1 TÂY TIẾN – Quang Dũng Đề “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành” (Trích Tây Tiến – Quang Dũng) Anhchị hãy cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người lính trong đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về sự quyện hòa giữa chất hiện thực và lãng mạn trong thơ Quang Dũng BÀI LÀM Quang Dũng là nhà thơ trưởng t.
Trang 1TÂY TIẾN – Quang Dũng Đề:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
(Trích: Tây Tiến – Quang Dũng)
Anh/chị hãy cảm nhận vẻ đẹp hình tượng người lính trong đoạn thơ trên Từ đó nhận
xét về sự quyện hòa giữa chất hiện thực và lãng mạn trong thơ Quang Dũng
BÀI LÀM
Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông là một nghệ sĩ đa tài làm thơ, vẽ tranh, viết văn, soạn nhạc nhưng thành công nhất là thơ Với tâm hồn lãng mạn, tài hoa của một người con “xứ Đoài mây trắng”, Quang Dũng đã sáng tác những bài thơ giàu chất nhạc, chất họa, như: “ Mây đầu ô”, “Thơ văn Quang Dũng”… Trong đó tiêu biểu là bài thơ “Tây Tiến” Bài thơ không là dòng cảm xúc nhớ nhung của Quang Dũng về mảnh đất Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội với biết bao kỉ
niệm gắn bó Ấn tượng sâu đậm nhất trong dòng cảm xúc ấy là hình ảnh những người lính Tây Tiến thật oai phong lẫm liệt, thật sang trọng hào hoa:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Trang 2Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Tây Tiến là tên một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, đánh tiêu hao sinh lực địch, bảo vệ biên giới Việt –Lào Chiến
sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên, học sinh, trí thức Hà Nội, những chàng trai hào hoa thanh lịch, lãng mạn yêu đời Lên với chiến trường Tây Bắc, họ phải đối mặt với bao khó khăn thử thách, nhưng vẫn luôn ngời sáng một ý chí, một tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường Quang Dũng gắn bó cùng đoàn quân Tây Tiến từ những ngày đầu thành lập trên cương vị Đại đội trưởng, anh yêu thương và cảm phục sâu sắc những chiến sĩ trẻ đầy quả cảm của đoàn quân Cuối năm 1948, khi rời đơn vị cũ chưa lâu, tại Phù Lưu Chanh, vì rất nhớ đoàn quân, Quang Dũng đã viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến, sau đổi tên thành “Tây Tiến” (in trong tập thơ “Mây đầu ô”)
Hai tiếng thân thương “Tây Tiến” được nhắc đến trong bài với thật nhiều cảm xúc, khi thì đầy nuối tiếc, luyến lưu “Tây Tiến ơi!”, lúc lại da diết cồn cào: “nhớ ôi Tây Tiến”, và cái tên “Tây Tiến” lúc này được gọi lên đầy kiêu hãnh tự hào:
“ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Những vần thơ ngồn ngộn chất hiện thực, nửa thế kỷ sau mà người đọc vẫn cảm thấy trong khói lửa, trong âm vang của tiếng súng, những gương mặt kiêu hùng của đoàn dũng sĩ Tây Tiến “ Đoàn binh không mọc tóc”, “ Quân xanh màu lá”, tương phản với “
dữ oai hùm” Cả ba nét vẻ đều sắc, góc cạnh hình ảnh những “ Vệ túm”, “Vệ trọc” một thời gian khổ đươc nói đến một cách hồn nhiên Quân phục xanh màu lá, nước da xanh
và đầu không mọc tóc vì sốt rét rừng, thế mà quắc thước hiên ngang, xung trận đánh
giáp lá cà “ dữ oai hùm” làm cho giặc Pháp kinh hồn bạt vía “ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu” là hình ảnh các tráng sĩ “ Sát Thát”, đời Trần “ Quân xanh màu lá dữ oai hùm” là chí khí lẫm liệt hiên ngang của anh bộ đội cụ hồ trong chín năm kháng chiến chống Pháp
Trang 3Gian khổ và ác liệt thế, nhưng họ vẫn mộng vẫn mơ
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Lí tưởng sống của những chàng lính thật đẹp Họ luôn biết dung hòa giưa mộng
và mơ Mộng giết giặc, đánh tan lũ xâm lăng để giữ bình yên cho xóm làng Tâm thế luôn sẵn sàng chiến đấu và lập công, “ mắt trừng” Còn mỗi đêm khuya, lại đắm mình trong những ước mơ thật đẹp :“Hà Nội dáng kiều thơm” Ba chữ “dáng kiều thơm” đã diễn tả thật “ đắt” cái phong độ hào hoa, đa tình của những chiến binh Tây Tiến, những chàng trai của đất nghìn năm văn hiến, giữa khói lửa chiến trường vẫn mơ, vẫn nhớ về một mái trường xưa, một góc phố cũ, một tà áo trắng, một “dáng kiều thơm” Ngòi bút của Quang Dũng biến hoá, lúc bình dị mộc mạc, lúc lại mộng ảo nên thơ, và đó chính là
vẻ đẹp vừa hào hùng vừa hào hoa của một hồn thơ chiến sĩ
Bốn câu thơ tiếp theo ở cuối phần 3, một lần nữa nhà thơ nói về sự hy sinh tráng liệt của những anh hùng vô danh trong đoàn quân Tây Tiến
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Có biết bao chiến sĩ đã ngã xuống nơi góc rừng, bên bờ dốc vì độc lập, tự do của Tổ quốc Đó là những cái chết lặng thầm, đơn độc và lạnh lẽo vô cùng Bởi đồng đội vẫn tiếp tục hành quân, còn các anh nằm lại nơi biên cương, miền viễn xứ - đất khách quê người Cả câu thơ sử dụng nhiều từ Hán Việt khiến giọng điệu thơ trang trọng cổ kính, khiến những nấm mồ hoang dại, đơn độc trở nên thiêng liêng, nhưng cũng không tránh khỏi nỗi xót xa, thương cảm trong lòng người đọc
Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Hình ảnh “áo bào” xuất hiện trong câu thơ khiến cái chết của các anh trở nên oai hùng, bi tráng lạ thường, tưởng như đó là phút sa cơ của người dũng tướng của một thời hào khí Đông A Nhưng sự thật đau lòng là khi nằm xuống, tấm quần manh áo còn
Trang 4không lành lặn huống chi là áo bào Quấn thân các anh có thể chỉ là tấm vải dù che mưa che gió Các anh đã “về đất” một cách thanh thản, bình dị; yên nghỉ trong lòng Mẹ, giấc ngủ nghìn thu Sự ra đi thật nhẹ nhàng mà lòng người ở lại trĩu nặng nỗi xót xa
Cả đoàn quân lặng đi, chỉ còn nghe thác sông Mã thay tiếng của hồn thiêng sông núi, tiếng của đồng bào, của Tổ quốc “gầm lên” như một loạt đại bác nổ xé trời, vừa đau đớn vừa uất nghẹn căm hờn “Khúc độc hành” vừa là khúc hát tiễn đưa hồn tử sĩ, vừa là khúc hát lên đường đầy thiêng liêng, bi tráng
Có người cho rằng, Quang Dũng là một trong những nhà thơ đầu tiên của nền thơ
ca kháng chiến nói rất cảm động về sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ vô danh Quả thực vậy, nếu Chính Hữu, qua bài “Đồng Chí” đã nói rất hay về người nông dân mặc áo lính, thì Quang Dũng, với bài thơ “Tây Tiến” đã dựng lên một tượng đài hùng vĩ uy nghiêm và đầy bi tráng về những chàng trai Hà Nội “mang gươm đi mở cõi” dũng cảm, can trường, trong gian khổ chiến đấu hy sinh vẫn lạc quan yêu đời Đó là vẻ đẹp riêng độc đáo làm nên huyền thoại về một đoàn binh không mọc tóc thủa nào! Trong thơ Quang Dũng, hiện thực khốc liệt của chiến tranh được nói đến thẳng thắn, không hề né tránh, nhưng cách mà nhà thơ nhìn nhận và biểu đạt trong từng câu thơ dù có đau thương chết chóc nhưng không khiến người đọc cảm thấy bi quan, buồn chán, mà trái lại, hiện thực chỉ càng thổi bùng lên ý thức đấu tranh đòi sự sống, cùng tình yêu và sự tôn vinh đẹp đẽ hào hùng Bởi vậy mà hình tượng tập thể anh hùng Tây Tiến hiện lên trong trang thơ của Quang Dũng mang vẻ đẹp hào hùng, bi tráng, khơi gợi cảm xúc ngưỡng mộ, tự hào nhiều hơn là cảm xúc xót đau, thương cảm
Nhìn chung, đoạn thơ trên đã thể hiện thật rõ nét cốt cách và bút pháp lãng mạn, hồn thơ tài hoa của Quang Dũng Nếu “thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp” thì đoạn thơ đã cho ta cảm nhận về ấn tượng ấy “Tây Tiến” đã mang vẻ đẹp độc đáo của một bài thơ viết về người lính – anh bộ đội cụ Hồ những năm đầu kháng chiến chống Pháp Bài thơ hội tụ mọi vẻ đẹp và bản sắc của thơ ca kháng chiến ca ngợi chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
Trang 5Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn
- Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
(Trích: Việt Bắc – Tố Hữu)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về chất trữ tình – chính trị trong
ngòi bút thơ Tố Hữu
BÀI LÀM
Tố Hữu là nhà thơ lớn, là cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt
Nam Các tác phẩm của ông luôn in đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, mang tính trữ tình chính trị và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc “Việt Bắc” là một trong những sáng tác hay nhất của đời thơ Tố Hữu, là đỉnh cao của thơ kháng chiến chống Pháp Đó được xem như một bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ
mà anh dũng kiên cường Cả bài thơ cũng là dòng chảy cảm xúc dạt dào, tha thiết về nỗi nhớ Việt Bắc Tiêu biểu trong bài thơ là những dòng kí ức về giờ phút chia tay đầy bịn rịn lưu luyến của kẻ ở người đi:
- Mình về mình có nhớ ta?
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không?
