Theo nguyên tắc thì ai gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường, do đó, Tòa án không thể buộc cha mẹ của Hùng nộp khoản tiền 7 triệu đồng vào ngân sách Nhà nước do trộm cáp tài sản
Trang 1BUỔI THẢO LUẬN THỨ BẢY: BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG Vấn đề 1: Bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra
Câu 1: Khi nào cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra? Nêu
cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại
Trong trường hợp tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 586 BLDS năm 2015
* Đối với tình huống
Câu 2: Tòa án có thể buộc cha mẹ của Hùng bồi thường cho anh Bình thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
Tòa án có thể buộc cha mẹ Hùng bồi thường cho anh Bình thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 590 BLDS 2015
Câu 3: Tòa án có thể buộc cha mẹ Hùng bồi thường cho anh Bình giá trị chiếc đồng
hộ và chiếc xe đạp hay không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho biết hướng giải quyết trong thực tiễn xét xử đối với hoàn cảnh tương tự.
Trả lời:
Tòa án có thể buộc cha mẹ Hùng bồi thường cho anh Bình giá trị chiếc đồng hồ nhưng không bồi thường giá trị chiếc xe đạp Căn cứ theo khoản 1 Điều 589 BLDS 2015 thì trường hợp thiệt hại do tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng thì mới được yêu cầu bồi thường thiệt hại Vì chiếc xe đạp này đang gửi ở nhà người bạn nên không thể coi
là tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng và khả năng đòi lại tài sản này vẫn còn Đối với chiếc đồng hồ, Hùng đã bán cho người đi đường không xác định cụ thể là ai và địa chỉ người đó nên không thu hồi lại được Vì lẽ đó cha mẹ Hùng phải bồi thường giá trị chiếc đồng hồ
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 589 BLDS 2015
Hướng giải quyết trong thực tiễn xét xử đối với hoàn cảnh tương tự: Quyết định số 04/HĐTP-HS ngày 23-3-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hội
Trang 2đồng Thẩm phán hủy quyết định sơ thẩm và phúc thẩm là do “số tài sản mà bị cáo chiếm đoạt chưa được thu hồi trả cho người bị hại đã được Tòa án các cấp giải quyết buộc bố
mẹ bị cáo phải bồi thường Đó là 2 xe máy, 1 đầu video, 4 chiếc điện thoại lớn… Hùng bán cho Hoàng Văn Phương ở 72 Bà Triệu, thành phố Huế và một số nơi khác Như vậy, theo Hội đồng Thẩm phán, cha mẹ không phải bồi thường khi tài sản này vẫn chưa được tiến hành thu hồi
Câu 4: Tòa án có thể buộc cha mẹ Hùng nộp ngân sách nhà nước khoản tiền 7 triệu đồng mà Hùng có được do lấy trộm tài sản trong chợ không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho biết hướng giải quyết trong thực tiễn xét xử đối với hoàn cảnh tương tự.
Trả lời:
Tòa án không thể buộc cha mẹ Hùng nộp ngân sách nhà nước khoản tiền 7 triệu đồng mà Hùng có được do lấy trộm tài sản trong chợ
Căn cứ theo Điều 584 BLDS 2015 có quy đinh: “1 Người nào có hành vi xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Và Điều 585 BLDS 2015 về nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định: “1 Thiệt
hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Nếu các bên không thỏa thuận được hình thức bồi thường thì BLDS 2015 không quy định hướng giải quyết cụ thể Nộp tiền vào ngân sách Nhà nước và bồi thường thiệt hại một khản tiền là hai phạm trù khác nhau Bởi vì, bồi thường thiệt hại là một khoản tiền mà người gây ra thiệt hại phải giao cho người bị thiệt hại còn nộp tiền vào ngân sách Nhà nước là hoàn cảnh một chủ thể giao một khoản tiền cho một chủ thể khác là Nhà nước Việc Tòa án yêu cầu cha mẹ bồi thường thiệt hại khi con chưa thành niên gây thiệt hại là Tòa án đang mở rộng trách nhiệm của cha mẹ và việc mở rộng này là không có lý
do thuyết phục Theo nguyên tắc thì ai gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường, do
đó, Tòa án không thể buộc cha mẹ của Hùng nộp khoản tiền 7 triệu đồng vào ngân sách Nhà nước do trộm cáp tài sản trong chợ được
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 584 và khoản 1 Điều 585 BLDS 2015
Trong thực tiễn xét xử, cũng trong Quyết định số 04/HĐTP-HS đã nêu : “Tòa án
các cấp buộc bố mej bị cáo phải nộp số tiền 7.570.000 đồng do bị cáo chiếm hưởng từ việc bán tài sản trộm cắp được là không đúng quy định của pháp luật dân sự” Việc Tòa
Trang 3án các cấp mở rộng việc nộp tiền vào ngân sách nhà nước đã làm biến dạng quy định của pháp luật
Câu 5: Tòa án có thể buộc Hùng và cha mẹ cùng bồi thường cho anh Bình không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho biết hướng giải quyết trong thực tiễn xét xử.
