1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ LUẬT DÂN SỰ

17 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 69,5 KB
File đính kèm BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ DÂN SỰ.rar (64 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG Bài tập lớn học kỳ Vấn đề 1 Thông tin trong giao kết hợp đồng Câu 1 Theo Toà án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đ.

Trang 1

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

Bài tập lớn học kỳ

Trang 2

Vấn đề 1: Thông tin trong giao kết hợp đồng

Câu 1: Theo Toà án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất chuyển nhượng không?

Trả lời:

Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ phải cung cấp cho bên mua về lô đất chuyển nhượng

Điều này được thể hiện qua đoạn: “Tuy nhiên diện tích đất mà vợ chồng ông Thành

bán cho vợ chồng ông Linh là đất vườn theo quy định 64 của Chính phủ và đã có thông báo thu hồi đất nhưng khi giao kết hợp đồng đặt cọc vợ chồng ông Thành không cung cấp

rõ thông tin về lô đất.”

Câu 2: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng không? Vì sao?

Trả lời:

Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng

Vì căn cứ theo khoản 1 Điều 387 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp một bên có

thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết” Đối với hoàn cảnh trong vụ án đang nghiên cứu thì bên bán (vợ chồng

ông Thành) có thông tin lô đất này là đất vườn theo Nghị định 64 của Chính phủ, hơn nữa

lô đất này cũng không thuộc quyền sở hữu của mình Thông tin này vô cùng quan trọng và cần thiết đối với việc quyết định chấp nhận giao kết hợp đồng của bên mua (vợ chồng ông Linh), nên buộc bên bán phải cung cấp thông tin lô đất chuyển nhượng cho bên mua biết

Câu 3: Việc Toà án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn có thuyết phục không? Vì sao?

Trả lời:

Việc Toà án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn là không thuyết phục Giải thích: Toà án đã xác định vợ chồng ông Thành buộc phải biết và đương nhiên phải biết toàn bộ diện tích đất mua bán với vợ chồng ông Linh là thuộc đất nông nghiệp cấp theo Nghị định 64 và đã được thông báo nằm trong quy hoạch giải toả, đồng thời đất này

Trang 3

không đứng tên vợ chồng ông Thành nhưng ông Thành đã cung cấp thông tin sai dẫn đến việc vợ chồng ông Linh nhầm lẫn mà xác lập giao dịch Như vậy, ông Thành đã cố ý làm cho ông Linh nhầm lẫn về nội dung của giao dịch, nên theo quy định tại Điều 131 BLDS

2005: “…Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của

giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này.” Do đó, Toà án

phải giải quyết theo hướng của Điều 132 BLDS 2005 là giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối mới hợp lý

Câu 4: Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn không? Vì sao?

Trả lời:

Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn

Vì hoàn cảnh trên thuộc quy định tại khoản 1 Điều 126 BLDS 2015 Theo đó, giao dịch dân sự này được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho bên mua là vợ chồng ông Linh không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì vợ chồng ông Linh có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu Đồng thời, tuy vợ chồng ông Thành có lỗi cố ý nhưng BLDS 2015 không còn quy định rõ là: lỗi cố ý thì không áp dụng nhầm lẫn như BLDS

2005 nữa Do đó, giao dịch chuyển nhượng trên có thể được xử lý theo hướng vô hiệu do nhầm lẫn

Vấn đề 2: Hậu quả hợp đồng vô hiệu

Câu 1: Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015.

Trả lời:

Theo nhóm em, về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015 có một số sự thay đổi sau:

- Về hoa lợi, lợi tức:

+ Theo quy định tại khoản 2 Điều 137 BLDS 2005 “Khi giao dịch dân sự vô hiệu

thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản

Trang 4

giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường” thì hoa lợi, lợi tức là vấn đề của khôi phục lại tình trạng ban

đầu

+ Điều 131 BLDS 2015 đã tách vấn đề hoa lợi, lợi tức ra khỏi quy định về khôi

phục lại tình trạng ban đầu, cụ thể vấn đề hoa lợi, lợi tức quy định ở khoản 3 “Bên ngay

tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó”, quy định về

khôi phục lại tình trạng ban đầu ở khoản 2 “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi

phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”.

