng đang khao khát tình yêu

1 Nêu khái quát về bài thơ “Sóng” và các đoạn cần phân tích:

+ Bài thơ có hai hình tượng song song, vừa soi sáng vừa bổ sung cho nhau, đó là hình tượng

“Sóng” và “Em”

+ Vị trí của các đoạn thơ cần phân tích: Khổ 5, 6 nằm giữa bài thơ nói về nỗi nhớ, cũng chính là điểm sáng cho bài thơ cũng nhờ mạch cảm xúc trong tình yêu đôi lứa Khổ

9 nằm cuối bài thơ, thể hiện khát vọng vĩnh cửu hóa tình yêu

2 Phân tích khổ 5, khổ 6 bài thơ “Sóng”

Trang 38

- Khổ 5: Nỗi nhớ của sóng luôn hướng về bờ cũng như nỗi nhớ của em luôn dành cho anh, hướng về anh

+ Cấu trúc khổ thơ khác biệt: 6 câu thơ

+ Biện pháp nhân hóa và ẩn dụ

- 2 câu đầu: những trạng thái khác của sóng

“Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước”

+ Lặp cấu trúc: “Con sóng ”

+ Phép đối: “dưới lòng sâu” – “trên mặt nước” tạo nên sự trùng điệp, mênh mông

của những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau

+ Ẩn dụ: Đó cũng là nỗi nhớ của em Sóng là em, em chính là sóng, cũng giống như sóng, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp và khó hiểu

 Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn hình ảnh sóng động để ẩn dụ cho nỗi niềm, tình yêu của người phụ nữ khi yêu

- 2 câu sau: Diễn tả nỗi nhớ của sóng, dù sóng trên mặt nước hay con sóng dưới lòng sâu

thì tất cả đều nhớ bờ, đều hướng về bờ mà vỗ:

“Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được”

+ Sóng bất chấp không gian rộng lớn “dưới lòng sâu – trên mặt nước”, bất chấp cả thời gian “ngày đêm” để vươn về bờ, đến nỗi “không ngủ được”

- 2 câu thơ cuối: Nhà thơ thêm vào để hoàn thiện giai điệu nỗi nhớ

Trang 39

Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngược về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương

+ Phép đối: “dẫu xuôi – dẫu ngược”, “phương Bắc – phương Nam”

+ Cách nói ngược “xuôi Bắc – ngược Nam”

+ Tình yêu có thể làm cho phương hướng đảo lộn, nhưng quan trọng nhất là “phương

anh” thì em vẫn luôn hướng về, một lòng thủy chung son sắt

2 Phân tích khổ thơ 9: Khát vọng hòa tình yêu bé nhỏ của mình vào biển lớn để sống

hết mình với tình yêu, mong muốn tình yêu riêng được hóa thân vào cái chung vĩnh hằng

“Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ”

+ Sóng khao khát muốn “được tan ra” để hòa chung vào nhịp vỗ của đại dương bao la

Bởi biển cả dẫu có giới hạn như cuộc đời mỗi người thì những con sóng cũng không bao giờ ngơi nghỉ

+ Tình yêu của em cũng vậy, cũng muốn hòa vào biển lớn tình yêu nhân loại để bất tử với thời gian, song hành mãi mãi cùng nhân loại

 Đây chính là khát vọng mãnh liệt, tha thiết của người phụ nữ với trái tim đôn hậu, chân thành, giàu trực cảm; một cái tôi yêu đương đã sẵn sàng dâng hiến để tình yêu trở nên bất tử

3 Sự thay đổi trong quan niệm về tình yêu của nhân vật trữ tình “Em”:

- Ở khổ 5,6: Nỗi nhớ, sự thủy chung trong tình yêu chỉ hướng về một phương duy nhất, đó

- Ở khổ thơ 9: Không còn là một cái tôi vị kỷ với những cảm xúc phức tạp, ở đó là sự

trưởng thành, một cái tôi đầy mãnh liệt, khao khát nhưng không phải từ một ái tình liều lĩnh, bất chấp mà là cái tôi muốn hòa vào thiên nhiên để bất tử tình yêu

4 Đánh giá về nghệ thuật

- Đặc sắc trong nghệ thuật: Hình tượng “sóng” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của

Trang 40

Xuân Quỳnh Qua thể thơ năm chữ nhịp ngắn, giàu nhạc điệu; hình ảnh ẩn dụ đồng hiện

giữa “sóng” và “em”; từ ngữ, hình ảnh khơi gợi nhiều cảm xúc

- Nâng cao: Bài thơ “Sóng” được sáng tác vào năm 1967 khi chiến trường miền Nam

đang vào giai đoạn ác liệt,

III Kết bài:

Ngày đăng: 16/10/2022, 16:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình dung Đất Nước thật gần gũi và - KIẾN THỨC TRỌNG tâm văn 12
Hình dung Đất Nước thật gần gũi và (Trang 121)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w