Trang 6Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn
- Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Tố Hữu viết Việt Bắc nhân một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Sau chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, tên giặc Pháp cuối cùng rời khỏi quê hương, cơ quan trung ương chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về tiếp quản thủ đô sau mười lăm năm gắn
bó Trong giờ phút chia tay đầy lưu luyến bịn rị, Tố Hữu đã viết bài thơ này Mạch thơ tuôn trào theo dòng hồi tưởng của nhà thơ về những năm tháng gắn bó với mảnh đất và con người Việt Bắc mà khởi nguồn là giây phút chia li thật xúc động nghẹn ngào
Chúng ta đã từng có những áng văn chương lớn nói về những cuộc chia ly làm não lòng nhiều thế hệ người đọc Việt Nam Đó là giọt nước mắt chia li của người chinh phụ tiễn chồng ra biên ải (Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn); đó là phút tử biệt “một giã gia đình một rửng rưng” của người chiến sĩ bước vào khói lửa đạn bom (Tống biệt hành – Thâm tâm); hay đó là cuộc chia li “chói ngời sắc đỏ” của người vợ xa chồng trong khánh chiến chống Mĩ Thế nhưng, có một cuộc chia li không thấm đẫm nước mắt, không nhuốm màu tử biệt đã đi vào lịch sử, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của dân tộc Không phải là cuộc chia li chồng vợ hay của đôi trai gái chung tình, mà buổi tiễn chân bộ đội miền xuôi về với thủ đô vẫn nghe sao thật tình tứ, mặn nồng
- Mình về mình có nhớ ta?
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Ngay từ câu thơ đầu tiên, người ở lại đã cất lên tiếng lòng đầy băn khoăn trăn trở về tình cảm của người ra đi Thật dễ hiểu, bởi trong mỗi cuộc chia li thì người ở lại luôn có tâm trạng nặng nề hơn, vừa phải đối diện với một không gian trống trải, thiếu vắng bóng người, vừa luyến tiếc những năm tháng gắn bó, liệu người đi rồi có còn nhớ ta chăng?
Trang 7Câu hỏi tu từ mang âm hưởng ca dao “mình về có nhớ ta chăng? – Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”, với lối xưng hô “mình – ta” ngọt ngào, đằm thắm như đôi trai gái yêu nhau đã khơi gợi tình cảm gần gũi, tha thiết nhớ thương của người về xuôi: Người
về chốn thị thành phồn hoa, có còn nhớ đến ta?
Vừa khơi gợi cảm xúc, câu hỏi tu từ vừa như nhắc nhớ về khoảng thời gian gắn bó mười lăm năm, kể từ những ngày đầu mới xây dựng căn cứ địa Việt Bắc Chỉ nhắc đến khoảng thời gian đằng đẵng ấy thôi cũng đủ khơi dậy biết bao kỉ niệm về những gian khổ, thiếu thốn “ta” và “mình” đã trải qua Nó “ thiết tha, mặn nồng” bền chặt, keo sơn và luôn in dấu trong lòng người ở lại
Kỉ niệm không chỉ được nhắc nhớ qua thời gian “mười lăm năm” mà còn được nhắc nhớ qua không gian núi rừng Việt Bắc qua cấu trúc câu hỏi được lặp lại:
Mình về mình có nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn
Câu thơ vẽ lên không gian đặc trưng của núi rừng Việt Bắc, không gian đã từng gắn bó một thời gian khổ hào hùng của người đi kẻ ở, giờ đây đã trở thành không gian của nỗi nhớ Nhà thơ đã sử dụng hai điệp từ lặp đi lặp lại ở hai vế “nhìn – nhớ” để nhấn mạnh và khắc sâu những diễn biến sẽ có trong tâm trí người ra đi Núi rừng, sông suối nơi Việt bắc sẽ trở thành một phần kí ức của bộ đội miền xuôi, để khi về lại thủ đô, mỗi lần nhìn
“cây” nhìn “sông” ở nơi ấy sẽ gợi nhắc về không gian “núi”, “nguồn” chốn thượng ngàn Câu thơ bộc lộ sự thấu hiểu tâm trạng người đi và ngâmd ẩn một lời nhắc nhớ ngườ đi gìn giữ tấm chân tình: đừng vì hoàn cảnh sống thay đổi mà quên những ngày tháng đồng cam cộng khổ ở Việt Bắc thân thương
Qua hai cặp câu hỏi tu từ giãi bày nỗi lòng nhớ nhung, trăn trở của người ở lại, ta không chỉ thấy được tình cảm đậm đà sâu sắc của đồng bào Việt Bắc dành cho cán bộ miền xuôi, mà còn thấy được sự trân trọng, nâng niu những kỉ niệm buồn vui suốt mười lăm năm gắn bó của họ
Để đáp lại những băn khoăn trăn trở của người ở lại, người ra đi đã khẳng định tình cảm của mình bằng những câu thơ đầy xúc động:
Trang 8- Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Nếu như Việt Bắc băn khoăn “mình về mình có nhớ…” thì đây chính là lời khẳng định chắc chắn về nỗi nhớ, về tình cảm của người đi dành cho Việt Bắc trong sự đồng điệu tâm hồn Người đi không chỉ nhớ mà còn khắc ghi sâu đậm trong tâm khảm “tiếng” và
“hình” của người ở lại Đại từ phiếm chỉ “ai” khiến đối tượng của nỗi nhớ trở nên bao quát hơn và thi vị hơn, bởi nó khiến câu thơ mang dáng dấp những câu dân ca ngọt ngào, tình tứ: “ Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/ Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai” Bởi đã gắn bó rất lâu nên tiếng nói của người Việt Bắc đã trở thành đối tượng sâu đậm đầu tiên của nỗi nhớ Thứ thanh âm “tha thiết” quen thuộc mang đặc trưng của vùng miền đã gieo vào lòng người đi nỗi “bâng khuâng” vừa buồn vui, vừa luyến nhớ, khiến bước chân trở nên “bồn chồn”, bởi lòng ngổn ngang nỗi nhớ, chùng chình nửa ở nửa đi! Trong hai câu thơ lục bát, tác giả sử dụng đến ba từ láy “tha thiết”, bâng khuâng”, “bồn chồn” để diễn tả trạng thái cảm xúc đang trào dân và luôn thường trực của người ra đi Lời đáp phải chăng đã giải đáp thỏa đáng nỗi niềm băn khoăn của đồng bào Việt Bắc?
Tiếp theo trong lời đáp ấy, nhịp thơ thay đổi, khiến câu thơ như bẻ đôi, chia li, cách biệt:
Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Từ nhớ tiếng sang nhớ hình Một nét ấn tượng nữa trong tâm trí người đi đó lại là hình ảnh của chiếc áo chàm quen thuộc, đặc trưng cho lối ăn mặc của người Việt Bắc Mượn hình ảnh hoán dụ “áo chàm” để chỉ người dân Việt Bắc, người ra đi đã bộc lộ một nỗi niềm thương nhớ và yêu mến cái chất phác, giản dị toát ra từ cái sắc trầm bền bỉ, sắc son
ấy Cùng với hình ảnh đồng bào Việt Bắc, hành động “cầm tay” cũng để lại ấn tượng thật sâu sắc cái nắm tay thật giản đơn, mộc mạc thôi mà chất chứa bao ân tình, hơn ngàn vạn lời nói Qua cái nắm tay, người đi cảm nhận được hơi ấm, niềm tin yêu, cảm nhận
Trang 9được tâm tư, tình cảm của người ra đi Cách ngắt nhịp 3/3/2 của câu thơvà dấu chấm lửng cuối dòng đã tạo nên những khoảng lặng trong cảm xúc người ở kẻ đi Đó là những giây phút nghẹn ngào không nói nên lời, chỉ biết nắm tay nhau thật chặt để níu lại những thương yêu Thật xúc động biết bao!
Bốn câu thơ đáp lời người ở lại của cán bộ miền xuôi bằng tình cảm chân thành và sâu nặng đã thực sự làm yên lòng người ở lại Dù không dùng đến một từ “nhớ”, nhưng nỗi nhớ tràn ngập bốn dòng thơ và xâm lấn trong tâm hồn, trong chiều sâu cảm xúc của người ra đi Tình cảm ấy cũng thủy chung son sắt, đậm đà tha thiết lắm thay!
Nhiều nhà nghiên cứu nhận định rằng thơ Tố Hữu là thơ của thứ tình cảm lớn, niềm vui lớn, cảm xúc thơ luôn gắn liền với những sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa cộng đồng Nhưng phải nhận thấy một điều rằng, dù là đề cập đến nội dung chính trị nhưng rất gần gũi, giàu cảm xúc mà không hề khô khan giáo điều Đoạn thơ nói tái hiện khung cảnh chia tay trong thời khắc lịc sử quan trọng của đất nước giữa đồng bào Việt Bắc và bộ đội miền xuôi mà nghe như cuộc chia tay đầy lưu luyến bịn rịn của đôi trai gái yêu nhau vậy Thật lãng mạn và thắm thiết tình người
Qua tám câu thơ đầu, bằng việc sử dụng cấu trúc đối đáp giao duyên “ta”- “mình”, kết hợp với việc sử dụng những ngôn từ hình ảnh giàu sức gợi hình, gợi cảm mà mộc mạc chân thành, nhà thơ đã làm nổi bật khung cảnh chia tay đầy lưu luyến giữa bộ đội miền xuôi và Việt Bắc Đoạn thơ cũng góp phần ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người Việt Bắc, ngợi ca tình nghĩa cách mạng thủy chung gắn bó Bằng việc sử dụng khéo léo, tài tình ngôn ngữ dân tộc, Tố Hữu đã trữ tình hóa mối quan hệ chính trị, khiến tình quân dân trở nên thi vị và đầy ấn tượng Đoạn thơ góp phần làm nên thành công của tác phẩm
và đem đến cho người đọc ấn tượng thật đẹp về một thời kì đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc
Trang 10Đề 5:
- Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son?
Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh?
Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
(Trích: Việt Bắc – Tố Hữu)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về tính dân tộc trong thơ Tố
Hữu
BÀI LÀM
Tố Hữu là nhà thơ lớn, là cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt
Nam Các tác phẩm của ông luôn in đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, mang tính trữ tình chính trị và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc “Việt Bắc” là một trong những sáng tác hay nhất của đời thơ Tố Hữu, là đỉnh cao của thơ kháng chiến chống Pháp Đó được xem như một bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ
mà anh dũng kiên cường Cả bài thơ cũng thể hiện một tấm lòng tri ân sâu nặng về nghĩa tình cách mạng của nhà thơ nói riêng, của bộ đội miền xuôi nói chung với mảnh đất và con người Việt Bắc Lịch sử đã sang trang, mà mỗi lần đọc lại đều rưng rưng rưng xúc động:
Trang 11- Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son?
Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh?
Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
Mười lăm năm đi hết cuộc đời trai trẻ, mười lăm năm gắn bó với thượng ngàn heo hút, biết bao kỉ niệm vơi đầy, người thi sĩ - chiến sĩ ấy làm sao không lưu luyến khi rời xa? “ Khi ta ở chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn” Tháng 10 năm 1954, nhà thơ theo cơ quan trung ương, chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về tiếp quản thủ đô sau khoảng thời gian dài đã đồng cam cộng khổ cùng mảnh đất và con người Việt Bắc, trong giây phút chia tay đầy lưu luyến và dạt dào xúc cảm, Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc Những kỉ niệm cứ ùa về như dòng thượng nguồn tuôn chảy qua lời đối đáp ngọt ngào đằm thắm của kẻ ở - người đi mà khởi nguồn là phút nắm tay giã biệt bịn rịn đầy lưu luyến Nối tiếp là những lời gợi nhắc của người ở lại về những kỉ niệm không thể nào quên
Vẫn trong cấu trúc đối đáp “ta – mình” như lời giao duyên tình tứ gợi về không gian văn hóa làng Việt gần gũi thân thương, từng câu hỏi của người ở lại như xoáy sâu vào tâm trí người đi:
Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Trang 12Nhớ về Việt Bắc là nhớ về những ngày tháng cùng chung sống với những cơn mưa đầu nguồn xối xả, với lũ suối thành sông, với âm u núi rừng mây mù giăng khắp Thời tiết khắc nghiệt mang đặc trưng của thiên nhiên nơi đây đã tôi luyện ý chí, nghị lực và tinh thần thép cho những người chiến sĩ đến từ miền xuôi Cách nói nhấn mạnh “những mây cùng mù” càng tô đậm những khó khăn gian khổ đã trở thành quen thuộc, đã trở thành một phần cuộc sống suốt 15 năm ròng gắn bó Người ở lại gợi nhắc đầy trăn trở: liệu rằng người về xuôi có còn nhớ chăng?
“Mình về có nhớ chiến khu, Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai?”
Vẫn là “mình” đó mà lúc lại là “mình đi”, lúc lại là “mình về”, dường như cảm xúc của người ở lại chộn rộn quá, như chống chếnh, như chơi vơi, vừa nhớ tiếc, vừa luyến lưu Không chỉ nhớ về khung cảnh mưa lũ mây mù, có chút ảm đạm nhưng vẫn mang đậm chất trữ tình, thơ mộng, phóng khoáng và hùng vĩ của thiên nhiên, mà người
ở lại còn gợi nhớ về cuộc sống sinh hoạt ở chiến khu với “miếng cơm chấm muối” đạm
bạc mà nghĩa tình Câu thơ có vế sóng đôi “mối thù nặng vai” diễn tả ý chí quyết tâm một lòng của quân và dân Việt Bắc Những khó khắn thiếu thốn ấy càng thổi bùng lên ngọn lửa hờn căm, càng nhắc nhở về mối thù quân xâm lược đang kết hình kết khối đè nặng lên vai Câu thơ cũng bộc lộ niềm tự hào của những con người đã từng trải qua những ngày tháng gian khổ, kiên trì đấu tranh để giành lại độc lập tự do và đem đến cho nhân dân cuộc sống hạnh phúc, ấm no
Phút chia tay thật nhiều điều muốn nói! Những câu hỏi như khơi sâu người ở bộc
lộ nỗi trống trải, thiếu hụt trong lòng bằng hình ảnh nhân hóa:
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già
Người về với thị thành tấp nập, để lại khoảng trống khó lấp đầy của không gian Núi rừng cũng như bần thần nhớ “ai” Những món ăn đặc sản núi rừng “trám bùi”, “măng mai” cũng để rụng, để già, không còn người thu hái Tất cả trở về với nguyên sơ, với sự tĩnh lặng hiu hắt khi bộ đội về xuôi Không buồn nhớ sao được!
Trang 13Vẫn với tâm trạng băn khoăn luyến nhớ, người ở lại hỏi người ra đi:
Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son?
Hai câu thơ có hình ảnh tượng trưng và tương phản đầy ấn tượng Những ngôi nhà sàn thấp thoáng sau những vạt lau sậy hắt hiu, hoang vắng, đó là mái ấm của những con người Việt bắc chân chất mộc mạc Đó cũng là nơi nuôi dưỡng những tấm lòng son sắt thủy chung với cách mạng trường kì Vẫn trong mạch cảm xúc băn khoăn trăn trở, đồng bào gợi nhớ những hình ảnh thân thương ấy bằng một niềm kiêu hãnh về phẩm chất cách mạng của mình Sự tương phản hình ảnh “hắt hiu lau xám” và “đậm đà lòng son”, một hình ảnh ẩn dụ rất đẹp ca ngợi tấm lòng son sắt thủy chung, càng khắc sâu ấn tượng về những con người tuy còn nghèo khổ, thiếu thốn nhưng giàu tình yêu nước, gắn bó thủy chung với cách mạng và kháng chiến
Nhớ về Việt Bắc, không thể không nhớ đến những ngày tháng đấu tranh gian khổ:
Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh?
Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
Cùng với những hình ảnh đặc trưng cho vùng cao Việt Bắc của quê hương, đại
từ mình xuất hiện đều đặn, nhịp nhàng và biến hóa linh hoạt suốt khổ thơ đã tạo nên sắc điệu trữ tình thắm thiết, đậm đà tính dân tộc Nếu đại từ “mình” được dùng để chỉ những người bộ đội miền xuôi, người ra đi trong cuộc chia tay ấy thì sang đến câu thơ cuối khổ,
“mình” được điệp lại ba lần với ý nghĩa khác nhau mà lại quyện hòa, gắn bó không thể rạch ròi phân định Đó là cách xưng hô ân tình, đằm thắm như lời lẽ tình tứ của đôi trai gái xưa “ Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ” Mình có trong ta mà
ta cũng luôn hiện hữu trong trái tim mình
Với tình cảm gắn bó tha thiết ấy, người ra đi hãy đừng quên những tháng ngày cùng nhau chiến đấu “khi kháng Nhật – thủa còn Việt Minh”, và đừng quên những cái tên thân thuộc Tân Trào, Hồng Thái, nơi khởi nguồn của những chiến công; đừng vội
Trang 14phai nhòa những kí ức thiêng liêng về buổi lễ xuất quân dưới gốc đa cổ thụ bên mái đình Tân Trào năm ấy
Câu thơ cuối cùng có sự đổi chỗ thú vị: Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào được hoán vị thành “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa” vừa nhấn mạnh cái tên đã
đi vào lịch sử vừa tạo nên tính chất mới mẻ, độc đáo cho câu thơ lục bát Người Việt Bắc luôn mong muốn người ra đi hãy khắc ghi và luôn gìn giữ những phẩm chất cách mạng vốn có vẹn nguyên như những ngày đầu!
Nói đên sự đóng góp của Tố Hữu trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, không thể không nói đến đóng góp quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, tinh thần dân tộc trong thơ Thơ Tố Hữu bài nào cũng vậy, đều đậm đà sâu sắc phong vị quê hương, từ ngôn từ giản dị, mộc mạc, cách xưng hô ‘mình- ta” thân tình ấm áp; hình ảnh của dưa cà mắm muối, của sân đình gốc đa, của dáng mẹ, dáng chị, dáng anh quen thuộc, chân quê đến cách cảm, cách nghĩ và một tâm hồn dào dạt nghĩa tình trong thơ Tất cả điều đó đã làm nên nét rất riêng trong phong cách sáng tác của nhà thơ Đó cũng
là lí do khiến thơ của Tố Hữu chyển tải những điều lớn lao mà rất tự nhiên thấm sâu vào lòng người đọc nhiều thế hệ, làm nên sức sống lâu bền
Với mười hai câu thơ lục bát Tố Hữu đã tạo thành sáu câu hỏi với kết cấu trùng điệp như khắc sâu vào kỉ niệm người đi về một miền đất hoang sơ mà nghĩa tình Mỗi câu đều gợi lại nét tiêu biểu trong chuỗi kỉ niệm về Việt Bắc: Việt Bắc gian khổ thiếu thốn, Việt Bắc nghĩa tình sâu đậm, Việt Bắc gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của cách mạng Việt Nam Đọc đoạn thơ ta như thấy ngân vang khúc nhạc tình yêu êm ái dịu dàng Những câu hỏi là nỗi niềm băn khoăn của đồng bào Việt Bắc đấy nhưng thực chất lại chính là những lời tự dặn lòng mình của nhà thơ: trở về xuôi rồi đừng quên những năm tháng cơ hàn khốn khó ở Việt Bắc, đừng quên những con người mộc mạc mà
ân nghĩa thủy chung Ta nhận thấy một tấm lòng biết ơn sâu nặng của nhà thơ với Việt Bắc, thấy yêu mến và trân trọng hơn sự cống hiến của nhân dân mọi miền cho độc lập hôm nay Tôi chợt hỏi mình “ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay?”