Trả lời:
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 điều 586 BLDS 2015: "Người từ đủ 15 tuổi đến
chưa đủ 18 tuổi hây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình."
trong trường hợp này do Hùng là người chưa thành niên “Vào lúc 16 tuổi” và cũng không
có tài sản riêng “Hùng không có bất kì tài sản nào” nên Tòa án có thể yêu cầu cha, mẹ của Hùng thay Hùng bồi thường thiệt hại đã gây ra cho anh Bình Cơ sở pháp lý: khoản 2 điều 586 BLDS 2015
Hướng giải quyết trong thực tiễn xét xử đối với hoàn cảnh tương tự: Quyết định số 30/2006/HS-GĐT ngày 26/09/2006 của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao: Khoảng 12 giờ ngày 20/03/2005 Trinh giao xe mô tô và nhờ Giang chở giúp bà Phê và bà Huôi về nhà Trên đường đi thì xe của Giang đâm vào bà Giỏi đang đi bộ trên đường làm bà Giỏi
bị chấn thương sọ não và chết trên đường đi cấp cứu Dựa vào các tình tiết của vụ án, Tòa
án đã buộc Trinh, Mướt (chồng của Trinh) và Giang (do cha mẹ là ông Trường và bà Lài đại diện) phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho nạn nhân do bà Vồi là con ruột nhận số tiền 25.357.000 đồng
*Đối với bản án số 19
Câu 6: Theo Tòa án, cha mẹ ly hôn có ảnh hưởng tới việc xác định người phải hciuj trách nhiệm bồi thường không? Cuối cùng, Tòa án đã buộc ai phải bồi thường thiệt hại.
Trả lời:
Theo Tòa án, cha mẹ ly hôn không ảnh hưởng tới việc xác định người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vì theo Tòa án thì việc ly hôn giữa vợ và chồng không
làm chấm dứt nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung, thể hiện qua đoạn “Lập luận của
bà Thêm là không được chấp nhận vì việc ly hôn giữa hai vợ chồng không làm chấm dứt nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung.” Cuối cùng Tòa án đã buộc ông Mai Văn Thụ
và bà Nguyễn Thị Thêm phải liện đới bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Nam, thể
hiện qua đoạn “Buộc ông Mai Văn Thụ và bà Nguyễn Thị Thêm có nghĩa vụ liên đới bồi
thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị Nam là 42.877.500 đồng, chia theo phần ông Mai Văn Thụ phải bồi thường là 21.438.500 đồng; bà Nguyễn Thị Thêm phải bồi thường số tiền còn lại là 18.438.500 đồng.”
Trang 4Câu 7: Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết trên của Tòa án (từ góc độ văn bản cũng như so sánh pháp luật).