 Theo BLDS 2005, “hoa lợi, lợi tức” là vấn đề của “khôi phục lại tình trạng ban đầu” Tuy nhiên ở thời điểm trước khi giao dịch được xác lập thì hoa lợi, lợi tức chưa tồn tại nên nếu buộc bên nhận tài sản (như bên mua, bên được tặng cho) làm phát sinh hoa lợi, lợi tức trả cho bên giao tài sản (như bên bán, bên tặng cho) thì sẽ dẫn đến tình trạng bên giao tài sản được nhận những thứ không có ở tình trạng ban đầu Do vậy, BLDS 2015 đã khắc

phục được hạn chế, sai sót đó khi tách vấn đề “hoa lợi, lợi tức” là đối tượng của hợp đồng

vô hiệu ra khỏi quy định về khôi phục lại tình trạng ban đầu ra thành một khoản riêng Khoản 3 Điều 3 BLDS 2015 quy định thêm việc hoàn trả hoa lợi, lợi tức phụ thuộc vào

sự ngay tình hay không ngay tình của người nhận tài sản Điều này là thống nhất với quy định về hoàn trả tài sản do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật quy định tại Điều 581 BLDS 2015 BLDS 2005 quy định về số phận của hoa lợi, lợi tức khi giao dịch dân sự vô hiệu không thống nhất với Điều 601 BLDS 2005 (được duy trì trong BLDS 2015) Do đó, BLDS 2015 đã giải quyết được bất cập trên

- Về tịch thu tài sản:

+ BLDS 2015 đã bỏ quy định tịch thu tài sản, hoa lợi, lợi tức được quy định tại khoản 2 Điều 137 với lý do tịch thu là vấn đề của pháp luật hành chính, hình sự, không là việc của BLDS

+ Tại Điều 131 BLDS 2015 bổ sung thêm khoản 5: “Việc giải quyết hậu quả của

giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định” Bổ sung thêm khoản 5 này chủ yếu được lý giải bởi các quy định trong

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

 Bổ sung này là phù hợp với những quy định pháp luật có liên quan

- Về bảo vệ người thứ ba ngay tình:

Trang 5

+ Khoản 1 Điều 138 BLDS 2005 sử dụng cụm từ “tài sản giao dịch là động sản

không phải đăng ký quyền sở hữu”, khoản 1 Điều 133 BLDS 2015 thay thế bằng từ “tài sản không phải đăng ký” Tương tự, tại khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 sử dụng cụm từ

“tài sản phải đăng ký” thay cho cụm từ “bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu” Sở dĩ có sự thay đổi này là vì có những tài sản phải đăng ký nhưng không

phải đăng ký quyền sở hữu và ví dụ được đưa ra là đăng ký xe máy (chỉ là đăng ký lưu thông)

+ Khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 chia thành hai trường hợp xác định hiệu lực của

giao dịch dân sự với người thứ ba ngay tình dựa vào việc tài sản đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay chưa

- Về bảo vệ chủ sở hữu:

BLDS 2015 đã thêm quy định về bảo vệ quyền của chủ sở hữu khi tài sản đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình bằng một giao dịch dân sự được thừa nhận có hiệu

lực tại khoản 3 Điều 133 “Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay

tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại”.

Câu 2: Trong Quyết định số 319, lỗi của các bên được Toà giám đốc thẩm xác định như thế nào?

Trả lời:

Trong Quyết định số 319, Toà giám đốc thẩm xác định hai bên là vợ chồng ông Đào Văn Lộc và ông Trịnh Văn Vinh đều có lỗi

Vì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Lộc với ông Vinh không được chính quyền địa phương cho phép chuyển nhượng Đồng thời, ông Vinh mới trả cho ông Lộc được 45.000.000 đồng trên tổng giá trị thừa đất 100.000.000 đồng tức là mới trả 45% giá trị thửa đất Do vậy, Toà giám đốc thẩm đã xác định hai bên cùng có lỗi trong vụ việc này

Câu 3: Quyết định số 319, Toà dân sự cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường như thế nào?

Trang 6

Trả lời:

Trong Quyết định số 319, Toà dân sự cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường như sau:

- Theo Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm, ông Vinh sẽ được bồi thường thiệt hại là ½ giá trị của toàn bộ thửa đất theo giá thị trường

- Theo Toà giám đốc thẩm, ông Vinh sẽ được bồi thường thiệt hại là ½ chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường

Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà dân sự.

Trả lời:

Hướng giải quyết trên của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm là không thuyết phục, còn đối với hướng giải quyết của Toà giám đốc thẩm là thuyết phục Bởi lẽ Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã xác định mức bồi thường thiệt hại ½ giá trị của toàn bộ thửa đất theo giá thị trường là không đúng Vì trong trong trường hợp này thiệt hại được xác định bằng chênh lệch giá theo tỉ lệ thanh toán chứ không phải xác định trên toàn bộ lô đất, bên mua đã thanh toán 45% giá trị lô đất nên thiệt hại chỉ được xác định thiệt hại là chênh lệch

giá của 45% giá trị lô đất Do đó, hướng giải quyết theo Toà giám đốc thẩm là hợp lý.

Câu 5: Với các thông tin trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?