Trang 15Đề 6:
- Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu
Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy
(Trích: Việt Bắc – Tố Hữu)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về sự kết hợp yếu tố nhạc và họa
trong thơ Tố Hữu
BÀI LÀM
Nói về sức hấp dẫn trong thơ Tố Hữu, Xuân Diệu đã từng nhận xét rằng đó là những vần thơ “từ trái tim vọt ra” vừa lãng mạn vừa tràn đầy “máu huyết” Quả nhiên là thế! Thơ Tố Hữu được khơi dẫn bởi mạch nguồn của tinh thần và ý chí cách mạng, của lí tưởng đẹp đẽ và tình yêu đất nước sâu sắc Đọc mỗi dòng thơ của ông, ta đều thấy chất chính trị quyện hòa nhuần nhuyễn với chất trữ tình đằm thắm ngọt ngào “ Việt Bắc” là một minh chứng tiêu biểu cho nét phong cách sáng tác đó của nhà thơ Trong tác phẩm, tình cảm nhớ nhung lưu luyến giữa đồng bào Việt Bắc với bộ đội miền xuôi được Tố Hữu diễn đạt bằng những câu thơ tình tứ vô cùng:
- Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu
Trang 16Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy
Nếu ai đó không biết rằng “Việt Bắc” là lời giã biệt, lời tri ân của cán bộ, bộ đội miền xuôi với đồng bào Việt Bắc sau mười lăm năm gắn bó làm nên thắng lợi của trận Điện Biên Phủ lừng lẫy thì hẳn sẽ nghĩ đó là những câu hát giao duyên tình tứ của những bậc liền anh liền chị ở một xứ Kinh Bắc nào Sự kiện lịch sử quan trọng ấy được ghi khắc không chỉ trong trí nhớ mà còn khắc sâu trong trái tim của bao người yêu thơ Đó là sức mạnh của “một tiếng nói yêu thương luôn luôn chan hòa ánh sáng” (Hoài Thanh) trong ngòi bút trữ tình - chính trị của Tố Hữu
Có nhà phê bình từng nhận định “Người Tố Hữu là một thi sĩ, một chiến sĩ nhưng chúng ta đừng quên cốt cách của nó là thi sĩ” Tâm hồn của một thi sĩ làm cách mạng đã khiến cho những điều khô khan, cứng nhắc cũng trở nên mềm mại trong thơ Chẳng thế mà,Tố Hữu đã thi vị hóa mối quan hệ quân - dân trở nên gần gũi, cởi mở và chân thành biết mấy Vốn dĩ, cách xưng hô “mình – ta” đã rất quen thuộc trong đời sống người dân lao động xưa, trong đối đáp giao duyên hay trong thơ ca dân gian Ta dễ dàng bắt gặp những câu ca dao ngọt ngào say đắm: “ Mình về ta chẳng cho về - ta nắm vạt áo, ta đề câu thơ” Hay “Mình về có nhớ ta chăng – Ta về ta nhớ hàm răng mình cười” Ở đây, Tố Hữu thay lời bộ đội miền xuôi thân mật xưng hô “ta-mình” với đồng bào Việt Bắc, khiến tình cảm quân dân càng thêm khăng khít, mặn nồng
Đoạn thơ là lời đáp lại tình cảm của người đi với người ở lại Đồng bào Việt Bắc
vì nhớ nhung, lo lắng mà gặng hỏi người về xuôi có còn nhớ những ngày “ Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù?” Đáp lại tình cảm sâu nặng ấy, người ra đi đã bộc lộ sự thủy chung son sắt như một lời thề :
Trang 17- Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Câu thơ điệp lại theo cấu trúc vòng tròn: “ta với mình” rồi lại “mình với ta” tạo nên sự gắn bó quyện hòa như không thể tách rời, không gì chia cắt Lại thêm câu khẳng định tấm lòng, tình cảm trước sau như một của người ra đi, vẫn luôn “mặn mà đinh ninh”, không bao giờ phai nhạt Đọc câu thơ, ta ngỡ như đó là lời thề non hẹn biển của đôi trai gái yêu nhau: “Thuyền về có nhớ bến chăng – Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” Hẳn rằng lời khẳng định chân thành ấy của bộ đội miền xuôi đã làm ấm lòng người ở lại
Dường như ngần ấy chưa đủ để nói hết những lưu luyến nhớ nhung của người ra
đi dành cho mảnh đất và con người Việt Bắc Mười lăm năm gắn bó chứ đâu phải một sớm một chiều, tất cả như còn vẹn nguyên trong tâm trí người ra đi:
Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu
Lúc này đại từ “mình” được sử dụng để chỉ cho cả hai đối tượng, “mình” là bộ đội miền xuôi hay “mình” cũng chính là người Việt Bắc Dường như cảm xúc nhớ nhung dâng trào đến độ “ta – mình” đã hòa vào một, ta là mình và mình là ta Đến đây, độc giả lại bắt gặp một tứ trong ca dao xưa “Qua đình ngả nón trông đình – Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” Cách ví von “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” vừa thân thuộc vừa mang đặc trưng lối nói của người vùng cao Việt Bắc : tình nghĩa con người được ví với nước trong nguồn – một biểu tượng của thiên nhiên vô tận, vĩnh hằng Câu thơ vừa thể hiện nỗi nhớ, đồng thời cũng thể hiện tấm lòng biết ơn sâu nặng của người cán bộ miền xuôi đối với Việt Bắc, nơi đã che chở, nuôi dưỡng cách mạng từ trong trứng nước!
Nỗi nhớ được cụ thể hóa qua không gian, thời gian:
Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Trang 18Tố Hữu đã lấy thước đo giá trị của nỗi nhớ trong tình yêu để cắt nghĩa, lý giải cho tình cảm của người chiến sĩ miền xuôi với đồng bào Việt Bắc Đó không phải là nỗi nhớ của
ý thức, của lí trí lạnh lùng mà là nỗi nhớ hằn in trong trái tim của người ra đi như nỗi nhớ “người yêu” – một nỗi nhớ da diết, cồn cào, mãnh liệt Câu thơ có từ để hỏi “nhớ gì” vừa thể hiện sự ngỡ ngàng về một hiện thực trong trái tim mình, dường như bản thân người đi cũng thực sự bất ngờ bởi nỗi nhớ đằm sâu mãnh liệt đến thế, vừa như khẳng định sự hiện hữu một tình cảm đặc biệt dành cho Việt Bắc trong trái tim mình Thật đáng trân trọng!
Trong xúc cảm của một tình yêu nồng nàn, khung cảnh thiên nhiên lãng mạn mở
ra “ Trăng lên đầu núi – nắng chiều lưng nương.” Một câu thơ phác họa hai thời điểm khác nhau: vế đầu là hình ảnh gợi tả không gian hò hẹn lãng mạn với ánh trăng vừa hé lộ dịu dàng e ấp, tình tứ; vế sau là hình ảnh gợi không gian của buổi chiều lao động trên nương rẫy, những tia nắng còn trải vàng trên lưng chừng núi Dường như, những khoảnh khắc đẹp như tranh vẽ ấy đã lí giải tại sao nỗi nhớ đồng bào trong lòng người đi lại như nỗi nhớ “người yêu” Thiên nhiên và hình ảnh cuộc sống lao động của con người nơi đây thật khiến lòng người xao xuyến, đắm say!
Và như một cuốn phim quay chậm, những hình ảnh thân thuộc hiện về nguyên vẹn trong tâm trí người đi:
Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy
Kết thúc khổ thơ , tình cảm lại toả ra tràn ngập cả núi rừng Việt Bắc Những kỷ niệm chung và riêng đan xen nhau, lần lượt hiện ra rõ mồn một trong tâm trí của người
đi “từng bản khói cùng sương”, “từng rừng nứa bờ tre” Nghệ thuật điệp từ “nhớ” nằm trong cấu trúc điệp “nhớ từng”, kết hợp với biện pháp tu từ liệt kê những hình ảnh về không gian sinh sống của đồng bào, nơi đi về ấm áp trong tình cảm gia đình, những địa danh lịch sử người cán bộ đã từng đặt chân “Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê…” làm cho
Trang 19những kỷ niệm thân thương về những tháng ngày gian khổ mà kiên cường đấu tranh chống giặc hiện lên tầng tầng lớp lớp, hết hình ảnh này, đến hình ảnh khác như suối nguồn không bao giờ vơi cạn
Nhà thơ Chế Lan Viên từng nói “Thơ Tố Hữu là thơ cách mạng, chứ không phải
thơ tình yêu, nhưng thơ anh là của một tình nhân, anh nói các vấn đề bằng trái tim của một người say đắm Cái sức mạnh lớn nhất của Tố Hữu là quả tim anh” Điều này dễ
nhận thấy ở bài thơ Việt Bắc từ việc sử dụng thể thơ lục bát, ở cách đối đáp giao duyện ngọt ngào thiết tha đến việc sử dụng linh hoạt, tài tình cặp đại từ nhân xưng “mình, ta” nhịp nhàng sánh đôi để nói về tình cảm gắn bó giữa cán bộ với nhân dân Chính lý tưởng cộng sản là ngọn nguồn của mọi cảm hứng sáng tạo trong thơ Tố Hữu Thơ ông luôn có
sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tình cảm yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội thuần túy với một tình cảm cá nhân đằm thắm nhất Nhờ thế, nhà thơ đã sáng tạo nên một thế giới nghệ thuật độc đáo của thơ trữ tình chính trị, mang đậm đà bản sắc dân tộc và nâng nó lên một trình độ mới
Tóm lại, qua những lời thơ thủ thỉ tâm tình chân thành đằm thắm của người ra đi với người ở lại trong đoạn thơ trên, ta không chỉ thấy những hồi ức đẹp đẽ về một Việt Bắc thơ mộng nghĩa tình mà người đọc còn cảm nhận một tình cảm cách mạng thiết tha, sâu đậm trong tình quân dân cá nước Đoạn thơ cũng tiêu biểu cho phong cách trữ tình - chính trị của Tố Hữu, để lại dấu ấn khó phai trong lòng độc giả Những vần thơ cũng góp phần nhắc nhớ con người về lối sống ân nghĩa thủy chung, có được những ngày bình yên hạnh phúc, đừng vội quên những tháng ngày gian khổ đã qua! Phải chăng vì thế mà thơ Tố Hữu bao giờ cũng mới, nó trở thành cách nhìn, thành nếp sống phổ biến của những con người thời đại mới!”