Trả lời:
Từ góc độ văn bản và góc độ quy định của pháp luật về vấn đề này thì hướng giải quyết của Tòa án về việc yêu cầu cha và mẹ của Hậu phải liên đới thực hiện nghĩa vụ bồi thường thường hại cho bà Thêm là hợp lý và phù hợp với quy định của BLDS 2005 cũng như quy định của BLDS 2015 Vì:
+ Thứ nhất, Hậu là con chung của ông Thụ và bà Thêm và việc ly hôn giữa hai vợ chồng không làm chấm dứt nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung, căn cứ theo quy định tại Điều 58, 81, 82, 83, 84 của bộ luật hon nhân và gia đình năm 2017
+ Thứ hai, Hậu là người chưa thành niên lại không có tài sản riêng nên không thể dùng tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đã gây ra cho bà Nam và căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 606 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 586 BLDS 2015 thì “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”
Vấn đề 2: Bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra
Câu 1: Vì sao có quy định của Điều 584 mà BLDS 2015 còn có thêm quy định của Điều 600?
Trả lời:
Về nguyên tắc chung, người nào gây thiệt hại cho người khác thì phải tự bồi thường thiệt hại và nguyên tắc này đã được thể hiện tại khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 và
khoản 1 Điều 584 BLDS 2005, theo đó: “Người nào do lỗi hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phả bồi thường” và “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, bộ luật khác có liên quan quy định khác”.
Ngoài nguyên tắc chung trên, BLDS còn có một số chế định đặc thù theo đó người bồi thường không phải là người trực tiếp gây thiệt hại và một trong những chế định đặc
thù này là “Bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra” Cụ thể, theo Điều 622 BLDS 2005 và Điều 600 BLDS 2015: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác phải
bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công
Trang 5việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật” và “Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu người làm công, người học nghề có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật”.
Dựa vào những cơ sở trên, các điều luật này được quy định ra thứu nhất là để đảm bảo lợi ích cho người bị thiệt hại Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với chủ thể làm chủ và thuê nhân công hay người học việc của mình và điều luật này được quy định ra dựa vào những triết lý cổ xưa đã có sẵn từ trước là người làm chủ pải chịu trach nhiệm bồi thường thiệt hại
Tiếp theo đó, Điều 600 được quy định tại BLDS như một phương thức xác nhận ai thực sự là người có lỗi trong hành vi gây thiệt hại Nếu người làm công, người học nghề được giao nhiệm vụ nhưng lại là người trực tiếp gây ra lỗi thì người làm công, người học nghề phải là người hoàn trả lại một khoản tiền cho người chủ khi người chủ đã thanh toán khoản tiền bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra Điều luật này được quy định để đảm bảo quyền và lợi ích thực tế của người chủ khi thật ra họ không là người gây thiệt hại
Câu 2: Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định vè bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra?
Trả lời:
Đoạn của bản án cho thấy Tòa án đã áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại
do người làm công gây ra:
“Buộc công ty TNHH vận tải Hoàng Long phải có nghĩa vụ bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu Thủy (Đại diện hợp pháp của người bị hại Trần Ngọc Hải): 20.500.000đ ngoài số tiền 40.000.000đ đã bồi thường trước.
Buộc công ty TNHH vận tải Hoàng Long phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Nguyễn Đăng Huy – sinh ngày 15.8.2007 mỗi tháng 350.000đ, thời điểm cấp dưỡng
kể từ tháng 5.2009 cho đến khi cháu Huy đủ 18 tuổi”.
Câu 3: Trên cơ sở Điều 600, cho biết các điều kiện áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra.
Trả lời:
Trên cơ sở Điều 600, các điều kiện để áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do người làm công gây ra là:
Trang 6- Thứ nhất, người làm công, người học nghề phải là những người làm việc, học tập tại các pháp nhân, cơ sở kinh doanh sản xuất, dịch vụ, dạy nghề trên cơ sở hợp đồng làm việc hay học nghề phù hợp với quy định của pháp luật
- Thứ hai, trong quá trình làm việc, học nghề, người này thực hiện công việc được giao phó gây thiệt hại cho người khác
Câu 4: Suy nghĩ của anh/ chị về việc Tòa án áp dụng Điều 622 BLDS 2005 (nay là Điều 600 BLDS 2015) để buộc Công ty Hoàng Long bồi thường (đánh giá từng điều kiện nêu ở câu hỏi trên đối với vụ việc được bình luận).