Trả lời:

Với các thông tin trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường khoản tiền là

½ chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường, cụ thể là 52.548.750 đồng Khoản tiền này được tính như sau:

- Giá thị trường của mảnh đất 953m2 là 333.550.000 đồng

- Giá chênh lệch của giá trị thửa đất hiện nay là:

333.550.000 – 100.000.000 = 233.550.000 đồng

- ½ chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường là:

233.550.000 x 45% x ½ = 52.548.750 đồng

Câu 6: Trong Quyết định số 58, đoạn nào cho thấy sau khi nhận chuyển nhượng của ông Khải, bà Linh và bà Ngẫu (giao dịch thứ nhất), anh Long đã chuyển nhượng đất (giao dịch thứ hai) Doanh nghiệp Tấn Hưng?

Trang 7

Trả lời:

Trong Quyết định số 58, đoạn cho thấy sau khi nhận chuyển nhượng của ông Khải, bà Linh, bà Ngẫu (giao dịch thứ nhất), anh Long đã chuyển nhượng đất (giao dịch thứ hai)

Doanh nghiệp Tấn Hưng là: “Ngày 09-4-1991, mặc dù không có mặt ông Nhơn và không

có ý kiến của ông Nhơn nhưng ông Khải, bà Linh, bà Ngẫu làm giấy sang nhượng quyền phần đất thổ cư của ông Nhơn cho ông Long với giá 1.600.000 đồng (giấy có xác nhận của tự quản ấp) Vì vậy, Toà án cấp phúc thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất giữa ông Khải, bà Linh, bà Ngẫu với ông Long vô hiệu, nhưng do ông Long

đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng nhà kho và đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên (trong đó có cả diện tích của ông Long) cho Doanh nghiệp

Tư nhân Tấn Hưng, nên Toà án cấp phúc thẩm buộc các bên những người xâm phạm quyền lợi của ông Nhơn phải trả giá trị cho ông Nhơn là có căn cứ và phù hợp với thực tế.”

Câu 7: Đoạn nào của Quyết định số 58 cho thấy anh Long đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi chuyển nhượng từ ông Khải, bà Linh và bà Ngẫu?

Trả lời:

Đoạn của Quyết định số 58 cho thấy anh Long đã được cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất sau khi chuyển nhượng từ ông Khải, bà Linh và bà Ngẫu là: “Ngày

09-4-1991, mặc dù không có mặt ông Nhơn và không có ý kiến của ông Nhơn nhưng ông Khải,

bà Linh, bà Ngẫu làm giấy sang nhượng phần đất thổ cư của ông Nhơn cho ông Long với giá 1.600.000 đồng (giấy có xác nhận của tự quản ấp) Vì vậy Tòa án phúc thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Khải, bà Linh, bà Ngẫu với ông Long vô hiệu, nhưng do ông Long đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng nhà kho ”.

Câu 8: Đoạn nào của quyết định số 58 cho thấy giao dịch thứ nhất vô hiệu?

Trả lời:

Đoạn của quyết định số 58 cho thấy giao dịch thứ nhất vô hiệu là: “Ngày

09-4-1991, ông Khải, bà Linh và bà Ngẫu lập giấy tay sang nhượng phần đất nêu trên cho anh

Lê Thanh Long với giá 1.600.000 đồng (giấy có xác nhận của tự quản ấp) Như vậy, giao dịch dân sự về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Khải, bà Linh và bà Ngẫu

Trang 8

với anh Long vi phạm điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 122 Bộ luật dân sự nên bị vô hiệu theo Điều 128, Điều 134 Bộ luật dân sự.”

Câu 9: Trong quyết định số 58, Tòa dân sự cho biết giao dịch dân sự thứ hai vô hiệu hay không?

Trả lời: Trong quyết định 58:

- Đối với Tòa sơ thẩm và phúc thẩm không cho biết giao dịch thứ hai là vô hiệu Vì hai Toà không hề đề cập đến giao dịch thứ hai

- Đối với Toà giám đốc thẩm đã cho biết giao dịch thứ 2 là vô hiệu bằng việc xác định lỗi của ông Khải, bà Linh, bà Ngẫu và anh Long để bồi thường cho Doanh ngiệp Tư nhân Tấn Hưng theo quy định của pháp luật

Câu 10: Theo anh/chị, giao dịch thứ hai trên có vô hiệu không?

Trả lời:

Theo nhóm em, tuỳ thuộc vào việc áp dụng BLDS 2005 hay BLDS 2015 mà giao dịch thứ hai có bị vô hiệu hay không

- Nếu áp dụng BLDS 2005 thì giao dịch thứ hai bị vô hiệu, căn cứ theo quy định tại Khoản

2 Điều 138 BLDS 2005: “Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ

ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.”