Đề 7:
Trang 20Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
(Trích: Việt Bắc – Tố Hữu)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về sự kết hợp yếu tố nhạc và họa
trong thơ Tố Hữu
BÀI LÀM
Tố Hữu là nhà thơ lớn, là cánh chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt
Nam Các tác phẩm của ông luôn in đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, mang tính trữ tình chính trị và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc “Việt Bắc” là một trong những sáng tác hay nhất của đời thơ Tố Hữu, là đỉnh cao của thơ kháng chiến chống Pháp Đó được xem như một bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiến trường kì, gian khổ
mà anh dũng kiên cường Cả bài thơ cũng là dòng chảy cảm xúc dạt dào, tha thiết về nỗi nhớ Việt Bắc Tiêu biểu trong bài thơ là những dòng kí ức về một bức tranh tứ bình Việt Bắc thơ mộng, ân tình:
Ta về, mình có nhớ ta
… Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
Tố Hữu viết Việt Bắc nhân một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Sau chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, tên giặc Pháp cuối cùng rời khỏi quê hương, cơ quan
Trang 21trung ương chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về tiếp quản thủ đô sau mười lăm năm gắn
bó Trong giờ phút chia tay đầy lưu luyến bịn rị, Tố Hữu đã viết bài thơ này Mạch thơ tuôn trào theo dòng hồi tưởng của nhà thơ về những năm tháng gắn bó với mảnh đất và con người Việt Bắc Nhớ về Việt Bắc, không chỉ là nỗi nhớ về những hi sinh, gian khổ
“bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” mà còn là nỗi nhớ về một Việt Bắc đẹp như thơ, làm say đắm lòng người
Mở đầu đoạn thơ là câu hỏi tu từ Nhưng hỏi chỉ là cái cớ để thể hiện tâm tư tình
cảm, nhấn mạnh nỗi nhớ da diết của người về Thủ đô
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Hai câu đầu là lời hỏi đáp của ta - người cán bộ kháng chiến về xuôi Ta hỏi mình có nhớ
ta Người cách mạng về xuôi hỏi người Việt Bắc để bộc lộ tâm trạng của mình là dù có ở nơi xa xôi , dù có xa cách nhưng lòng ta vẫn gắn bó với Việt Bắc Chữ "ta" và "nhớ" được điệp đi điệp lại nhiều lần vừa nhấn mạnh chủ thể nỗi nhớ, vừa khẳng định một tình cảm nhớ nhung đang chế ngự, tràn ngập trong tâm hồn người đi Nỗi nhớ hướng về
"những hoa cùng người" hướng về thiên nhiên , núi rừng và con người Việt Bắc "Hoa"
là sự kết tinh của hương sắc, còn "người" là bông hoa đẹp nhất giữa núi rừng Xét cho cùng, "người ta là hoa của đất" Hoa và người đồng hiện càng tôn lên vẻ đẹp cho nhau, khiến không gian trở nên hài hòa, lãng mạn
Nỗi nhớ hiện về trong tấm trí người đi theo mạch trình tự bốn mùa, mỗi mùa là một bức tranh đẹp toàn bích, mà khởi đầu là bức tranh Việt Bắc trong mùa đông:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Không gian mở ra trước mắt người đi không phải là cảnh rừng ảm đạm lạnh lẽo mà là một cánh rừng xanh bạt ngàn vô tận Trên tấm thảm xanh đầy sức sống ấy là sắc đỏ rực
rỡ, tươi tắn của những bông chuối rừng Sự hài hòa giữa hai màu sắc tương phản đỏ” khiến lòng người cảm thấy ấm áp trước cái lạnh lẽo kahức nghiệt của thời tiết nơi rừng thiêng nước độc ấy
Trang 22“xanh-Giữa không gian hoang vu mà thơ mộng, xuất hiện hình ảnh những con người lao động khỏe khoắn cheo leo trên những đỉnh đèo “nắng ánh” với “dao gài thắt lưng” Những ánh nắng rực rỡ của ngày mới chiếu rọi vào những chiếc dao gài ở thắt lưng tạo nên phản quang lấp lánh làm đẹp thêm hình ảnh những con người Việt Bắc chủ động, tự tin giữa đại ngàn
Bức tranh mùa xuân hiện ra cũng mang nét rất riêng của thiên nhiên nơi đây Đó
là thời điểm mà cả cánh rừng mênh mông ngập tràn sắc trắng tinh khôi của hoa mơ nở rộ:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Cách sử dụng kết hợp từ “mơ nở trắng rừng” khiến người đọc liên tưởng đến sự chuyển biến của màu sắc, đồng loạt và nhất thể như nhuộn trắng cả không gian, khác với sắc trắng điểm xuyết khiêm nhường trong những câu thơ miêu tả cảnh ngày xuân của đại thi hào Nguyễn Du “Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” Xuân ở núi rừng Việt Bắc là thế, thật riêng, thật ấn tượng
Giữa cái nền trắng của hoa mơ ấy, nổi bật lên hình ảnh con người lao động cần mẫn, dịu dàng: "chuốt từng sợi giang" Con người đẹp một cách tự nhiên trong công việc hàng ngày Động từ "chuốt" kết hợp với trợ từ "từng" đã thể hiện bàn tay khéo léo, tỉ mĩ,
và tài hoa của người lao động Đó cũng chính là những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Bắc hào hùng nhưng cũng rất hào hoa
Nếu như bức tranh mùa đông và mùa xuân được nhà thơ cảm nhận bằng thị giác thì sang đến bức tranh mùa hè các giác quan quan của nhà thơ được mở rộng để đón nhận những điều thú vị tuyệt vời chỉ có ở Việt Bắc:
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình
Âm vang của tiếng ve làm lá phách đổ vàng Đó là thứ âm thanh quen thuộc của mùa
hè Khi tiếng ve cất lên cả không gian như bừng thức, cả cánh rừng phách đột ngột “đổ vàng” Động từ “đổ” được sử dụng độc đáo, tạo liên tưởng thú vị về sự chuyển biến thật
Trang 23nhanh, thật đột ngột của màu sắc khu rừng từ xuân sang hạ Tưởng như tấm voan trắng tinh khôi của mùa xuân vừa đuwọc trút bỏ thì lập tức bà mẹ thiên nhiên đã khoác lên cách rừng một tấm hoàng bào lộng lẫy kiêu sa Cảnh tượng thật kì vĩ và ấn tượng vô cùng Câu thơ có nét tương đồng với ý thơ "Một tiếng chim kêu sáng cả rừng" của Khương Hữu Dụng Chỉ với một câu thơ mà các tác giả đã gợi lên cả sự vận động của thời gian, của cuộc sống
Và trên cái nền vàng của rừng phách ấy, hiện lên hình ảnh thật đáng yêu làm cho bức tranh thêm nên thơ, trữ tình Đó là hình ảnh: "cô em gái hái măng một mình" Một mình đấy nhưng không hề cô đơn Dường như thiên nhiên và con người đã hòa làm một, như bạn thân như tri kỉ, tôn lên vẻ đẹp của nhau thật hài hòa, thơ mộng: thiên nhiên đẹp lộng lẫy, lung linh , và con người lao động thì thật dịu dàng, duyên dáng Câu thơ khéo léo bộc lộ tấm lòng yêu mến trân trọng lối sống giản dị, lặng thầm của những con người Việt Bắc thân thương
Khép lại đoạn thơ là bức tranh về mùa thu ở Việt Bắc:
Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung
Có lẽ ấn tượng nhất trong nỗi nhớ về hoa và người Việt Bắc đó là những đêm trăng thu yên bình, lãng mạn Bức tranh thu không có hoa rừng khoe sắc, mà đó là màu sắc dịu dàng, êm ái ánh trăng thu chiếu tỏa Câu thơ mở ra một không gian tràn ngập ánh trăng thanh bình soi chiếu khắp núi rừng chiến khu Ánh trăng ấy không chỉ mang vẻ đẹp tự nhiên mà nó còn gắn với niềm xúc động của những con người từng trải qua bao năm khốc liệt , gian khổ của chiến tranh Và trong giây phút sống trong hòa bình ấy, lòng người chợt nhớ đến “tiếng hát ân tình” ngân vang, tha thiết Tiếng hát bộc lộ lòng người, bộc lộ ân tình thuỷ chung , tình nghĩa của con người Việt Bắc với cách mạng, với bộ đội miền xuôi Tiếng hát cũng nhắc nhớ người ra đi đừng vội quên quá khứ nghĩa tình suốt mười lăm năm gắn bó Bức tranh mùa thu Việt Bắc đã làm hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng và khép lại đoạn thơ bằng tiếng hát "ân tình thủy chung" ấy
Trang 24còn gợi cho người về và cả người đọc những rung động sâu xa của tình yêu quê hương đất nước
Tố Hữu đã diễn tả nỗi nhớ gắn với hình ảnh của núi rừng và bốn mùa hoà chung sắc màu đa dạng làm nên vẻ hấp dẫn cho bức tranh tứ bình bằng thơ có họa và nhạc về hoa và người Việt Bắc Đọc thơ ông, người đọc như được huy động tất cả các giác quan
để cảm nhận: Thị giác được chiêm ngưỡng những khoảnh khắc trong ngần của rừng mơ mùa xuân, sự chói chang huy hoàng của rừng phách mùa hè, sự tươi tắn, ấm áp của hoa chuối mùa đông Thính giác lắng nghe âm thanh tiếng ve quen thuộc của mùa hè, lắng nghe tiếng hát thân thương nghĩa tình của con người Việt Bắc và trái tim rung động biết bao! Đó là thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc Từng dòng thơ như ngân nga, như khảm vẽ vào tâm trí người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên, tình người Thời gian trong đoạn thơ được diễn tả tuần tự bốn mùa bắt đầu từ mùa đông và khép lại là mùa thu lịch sử, mùa của thắng lợi tròn đầy, mùa của bình yên lắng đọng, nhưng có một thứ bất biến, không hề đổi thay, đó là nỗi nhớ, là tình yêu nhà thơ dành cho Việt Bắc Thời gian trôi đi càng làm nỗi nhớ thêm tha thiết, sâu lắng Đó là tình yêu đích thực, rung động chân thành của trái tim nhà thơ, cũng là mạch nguồn làm nên chất trữ tình chính trị sâu sắc và tính dân tộc đậm đà ở mỗi vần thơ Tố Hữu
Qua mười câu thơ tuyệt bút , bằng việc sử dụng cấu trúc đối đáp giao duyên “ta”-
“mình”, kết hợp với việc sử dụng những ngôn từ hình ảnh giàu sức gợi hình, gợi cảm mà mộc mạc chân thành, nhà thơ đã làm nổi bật cảnh đẹp thiên nhiên bốn mùa ở núi rừng trong sự hài hòa với cốt cách và tâm hồn người Việt Bắc Qua đó, tác giả đặc biệt ngợi
ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người Việt Bắc, ngợi ca tình nghĩa cách mạng thủy chung gắn bó bằng tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu nặng Với việc sử dụng khéo léo, tài tình ngôn ngữ dân tộc, Tố Hữu đã trữ tình hóa mối quan hệ chính trị,lãng mạn hóa không gian kháng chiến khiến tình quân dân trở nên thi vị và đầy ấn tượng Đoạn thơ góp phần làm nên thành công của tác phẩm và đem đến cho người đọc ấn tượng thật đẹp về một thời kì đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc
Trang 25ĐẤT NƯỚC – Nguyễn Khoa Điềm
Đề 9:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa ” mẹ thường hay
kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng Đất nước có từ ngày đó