Trả lời:
Theo nhóm em về việc Toà án vận dụng Điều 622 BLDS 2005 (nay là Điều 600 BLDS 2015) để buộc công ty Hoàng Long bồi thường là chưa hợp lý Vì mặc dù Toà án giải quyết như vậy là phù hợp với quy định tại Điều 622 BLDS 2005 (nay là Điều 600 BLDS 2005) nhưng trong tình huống trên, tuy ông Hùng làm việc cho Công ty Hoàng Long và thực hiện công việc được công ty giao phó nhưng việc gây ra lỗi đối với người
bị thiệt hại hoàn toàn thuộc về ông Hùng Ông đã “điều khiển xe ô tô khách tham gia
giao thông ở đoạn đường có vạch sơn liền nét nhưng điều khiển xe ô tô lấn qua phần đường bên trái, va chạm với xe mô tô đi ngược chiều gây tai nạn chết 01 người” Do đó,
Việc Toà án vận dụng như trên là không đảm bảo được quyền lợi cho công ty Hoàng Long
Câu 5: Nếu ông Hùng không làm việc cho Công ty Hoàng Long và xe là của ông Hùng thì ông Hùng có phải bồi thường không? Vì sao?
Trả lời:
Nếu ông Hùng không làm việc cho Công ty Hoàng Long và xe là của ông Hùng thì ông Hùng phải bồi thường Vì ông đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường
bộ và gây ra tai nạn làm chết 01 người Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 604 BLDS 2005
có quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Do đó, ông Hùng phải chịu toàn bộ trách nhiệm do hành vi của ông gây ra.
Câu 6: Đoạn nào của bản án cho thấy, theo Tòa án, ông Hùng không phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bị thiệt hại?
Trả lời:
Đoạn của bản án cho thấy theo Tòa án, ông Hùng không phải thực hiện nghĩa vụ
bồi thường cho người bị thiệt hại: “Bị cáo là người lái xe thuê cho Công ty TNHH vận
Trang 7tải Hoàng Long, nên theo quy định tại Điều 622 và Điều 623 của Bộ luật dân sự thì Công
ty TNHH vận tải Hoàng Long phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cao Chí Hùng gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu Cao Chí Hùng là người có lỗi trong việc gây ra thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền theo quy định của pháp luật Do đó yêu cầu không phải bồi thường cho người bị hại của Công ty TNHH vận tải Hoàng Long là không phù hợp với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.”
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến trách nhiệm của ông Hùng đối với người bị thiệt hại.
Trả lời:
Hướng giải quyết trên của Tòa án là chưa hợp lý Vì trong quyết định của tòa án không đề cập đến trách nhiệm của ông Hùng đối với người bị hại mà chỉ buộc Công ty Hoàng Long chịu trách nhiệm bồi thường Mặc dù điều đó là phù hợp với quy định của pháp luật nhưng trường hợp này là do lỗi của ông Hùng gây ra làm anh Hải bị thiệt mạng nên trường hợp này Tòa nên quy định thêm phần trách nhiệm của ông Hùng đối với người bị hại sẽ hợp lý hơn
Câu 8: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về khả năng người bị thiệt hại được yêu cầu trực tiếp ông Hùng bồi thường.
Trả lời:
Theo nhóm em, khi xét đến vấn đề yêu cầu bồi thường theo Điều 600 nên quan tâm đến yếu tố lỗi của người làm công có lỗi “trực tiếp” gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại, không có yếu tố lỗi của người sử dụng người làm công thì người làm có thể phải bồi thường (nếu người bị hại muốn), đồng thời vẫn giành quyền cho họ có thể đòi người sử udngj làm cong bồi thường (nhưng không thể xác định theo trách nhiệm liên đới vì đây không phải là trường hợp thiệt hại do cả người làm công và người sử dụng người làm công cùng gây ra) Ngược lại nếu không có căn cứ cho rằng người làm công có lỗi với người bị hại thì vẫn áp dụng theo Điều 600
Câu 9: Lỗi của người làm công trong Điều 622 BLDS 2005 (nay là Điều 600 BLDS 2015) cần được hiểu như thế nào? Vì sao?