Trong tình huống này, Doanh nghiệp Tấn Hưng tuy ngay tình nhưng không nhận được tài sản thông qua các hình thức do luật định, nên giao dịch giữa anh Long và Doanh nghiệp xem như vô hiệu

- Nếu áp dụng BLDS 2015 thì giao dịch thứ hai không bị vô hiệu, căn cứ theo quy định tại

Khoản 2 Điều 133 BLDS 2015: “Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã

được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký

Trang 9

đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.” Như vậy, giao dịch

giữa anh Long và Doanh nghiệp Tấn Hưng thoả các điều kiện trên nên không bị vô hiệu

Vấn đề 3: Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thời hạn

Câu 1: Thư bảo lãnh của Ngân hàng có thời hạn như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 18 Thông tư 28/2012/TT-NHNN Quy định về bảo

lãnh ngân hàng thì: “Thời hạn bảo lãnh được xác định từ ngày phát hành bảo lãnh hoặc

khi bảo lãnh có hiệu lực theo thỏa thuận của bên bảo lãnh với các bên liên quan cho đến thời điểm hết hiệu lực của bảo lãnh được ghi trong cam kết bảo lãnh Trường hợp cam kết bảo lãnh không ghi cụ thể thời điểm hết hiệu lực của bảo lãnh thì thời điểm hết hiệu lực của bảo lãnh được xác định tại thời điểm nghĩa vụ bảo lãnh hết hiệu lực theo quy định tại Điều 21 của Thông tư này.”

Trong tình huống tại Quyết định số 18/2014/KDTM-GĐT, thư bảo lãnh của Ngân hàng

có thời hạn từ ngày 20/12/2010 đến ngày 10/3/2011

Câu 2: Nghĩa vụ của Công ty Hồng Quang đối với VNP1 có phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng không?

Trả lời:

Nghĩa vụ của Công ty Hồng Quang đối với VNP1 có phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng

Đoạn của Quyết định cho thấy câu trả lời là:

“Về hiệu lực của Thư bảo lãnh số 1500VSB201220102 ngày 20/12/2010 của Ngân hàng: Nghĩa vụ trả nợ của Công ty Hồng Quang đối với VNP1 phát sinh từ giao dịch được giao kết trong thời hạn từ ngày 20/12/2010 đến ngày 10/3/2011, là thời hạn Thư bảo lãnh

có hiệu lực nên người bảo lãnh là Ngân hàng phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi Công ty Hồng Quang không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”

Câu 3: Theo Viện kiểm sát, khi người có quyền khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay thì Thư bảo lãnh còn ràng buộc Ngân hàng không? Vì sao?

Trả lời:

Trang 10

Theo Viện kiểm sát, khi người có quyền khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay thì Thư bảo lãnh vẫn còn ràng buộc Ngân hàng

Đoạn của Quyết định cho thấy câu trả lời là:

“Kháng nghị cho rằng, ngày 12/12/2011, VNPT khởi kiện yêu cầu Ngân hàng trả nợ

thay Công ty Hồng Quang thì Thư bảo lãnh không còn hiệu lực theo quy định tại khoản 4 Điều 20 Quy chế bảo lãnh (Ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) là không đúng.”

Câu 4: Theo Toà án nhân dân tối cao, khi người có quyền khởi kiện Ngân hàng trả

nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng có còn trách nhiệm với người bảo lãnh không? Đoạn nào của Quyết định có câu trả lời?

Trả lời:

Theo Toà án nhân dân tối cao, khi người có quyền khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng vẫn còn trách nhiệm của người bảo lãnh

Đoạn của Quyết định cho câu trả lời là: “Như vậy, về khoản nợ giữa VNP1 và công ty

Hồng Quang chưa có sự thống nhất cho nên phía Ngân hàng chưa đồng ý thực hiện nghĩa

vụ thay là có căn cứ Ở đây, Ngân hàng không chối bỏ nghĩa vụ bảo lãnh của mình mà chỉ

đề nghị VNP1 và Công ty Hồng Quang thống nhất với nhau về khoản nợ, sau khi hai bên thống nhất với nhau khoản nợ thì phía Ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình Mặt khác, người được bảo lãnh là Công ty Hồng Quang cũng đã đề nghị Ngân hàng (bên bảo lãnh) chưa thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình vì giữa Công ty Hồng Quang và VNP1 chưa thống nhất được với nhau về công nợ.”

Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tối cao.

Trả lời:

Theo nhóm em, hướng giải quyết trên của Toà án là thuyết phục Vì ở đây, tuy hết thời hạn bảo lãnh VNP1 mới khởi kiện nhưng nghĩa vụ trả nợ của Công ty Hồng Quang đối với VNP1 đã phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng Đồng thời, VNP1 đã nhiều lần yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo Thư bảo lãnh nhưng do VNP1 và Công ty Hồng Quang chưa thống nhất được với nhau về số tiền còn nợ nên Ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ

Do đó, hướng giải quyết trên của Toà án đã bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của VNP1

Ngày đăng: 15/10/2022, 15:25

w