(Trích: Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó nhận xét về nét độc đáo trong ngòi bút thơ
Nguyễn Khoa Điềm
« hình tia chớp » trong thơ Trần Mạnh Hảo, một Đất nước bền gang bất khuất « rũ bùn
đứng dậy sáng lòa » trong thơ Nguyễn Đình Thi, một đất nước « Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững - Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa » trong cái nhìn của Huy Cận Có thể nói rằng , muốn viết những vần thơ tuyệt vời về Đất nước không chỉ
Trang 26đơn thuần là nhà thơ biết rung động trước một vầng trăng, một tia nắng, một điệu dân ca hay một tiếng thơ cổ điển Mà trên hết, đó là một tình yêu chân thật, nồng nàn và một
ý thức tự tôn dân tộc, gắn sứ mệnh của mình với vận mệnh của non sông Cùng viết về
đề tài này, ở đoạn thơ “Đất Nước” (trích trong chương V trường ca “Mặt đường khát
vọng”), Nguyễn Khoa Điềm đã chọn một lối đi riêng đem đến cho người đọc những trải nghiệm mới mẻ, độc đáo trong cách lí giải về đất nước Điều đó thể hiện rõ nét qua đoạn thơ sau :
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
… Đất Nước có từ ngày đó…”
Tác phẩm được trích từ Trường ca “Mặt đường khát vọng” viết năm 1971 tại chiến khu Trị - Thiên giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đang ở giai đoạn cam go, ác liệt nhất Với giọng thơ thủ thỉ tâm tình vừa nồng nàn tha thiết vừa suy tư sâu lắng, thi sĩ đã lí giải về Đất Nước thật giản dị, mộc mạc, gần gũi mà thú vị, đầy bất ngờ Từng dòng thơ như thức tỉnh ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ về tinh thần yêu nước, sẵn sàng đứng dậy đấu tranh để bảo vệ tổ quốc
Nếu hai tiếng « quê hương » gợi trong ta những xúc cảm dịu dàng, gợi về miền nhớ miền thương với sự gần gũi quê mùa như những câu thơ đậm chất đồng nội của nhà thơ Đỗ Trung Quân : Quê hương là chùm khế ngọt, Quê hương là vàng hoa bí/ Là hồng tím giậu mồng tơi/ Là đỏ đôi bờ dâm bụt… thì hai từ Đất Nước lại gợi ra cái thâm nghiêm, kì vĩ, cái hoành tráng , kiêu hùng trong lòng người Nhưng thật lạ kì khi ta bắt gặp những vần thơ trong « Đất Nước » của Nguyễn Khoa Điềm, cái cảm giác gần gũi thân thuộc của mùi rơm rạ, của sắc áo nông dân, của bờ tre giếng nước quê hương cứ ăm
ắp đầy lên, mơn man và dịu ngọt biết mấy
Bằng giọng thơ thủ thỉ trò chuyện trong vai trò của lớp người anh đi trước, Nguyễn Khoa Điềm đã khéo léo « giác ngộ » cho người em về ý thức trách nhiệm với Đất Nước Từng lời giải thích nhẹ nhàng tự nhiên như lời ăn tiếng nói thường ngày mà gợi nhiều suy tư sâu lắng Hẳn người em sẽ không cảm thấy nặng nề khó hiểu :
Trang 27Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Có lẽ em chưa hiểu rằng đất nước có từ bao giờ, hoặc cũng có thể câu hỏi đó là điểm xuất phát mà Nguyễn Khoa Điềm chọn để bắt đầu cho một câu chuyện dài về Đất
Nước Theo cách giải thích của Nguyễn Khoa Điềm thì “Đất nước là một giá trị lâu bền,
vĩnh hằng; đất nước được tạo dựng, được bồi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền nối từ đời này sang đời khác Cho nên “khi ta lớn lên đất nước đã có rồi!” (Nguyễn Khoa
Điềm – Tác giả và Tác phẩm) Cách nói ấy đã thể hiện niềm tự hào mãnh liệt về sự
trường tồn của đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử Đất Nước cũng như Trời và Đất, khi
ta sinh ra Đất đã ở dưới chân, Trời đã ở trên đầu Hiểu Đất Nước phải đi từ cội nguồn của bốn nghìn năm trước Nhưng khác với tư duy thông thường, câu trả lời của nhà thơ không phải là một mốc thời gian cụ thể nào mà đưa em vào không gian cổ xưa huyền thoại, để rồi tự em sẽ cảm nhận được cả chiều dài lịch sử và bề dày của văn hóa quê hương :
Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Các mốc thời gian hình thành nên Đất Nước như thời điểm ra đời, bắt đầu xây dựng và lớn lên, tất cả đều được nhà thơ hình ảnh hóa, cổ tích hóa bởi những thứ thật gần gũi, thân thương Tác giả mượn chất liệu văn học dân gian để giải thích sự ra đời của Đất Nước bằng một cách diễn đạt thật lạ «Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể » Đối với trẻ thơ, Đất Nước thân thương qua lời kể “Ngày xửa ngày xưa” của bà của mẹ…Có nghĩa là Đất Nước đã có từ lâu đời; Đất Nước có từ trước khi những câu truyện cổ ra đời và hiện hữu ngay trong những câu chuyện cổ tích
mà em đã thuộc nằm lòng Chính những câu chuyện cổ và những bài hát ru thuở ta còn nằm nôi là nguồn sữa ngọt lành nuôi dưỡng tâm hồn nhân hậu, bao dung của con người nước Việt Thật đáng trân trọng biết bao !
Đất Nước cũng có những ngày đầu phát triển bình dị và tự nhiên như « miếng trầu bây giờ bà ăn »- một miếng trầu nhỏ bé đơn sơ thôi nhưng gọi về cả nền văn hóa bốn
Trang 28nghìn năm của lịch sử dân tộc Miếng trầu là hiện thân của lịch sử, hiện thân của những giá trị văn hóa đẹp đẽ còn tồn tại đến ngày nay Đó là minh chứng cho tục ăn trầu từ nghìn đời « miếng trầu là đầu câu chuyện » « Miếng trầu nên dâu nhà người », là minh chứng cho tấm lòng thủy chung son sắt, trọng tình trọng nghĩa của hai anh em họ Cao và nàng Lưu thị trong « Sự tích trầu cau » Quả thật, chỉ một hình ảnh giản dị là thế mà sức gợi vô cùng!
Cách dùng từ giản đơn « Đất Nước lớn lên » khiến ta có cảm giác Đất Nước như một cơ thể sống, được nuôi dưỡng bằng nền văn hóa phong phú đẹp đẽ, nhưng cũng trải qua bao thử thách « Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo/ Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn » (Nguyễn Việt Chiến) Và Đất Nước ấy vẫn lớn lên theo kinh nghiệm
« trồng tre mà đánh giặc», chủ động, cảnh giác trước quân thù Cách nói gợi liên tưởng sâu sắc đến chiều dài lịch sử giữ nước của dân tộc, nhắc người em nhớ đến truyền thống đánh giặc của quê hương với hình ảnh vị Phù Đổng Thiên vương nhổ tre làm vũ khí quét sạch bóng quân thù Rồi Tre mọc bạt ngàn trên khắp quê hương như thành như lũy vây chắn bước chân giặc ngoại xâm Nó như là sự đồng hiện những phẩm chất trong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, đôn hậu thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình nhưng cũng kiên cường bất khuất trong tranh đấu Hình ảnh thân thương mà thể hiện ý chí bền gan, bất khuất ấy đã trường tồn cùng Đất Nước từ thủa sơ khai đã chạm đến trái tim của người em, làm sống dậy một lòng yêu nước và tự hào về truyền thống văn hóa, truyền thống đánh giặc của quê hương
Ai đó đã từng nói « Quê hương là nơi chân ta có thể rời đi nhưng tim ta vẫn mãi ở
đó » Thật vậy, bởi đó là mảnh đất êm dịu dung dưỡng tâm hồn ta, nhắc ta nhớ về nguồn cội, giống nòi Ở đó có mẹ cha ta, có những kỉ niệm tuổi thơ ta ngọt ngào, sâu lắng :
Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên
Còn gì thân thiết hơn, cảm xúc hơn hình ảnh người mẹ trong tim ta Nét đẹp bình
dị chân quê, không phấn son điểm trang, không trau chuốt lụa là, mà chỉ đơn giản trong
Trang 29chiếc áo bà ba đã ngả màu, ống quần luôn xắn lên cao, còn mái tóc lúc nào cũng búi lên gọn gàng sau đầu khi làm việc hình ảnh đó dẫu đơn sơ nhưng lại trở thành biểu tượng văn hóa Việt, nét đẹp Việt, khiến lòng ta ngập tràn thương mến
Nét đằm thắm dịu dàng cùng tấm lòng thủy chung son sắt trong nghĩa vợ tình chồng đã làm nên vẻ đẹp rất riêng của người phụ nữ Việt Nam Nguyễn Khoa Điềm đã khéo léo tôn lên vẻ đẹp ấy chỉ với vài nét chấm phá, chọn lọc tinh tường bằng một giọng thơ vừa khẳng định đinh ninh, vừa tự hào sâu sắc Câu thơ cũng đưa ta về miền văn hóa Kinh Bắc xưa với những câu ca đậm tình đậm nghĩa như thế :
“Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
“Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa đầy
Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”
Thành ngữ “gừng cay muối mặn” được vận dụng một cách đặc sắc trong câu thơ nhẹ nhàng mà thấm đượm biết bao ân tình Nó gợi lên được ân nghĩa thủy chung ở đời Quy luật của tự nhiên là gừng càng già càng cay, muối càng lâu năm càng mặn Quy luật trong tình cảm con người là con người sống với nhau lâu năm thì tình nghĩa càng đong đầy
Từ cha mẹ thương nhau mới đi đến “Cái kèo cái cột thành tên” Câu thơ gợi nhắc cho người đọc nhớ đến tục dựng nhà của người Việt xưa Đó là tục làm nhà sử dụng kèo cột giằng giữ vào nhau làm cho nhà vững chãi, bền chặt tránh được mưa gió, thú dữ Cái kèo, cái cột bởi thế cũng trở thành quen thuộc, gắn bó với mỗi thành viên trong gia đình, thậm chí, nó còn trở thành những cái tên mộc mạc, giản đơn đi suốt cuộc đời một con người
Không chỉ đằm thắm thủy chung trong tình cảm gia đình, người dân ta cũng còn mang những vẻ đẹp tuyệt vời trong lao động, tăng gia sản xuất :
Trang 30Hạt gạo cũng phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng…
Câu thơ sử dụng hàng loạt các động từ chỉ hoạt động lao động làm ra hạt lúa của người nông dân « xay, giã, dần, sàng », kết hợp với thành ngữ « một nắng hai sương »
đã làm nổi bật sự sự cần cù chăm chỉ của cha ông ta những ngày đầu của nền văn minh
lúa nước, khi nông nghiệp còn lạc hậu, nghèo nàn « Cày đồng đang buổi ban trưa/Mồ
hôi thánh thót như mưa ruộng cày/ Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần »
Đất Nước bốn ngàn năm/ Vất vả và gian lao » đã hiện hữu trong thơ Nguyễn Khoa Điềm thật giản dị, dễ hiểu Khép lại dòng cảm hứng lí giải Đất Nước có từ bao giờ
là một câu khẳng định thật tự nhiên :
« Đất Nước có từ ngày đó… »
“Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắc chắn ngày đó là ngày bắt đầu của những truyền thống, phong tục tập quán, ngày bắt đầu của nền văn hiến, ngày bắt đầu của những truyền thống, đạo lí mang bản sắc quê hương….Câu thơ ngắn gọn, kết đọng dòng cảm xúc đang tuôn chảy theo chiều dài lịch sử, găm vào lòng người đọc biết bao suy tưởng !