Trả lời:
Lỗi của người làm công trong Điều 622 BLDS 2005 (nay là Điều 600 BLDS 2015) cần được hiểu theo hướng:
Người làm công, người học nghề là những người làm việc, học tập tại các pháp nhân, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, dạy nghề, trên cơ sở hợp đồng làm việc hay học nghề phù hợp với quy định của pháp luật Trong quá trình làm việc, học nghề người này
Trang 8thực hiện công việc được giao phó gây thiệt hại cho người khác thì chủ cơ sở của người làm công, người học nghề phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại, bởi lẽ hành vi của người làm công, học nghề lúc này được xem là hành vi của pháp nhân
Sau khi chủ cơ sở của người làm công, học nghề bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người làm công, học nghề hoàn lại một khoản tiền theo quy định của pháp luật căn cứ theo mức độ lỗi của họ khi gây thiệt hại
Câu 10: Theo Tòa án, ông Hùng có lỗi theo Điều 622 BLDS 2005 (nay là Điều 600 BLDS 2015) không? Vì sao?
Trả lời:
Theo Tòa án, ông Hùng có lỗi theo Điều 622 BLDS 2005 (nay là Điều 600 BLDS 2015)
Vì: ông Hùng là người lái xe thuê cho Công ty TNHH vận tải Hoàn Long Do đó, Công ty TNHH vận tải Hoàn Long phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cao Chí Hùng gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu Cao Chí Hùng
là người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền theo quy định của pháp luật
Câu 11: Theo Tòa án, Công ty Hoàng Long có được yêu cầu ông Hùng hoàn trả một khoản tiền đã bồi thường cho người bị hại không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời.
Trả lời:
Theo Tòa án, Công ty Hoàng Long được yêu cầu ông Hùng hoàn trả một khoản tiền đã bồi thường cho người bị hại
Đoạn của bản án cho câu trả lời là:
“Bị cáo là người lái xe thuê cho Công ty TNHH vận tải Hoàng Long, nên theo quy định tại Điều 622 và Điều 623 của Bộ luật dân sự thì Công ty TNHH vận tải Hoàng Long phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do Cao Chí Hùng gây ra trong khi thực hiện công việc được giao và có quyền yêu cầu Cao Chí Hùng là người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền theo quy định của pháp luật”
Câu 12: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án liên quan đến trách nhiệm hoàn trả của ông Hùng.
Trả lời:
Hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến trách nhiệm hoàn trả của ông Hùng là hợp lý Vì ông Hùng là người gây ra thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ được
Trang 9giao Công ty Hoàn Long bồi thường thiệt hại cho người bị hại thì có quyền yêu cầu ông Hùng hoàn lại một khoản tiền Đây là hướng giải quyết phù hợp với quy định của Luật
Vấn đề 3: Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
Câu 1: Quy định nào của BLDS sử dụng thuật ngữ “súc vật?
Trả lời:
Quy định của BLDS sử dụng thuật ngữ “súc vật” là Điều 603 BLDS 2015
Câu 2: BLDS có định nghĩa “súc vật” là gì không?
Trả lời:
BLDS 2015 không có định nghĩa về súc vật
Tuy nhiên, để biết được “súc vật” được hiểu như thế nào thì thảo giáo trình Luật
dân sự của Học viện Tư pháp: “Súc vật được hiểu theo cách thông thường nhất là bao
gồm những động vật có vú nuôi trong nhà như trâu, bò, lợn, chó, mèo,…”, còn theo Từ
điển tiếng Việt phổ thông: “Súc vật là thú nuôi trong nhà”
Câu 3: Trong thực tiễn xét xử, khái niệm súc vật được hiểu như thế nào?