Trong 9 câu thơ đầu, tác giả đã sử dụng một cách linh hoạt, độc đáo chất liệu dân gian : ca dao dân ca, tục ngữ, truyền thuyết, cổ tích… không chỉ tạo cảm giác gần gũi quen thuộc mà còn biểu hiện ý thức tự tôn tự hào dân tộc Từ “Đất Nước” được viết hoa
và lặp lại 5 lần thể hiện sự thành kính, nâng niu, trân trọng của nhà thơ Với câu từ giản
dị, đời thường, không có một từ pha tạp, vay mượn, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo nên những vần thơ tự do dạt dào cảm xúc, kết hợp với chất giọng thủ thỉ tâm tình như một điệu ru dễ đi vào lòng người Nhưng chuyển tải mạch cảm xúc ấy là một lối lập luận chặt chẽ: tổng - phân - hợp Chính sự kết hợp hài hoà giữa chính luận và trữ tình, giữa trí tuệ
và cảm xúc bay bổng đã làm nên nét riêng trong phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm giữa rừng thơ Đất Nước
Trang 31Tóm lại, qua những dòng thơ trăn trở và suy tư về một khái niệm tưởng chừng như đã ăn sâu vào máu thịt mỗi người dân Việt, qua chiều sâu văn hoá, sinh hoạt Nguyễn Khoa Điềm đã có một phát hiện mới mẻ, độc đáo, một cảm nhận vô cùng sâu sắc: Đất Nước hiện lên trong thế giới tinh thần của cộng đồng người Việt, trong cuộc sống sinh hoạt từ bao đời Đất Nước hiện lên gắn liền với những phong tục tập quán với lối sống, nếp nghĩ, qua kho tàng văn học dân gian, qua bản sắc văn hoá Đó là một Đất Nước không trừu tượng mà cụ thể, chứa đựng mơ ước, khát vọng, quan niêm về vẻ đẹp phẩm chất của tâm hồn dân tộc Gương mặt Đất Nước hiên lên thật sống động, lung linh: trong cuộc sống, trong lao động và trong chiến đấu Đọc đoạn thơ nói riêng và bài thơ nói chung, ta cảm nghe như cội nguồn dân tộc, cội nguồn văn hóa đang thấm vào tận từng mạch hồn ta, dòng máu ta Điều đó càng làm ta thêm yêu thêm quý quê hương Tổ quốc mình
Đề 10:
Trong anh và em hôm nay Đều có một phần đất nước (…)
Làm nên đất nước muôn đời…
(Trích: Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm)
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên Từ đó liên hệ đến trách nhiệm của thế hệ trẻ
ngày nay đối với đất nước
BÀI LÀM
Nguyễn Khoa Điềm là một trong những cây bút tiêu biểu trong nền thơ ca kháng chiến chống Mĩ cứu nước Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn và
suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam mà trường ca Mặt
đường khát vọng là một sáng tác tiêu biểu Được ra đời trong cuộc chiến chống MĨ các
Trang 32liệt tại chiến trường Trị – Thiên năm 1971, những dòng thơ đã truyền đến người đọc bao xúc động, tự hào về đất nước và nhân dân Trong đó, đoạn thơ “Đất Nước” đã bộc
lộ những suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ với đất nước thật độc đáo và ấn tượng:
Trong anh và em hôm nay Đều có một phần đất nước (…)
Làm nên đất nước muôn đời…
Trong chương V trường ca Mặt đường khát vọng, hai từ “đất nước” và “nhân dân”
đều được viết hoa, trở thành “mĩ từ” gợi lên không khí cao cả, thiêng liêng và biểu lộ cao độ cảm xúc yêu mến, tự hào về đất nước và nhân dân Chủ thể trữ tình là “anh và em”, giọng điệu tâm tình thổ lộ, sâu lắng, thiết tha, ngọt ngào về sự ra đời, quá trình trưởng thành và phát triển suốt bốn nghìn năm của đất nước Từ sự lí giải ở chiều rộng không gian, chiều dài thời gian và ở bề dày văn hóa, nhà thơ khéo léo khơi gợi ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ với đất nước qua đoạn thơ 13 câu trữ tình sâu lắng và đầy sức thuyết phục
Hai câu thơ mở đoạn là lời của chủ thể trữ tình “anh” nói với em về sự tồn tại hiển nhiên đến bất ngờ của đất nước trong mỗi con người:
Trong anh và em hôm nay Đều có một phần đất nước
Lâu nay, trong suy nghĩ của nhiều người, đất nước, quê hương, Tổ quốc, dân tộc luôn là những khái niệm trừu tượng Với nhà thơ trẻ đang đối mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt một mất một còn, đất nước gần gũi, thân thiết Khác với nhiều nhà thơ thường cảm nhận đất nước từ điểm nhìn hướng ngoại, Nguyễn Khoa Điềm đã chọn điểm nhìn hướng nội để thấy đất nước ở trong “anh” và trong “em”, đất nước tồn tại trong mỗi con người chứ không ở ngoài ta Đó là một nhận thức mới mẻ và sâu sắc về đất nước
Trang 33Tứ thơ được phát triển theo mạch mở rộng từ cá nhân “anh” và “em” đến sự gắn kết khi “hai đứa” cầm tay, cử chỉ yêu thương đã góp phần tô thắm cho Đất Nước:
Khi hai đứa cầm tay Đất nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Quả thực, Đất Nước được hình thành từ những mái ấm gia đình Có những con người yêu thương gắn bó trong tình nghĩa mặn nồng thì đâtý nước từ đó mới phát triển Và
“khi hai đứa cầm tay” thì một mái ấm, tổ ấm gia đình đã được xây dựng Gia đình là
“một phần” của đất nước Chỉ có tình yêu và hạnh phúc gia đình mới tạo nên sự “hài hoà, nồng thắm” với tình yêu quê hương đất nước Đó là bản chất thống nhất trong tình cảm của thời đại mới ta cũng bắt gặp ý thơ này trong câu thơ của Nguyễn Đình Thi:
“Anh yêu em như anh yêu đất nước/ Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần…”
và đất nước Đất nước được cảm nhận là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc Chỉ khi nào “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, và chỉ khi nào “lá lành đùm lá rách”, “Người trong một nước phải thương nhau cùng” thì mới có hình ảnh đẹp đẽ, thiêng liêng “Đất nước vẹn tròn, to lớn”
Bốn dòng thơ nhưng thực chất là hai câu thơ có quan hệ điều kiện – kết
quả: “Khi thì ” Cả bốn dòng chỉ có một hình ảnh, lại là hình ảnh mang tính tượng
trưng: cầm tay diễn tả sự thân thiết, tin cậy, yêu thương lẫn nhau Hình ảnh ấy đi liền với những tính từ chỉ mức độ “hài hòa”, “nồng thắm”, “vẹn tròn”, “to lớn” Bởi vậy, dù ý tứ tuy không phải là quá mới mẻ, song, những câu thơ ấy lại có sức nặng của tình cảm chân
Trang 34thành Những câu thơ còn gợi ngầm ẩn một thông điệp rằng đất nước không phải là một khái niệm trừu tượng, càng không phải là một giá trị bất biến, có sẵn Đất nước là một thực thể sống và sự sống ấy ra sao còn phụ thuộc vào hành động của những cá nhân trong đất nước đó
Đất nước “Nguồn thiêng ông cha”, đất nước “Trong anh và em hôm nay”, đất nước trong mai sau Như một nhắn nhủ, như một kỳ vọng sáng ngời niềm tin:
Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang đất nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng
Thế hệ con cháu mai sau sẽ tiếp bước cha ông “Gánh vác phần người đi trước để lại” xây dựng đất nước ta “Vạn cổ thử giang sơn” (Trần Quang Khải), “đàng hoàng hơn,
to đẹp hơn” (Hồ Chí Minh) Hai chữ “lớn lên” biểu lộ một niềm tin về trí tuệ và bản lĩnh nhân dân trên hành trình lịch sử đi tới ngày mai tươi sáng “Mơ mộng” nghĩa là rất đẹp, ngoài trí tưởng tượng về một Việt Nam cường thịnh, một cường quốc văn minh Điều
mà “anh và em”, mỗi người chúng ta mơ mộng hôm nay, sẽ biến thành hiện thực “mai này” gần
Bốn câu thơ cuối đoạn cảm xúc dâng lên thành cao trào Giọng thơ trở nên ngọt ngào, say đắm khi nhà thơ nói lên những suy nghĩ sâu sắc, đẹp đẽ của mình:
Em ơi em đất nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời…
“Em ơi em” – một tiếng gọi yêu thương, giãi bày và san sẻ bao niềm vui sướng đang dâng lên trong lòng khi nhà thơ cảm nhận và định nghĩa về đất nước: “Đất nước là máu xương của mình” Đất nước là huyết hệ, là thân thể ruột thịt thân yêu của mình, và mồ hôi xương máu của tổ tiên, ông cha của dân tộc ngàn đời
Với Nguyễn Khoa Điềm thì “gắn bó”, “san sẻ”, “hoá thân” là những biểu hiện của tình yêu nước, là ý thức, là nghĩa vụ cao cả và thiêng liêng “Phải biết gắn bó và san
Trang 35sẻ… phải biết hoá thân…” thì mới có thể “Làm nên đất nước muôn đời” Điệp ngữ “phải biết” như một mệnh lệnh phát ra từ con tim, làm cho giọng thơ mạnh mẽ, tác động cả vào lí trí và tình cảm con người Có biết trường ca “Mặt đường khát vọng” ra đời tại một nơi nóng bỏng, ác liệt nhất của thời chiến tranh chống Mỹ thì mới cảm nhận được các từ ngữ: “gắn bó”, “san sẻ”, “hoá thân” là tiếng nói tâm huyết “mang sức mạnh ý chí và khát vọng được hi sinh hết mình cho tổ quốc của nhà thơ
Đất nước vĩ đại nhưng đất nước là một thực thể sống Thực thể ấy không phải là
sự tập hợp của những cá nhân rời rạc mà là một cộng đồng Hóa thân cũng có nghĩa là dâng hiến Thời bình, người ta dâng hiên sức lực, mồ hôi cho Tổ quốc Thời chiến, người ta dâng hiến cả sự sống của mình Sự dâng hiến ấy, theo suy ngẫm của nhà thơ, là cuộc hóa thân Bóng dáng mỗi người đã làm nên bóng dáng quê hương, xứ sở, đất nước Không có sự hóa thân kia làm sao đất nước trường tồn, làm sao có được Đất nước muôn đời! Cảm hứng ấy cũng dạt dào trong thơ Chế Lan Viên
Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông
Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình thống nhất, tình yêu đất nước vẫn luôn gắn liền với ý thức trách nhiệm dựng xây và bảo vệ thành quả của cách mạng Không chỉ ở thái độ tu dưỡng đạo đức, học tập nghiêm túc, trau dồi kiến thức để bắt kịp với sự phát triển của thời đại, mỗi người dân cần nâng cao ý thức cảnh giác trước mọi biểu hiện diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch trên thế giới Và khi cần, cùng phải biết « hóa thân » cho dáng hình xứ sở trên mọi mặt trận, phải biết hi sinh khi Tổ quốc cần Đó mới
là lí tưởng sống đẹp đẽ của thanh niên dù ở bất cứ thời đại nào !
Bởi thông điệp ý nghĩa mà Nguyễn Khoa Điềm đã gửi gắm, đoạn trích thực sự đã
có giá trị thức tỉnh thế hệ trẻ về trách nhiệm của bản thân với cộng đồng, với đất nước Bằng việc sử dụng thể thơ tự do, cùng với ngôn từ rất mộc mạc, giản dị nhưng lại giàu chất triết lý, độc giả còn thấy ở nhà thơ những suy tư trăn trở của một con người sống có
Trang 36trách nhiệm với đất nước Đoạn thơ cũng góp phần thể hiện rõ nhất nét riêng trong phong cách viết thơ của Nguyễn Khoa Điềm Có lẽ vì thế mà đoạn trích “Đất nước” gây nhiều xúc cảm, và luôn được yêu mến trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ – Nguyễn Tuân
Đề 14:
“ Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá Mà nó còn là những cảnh đá
bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Có vách
đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu Đứng bên bờ này nhẹ tay ném hòn
đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện
Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất
cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng con thuyền ra
Lại như quãng Tà Mường Vát dưới Sơn La Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay
lừ lừ những cánh quạ đàn Không thuyền nào muốn men gần những cái hút nước ấy, thuyền nào cũng chèo nhanh để lướt qua quãng sông, y như là ô tô sang số ấn ga cho nhanh để vứt qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực Chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu, những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây
Trang 37chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.”
(Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập, NXB Giáo dục Việt Nam,
2018, T.186)
Cảm nhận nét cá tính hung bạo của dòng sông Đà qua đoạn trích trên Từ đó nhận
xét về bút pháp tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân
BÀI LÀM
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn nổi tiếng của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông từng được mệnh danh là đại thụ trong rừng đầu nguồn văn học nước nhà thế kỉ XX Không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn, sau cách mạng, nhà văn còn gây tiếng vang lớn với tập tùy bút “Sông Đà” Nhắc đến tập tùy bút, không thể không nhắc đến tác phẩm “ Người lái đò sông Đà” – một sự khám phá mang đầy nét phóng túng, tài hoa của Nguyễn Tuân về dòng sông Đà và con người lao động ở vùng cao Tây Bắc Người đọc sẽ luôn nhớ một sông Đà thật sống động với đầy đủ diện mạo, tính cách như một cơ thể sống: vừa hung bạo đến hãi hùng lại vừa lãng mạn trữ tình đến say đắm Đoạn thơ sau đã khắc họa thật ấn tượng nét cá tính hung bạo của dòng sông, đem đến
những xúc cảm mạnh mẽ trong lòng người đọc: “ Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ
có thác đá…đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.”
Trong chuyến đi thực tế lên vùng cao Tây Bắc năm 1958, với ý thức đi tìm kiếm chất vàng mười đã qua thử lửa của thiên nhiên và con người nơi đây, Nguyễn Tuân đã
có dịp được khám phá những vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ của dòng Sông Đà, một con sông độc đáo và đầy cá tính Sự gặp gỡ thú vị giữa một người nghệ sĩ khao khát đi tìm kiếm cái đẹp tuyệt đỉnh với thực thể sông Đà – một viên kim cương xù xì của hoang sơ, nguyên thủy đã kết tinh thành thiên tùy bút “ Người lái đò Sông Đà” Sông Đà đã đáp ứng mọi tiêu chí khắt khe trong quan niệm về cái đẹp hoàn hảo của Nguyễn Tuân, để rồi, như rồng gặp hội gió mưa, ngòi bút tài hoa, điêu luyện của nhà văn cứ thế điều khiển đội quân chữ nghĩa nhào lộn, biến ảo thần tình Không để độc giả tò mò chờ đợi, ngay từ
Trang 38đầu thiên tùy bút, Nguyễn Tuân đã khuấy động những xúc cảm mạnh mẽ ở người đọc bởi liên tiếp những câu văn khắc họa sự hùng vĩ của dòng sông
“ Hùng vĩ của Sông Đà không phải chỉ có thác đá.” Bằng một câu văn ngắn gọn
chắc khỏe, Nguyễn Tuân đã báo trước cho độc giả chuẩn bị thưởng ngoạn một cảnh sắc dòng sông ở một góc nhìn khác, một yếu tố khác không kém phần sống động như thác
đá vừa giới thiệu ở trên Đó là “những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ
ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu.” Mở ra trước mắt người đọc là một công trình kiến tạo của tự nhiên, sự sắp đặt của đá hai bên bờ sông Không phải như sông Hồng, sông Đáy, chảy qua miền quê yên ả với đôi bờ là phù sa màu mỡ mà Sông Đà ở khúc thượng nguồn Tây Bắc mang đặc trưng của địa hình hiểm trở, khắp nơi đều trở thành địa hạt của đá Đọc những câu văn miêu tả
cụ thể sự hiện hữu của đá hai bên bờ sông mà người đọc ngỡ như Sông Đà nứt ra từ lòng núi, nó khiến con người có cảm giác choáng ngợp khi hình dung sự lấn át, chiếm lĩnh của đá, như vây kín, như “chẹt” lấy lòng sông làm cho nó hẹp đến mức “Đứng bên bờ này nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia.” Lũ đá hai bên bờ sông khiến dòng nước bị ức chế, bị bóp nghẹt đến cuồng nộ Có lẽ chính vì thế mà Đà giang càng trở nên bí hiểm và thực sự mang tính cách của một thứ kẻ thù số một của con người
Ngòi bút của Nguyễn Tuân không chỉ miêu tả sống động cảnh vật khiến độc giả như đang nhìn thấy tận mắt mà nhất thiết phải khiến độc giả rùng mình, rợn tóc gáy về những cảnh tượng đó mới thỏa lòng Đó là cái cảm giác ớn lạnh đến xương sống của một người dám mạo hiểm ngồi trong khoang đò qua quãng sông đá thắt cổ chai mà hai bên
bờ là đá dựng vách thành ấy “Đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.”Hình ảnh so sánh sống động trong vai trò một nghệ sĩ nhiếp ảnh, tác giả vừa khắc sâu sự kì bí, hùng vĩ của sông Đà vừa cho thấy khả năng tái hiện hình ảnh bằng ngôn từ bậc thầy của Nguyễn Tuân
Trang 39Người “ phu chữ” tài ba ấy đã lôi cuốn người đọc vào một cuộc vượt thác ngôn từ trên dòng sông văn chương lấp lánh Từng câu văn của Nguyễn Tuân dài như con Sông
Đà quãng ghềnh Hát Loóng Sóng chữ xô đẩy nhau hối hả, như muốn chồm lên mặt giấy, như muốn làm mỏi ý chí người đọc Ngồi trên khoang đò của người cầm lái cừ khôi, độc giả nín thở, tay bấu chặt lấy thuyền khi vượt qua ghềnh thác Tại đoạn ghềnh Hát Loóng ấy, “dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy” Sự bạo liệt của hình ảnh sông Đà được cộng hưởng bởi nước, đá, sóng, gió, thêm vào đó là sự thanh viện của những luồng gió ‘gùn ghè suốt năm” đã trở thành nỗi ngán ngẩm của bất kể tay lái dày dặn kinh nghiệm nào ‘Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng con thuyền ra.” Sông Đà lúc này không chỉ còn là một con sông thiên nhiên mà nó thực sự đã trở thành một con thủy quái sống dậy trong nỗi oán hận vô cơ với loài người
Nhà nghiên cứu phê bình Tạ Tỵ đã nhận xét “Nguyễn Tuân viết mà giống như nhà điêu khắc cần cù chạm trổ vào mặt đá quý những hình nét trác tuyệt.” Quả đúng như vậy, đọc từng dòng miêu tả Sông Đà hung bạo ở quãng Tà Mường Vát dưới Sơn La, độc giả đều dễ dàng hình dung bởi thứ ngôn từ giàu tính tạo hình ấy Không miêu tả sự ác liệt của đá, sóng, gió như quãng ghềnh Hát Loóng, nhà văn tập trung khắc họa sự nguy hiểm của những cái hút nước ”xoáy tít đáy” Nó xuất hiện đột ngột, ngoài tầm kiểm soát của con người Tác giả dùng hình ảnh so sánh tương đồng về hình dáng“những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu.” Và sự so sánh tương đồng về âm thanh “nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc.” Qua miêu tả, người đọc không chỉ thấy cái kì vĩ, bí hiểm của những hút nước mà còn như nghe được âm thanh và cảm giác bị cuốn vào cái lỗ hổng đáng sợ ấy như những cánh quạ yếu ớt sắp sửa bị nó nuốt chửng cả đàn vậy
Sông Đà không hiện lên trong trạng thái tĩnh tại của một bức điêu khắc mà Nguyễn Tuân muốn nó hiện lên trong những cảm giác phong phú của người đọc Độc
Trang 40giả được cùng xuống thuyền trải nghiệm giây phút vượt qua những hút nước ấy, được
mở rộng các giác quan để tận mắt nhìn thấy cái kích thước khổng lồ khi ở men cái hút nước, để lắng nghe tiếng ‘nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”,và sống trong sự sợ hãi khi đứng giữa bờ vực của sinh tử “Nhiều bè gỗ rừng đi nghênh ngang vô ý là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới.” Để rồi, khi “chèo nhanh và tay lái cho vững mà phóng qua cái giếng sâu” ấy, ta mới thấy hết được tận cùng ý nghĩa của cuộc sống, mới đi đến tận cùng cảm giác chiến thắng của một người chế ngự được nỗi sợ hãi của bản thân, chế ngự được con thủy quái Sông Đà
Độc giả yêu thơ từng biết đến sự hùng vĩ và hung bạo của dòng Sông Đà qua tiếng thác nước gầm réo trong câu thơ của Quang Dũng “Chiều chiều oai linh thác gầm thét” Nhưng phải đến những trang văn tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân ta mới thấy hết cái diện mạo và tâm địa ghê gớm của Đà giang Nó độc nhất vô nhị trong cái nhìn độc đáo cuả nhà văn Nó không chỉ sinh động có hồn như những dòng sông trong bao tác phẩm thơ ca khác mà là dòng sông biết tương tác, biết giao tiếp với con người bằng cá tính riêng của nó Bởi thế mà Nguyễn Tuân cũng được coi là nhà văn của những cảm xúc tuyệt đối Sông Đà ở khúc thượng nguồn ấy đạt tới cái hùng vĩ cái hung bạo đến tột cùng, vậy mà nó có thể uốn mình theo những cánh đồng miền trung du để rồi trở nên trữ tình thơ mộng đến đắm say tột đỉnh Điều đó chỉ có thể là cái nhìn độc đáo đầy tài hoa của một con người suốt đời đi tìm cái đẹp và ngợi ca cái đẹp như Nguyễn Tuân
“Ngôn ngữ Nguyễn Tuân đó là thứ ngôn ngữ có hình, có khối, có nhạc, và đương nhiên là có hồn - cái hồn được truyền lại từ cha ông và cái hồn của người viết phả vào, bởi tài năng vận dụng, khai thác hết công suất của nó” (Tạ Tỵ) Quả đúng như vậy, Chỉ một đoạn tùy bút nhỏ cũng đủ thấy tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của nhà văn Hơn nữa, qua đoạn trích, độc giả không chỉ thấy được một góc nhìn về sông Đà hùng vĩ, hung bạo, mà còn thấy ở Nguyễn Tuân cái chất kiêu bạc, phóng túng trong nhãn