Trả lời;
Trong thực tiễn xét xử, khái niệm “súc vật” được hiểu khá mở
Trong một vụ việc liên quan đến tai nạn có sự hiện diện của bò, Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã xác định thiệt hại là do súc vật gây ra Điều đó có nghĩa Toà án đã chấp nhận bò là một loại súc vật Trong một vụ án được xét xử bởi Toà án nhân dân tỉnh
Kiên Giang: “Vào chiều ngày 5/2/2007 nhằm ngày 18/12/2006 âm lịch, ông Thum dẫn
trâu trên đường về, thì xảy ra việc trâu của ông Thum chém trâu của ông Năm bị thương”, và Toà án cũng thừa nhận trâu cũng được xem là một loại súc vật Về vấn đề
khái niệm “súc vật” thì trong thực tế xét xử đã được vận dụng linh hoạt Từ đó, ngỗng, ngan, vịt, chim bồ câu, gà… cũng được xem là súc vật Trong thực tiễn việc áp dụng qui định của pháp luật về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra vẫn còn nhiều vướng mắc, vẫn còn nhiều trường hợp xảy ra trên thực tế nhưng pháp luật chưa điều chỉnh như: súc vật gây thiệt hại không có tác động bởi hành vi cụ thể nào của con người mà xuất phát từ đặc tính tự nhiên hoặc do yếu tố môi trường, dịch bệnh Như vụ trâu điên quật chết người ngày 06/12/2008 tại xã Thanh Vinh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế hay vụ cho dại cắn gần 60 người ở xã Tân Phú, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận hồi đầu tháng 1/2009, thì trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có đặt ra không? Hoặc trong trường hợp, súc vật bị mắc bệnh, bản tính trở nên
Trang 10hung dữ, con người khó kiểm soát được hoạt động của chúng (trâu, bò điên, chó dại…)
và chúng đã gây thiệt hại thì cần xác định chúng là nguồn nguy hiểm cao độ (thú dữ) hay súc vật gây thiệt hại? Những vấn đề này pháp luật vẫn chưa qui định một cách rõ ràng
Câu 4: Đoạn nào của bản án cho thấy thiệt hại do chó gây ra?
Trả lời:
Đoạn của bản án cho thấy thiệt hại do chó gây ra: “Hội đồng xét xử thấy rằng vào
ngày 06/01/2014 âl 05 con heo con của bà Nga đi ăn trên đất của ông Nhã thì bị chó của ông Nhã cắn bị thương 01 con là thực tế có xảy ra…”.
Câu 5: Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra?
Trả lời:
Đoạn của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng các quy định về bồi thường thiệt hại
do gia súc gây ra: “Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nga thì thấy rằng: Vị trí heo con của bà Nga bị chó nuôi của ông Nhã cắn chết là trên đất của ông Nhã Bà Nga và ông Nhã xác định vật nuôi của hai bên được thả rông theo tập quán nên xảy ra sự việc chó cắn heo
chết Theo Điều 625 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “1 Chủ sở hữu súc vật phải bồi
thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác; nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi trong việc làm súc vật gây thiệt hại cho mình thì chủ sở hữu không phải bồi thường.”,
“4 Trong trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.”.
Căn cứ điều luật viện dẫn trên, thấy rằng ông Nhã là chủ sở hữu của súc vật (nuôi chó), vật nuôi trong nhà nhưng do lỗi quản lý của ông Nhã nên chó nuôi của ông Nhã cắn chết heo nuôi của bà Nga Đối với bà Nga cũng là người sở hữu của vật nuôi trong nhà là heo con nhưng cũng không quản lý đúng quy định, để heo con chạy qua đất của ông Nhã, hậu quả là chó của ông Nhã cắn chết heo của bà Nga, làm cho bà Nga bị thiệt hại một con heo trị giá 1.000.000đ Như vậy, trong trường hợp trên cả bà Nga và ông Nhã đều có lỗi ngang nhau trong việc quản lý vật nuôi của mình, đã gây ra thiệt hại cho bà Nga nên mỗi bên phải chịu 50% mức độ lỗi là đúng quy định của pháp luật.”
Câu 6: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra.
Trả lời:
Việc áp dụng quy định về bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra của Tòa án là hoàn toàn phù hợp với trường hợp nêu trên Cả hai bên đều thả rông vật nuôi theo tập quán địa phương, đồng thời vụ việc trên là chó của ông Nhã đã cắn heo con của bà Nga gây thiệt hại một con heo của bà Tuy nhiên theo Tòa án xem xét thì việc này đều do lỗi