1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI tập lớn học kỳ luật dân sự

32 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Lớn Học Kỳ Luật Dân Sự
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 255,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất chuyển nhượng không? (5)
  • 1.2. Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng không? Vì sao? (5)
  • 1.3. Việc Tòa án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn có thuyết phục không? Vì sao? (6)
  • 1.4. Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử lý theo hướng (6)
  • 2.1. Khi nào hợp đồng vô hiệu một phần, vô hiệu toàn bộ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (9)
  • 2.2. Đoạn nào cho thấy trong Quyết định số 22 đã có việc chuyển nhượng tài sản (10)
  • 2.3. Đoạn nào trong Quyết định số 22 cho thấy Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần (10)
  • 2.4. Suy nghĩ của anh/chị về việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần (10)
  • 2.5. Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015 (11)
  • 2.6. Trong Quyết định 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác định như thế nào? (13)
  • 2.7. Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết rằng ông Vinh sẽ bồi thường như thế nào? (14)
  • 2.8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự (14)
  • 3.1. Thư bảo lãnh của Ngân hàng có thời hạn như thế nào? (16)
  • 3.2. Nghĩa vụ của Cty Cửu Long đối với Cty KNV có phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng không? (17)
  • 3.3. Theo Toà án nhân dân tối cao, khi người có quyền (Cty KNV) khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng có còn trách nhiệm của người bảo lãnh không? Đoạn nào của Quyết định có câu trả lời? (19)
  • 3.4. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao (20)
  • 4.1. Từng điều kiện được quy định trong BLDS để giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế (21)
  • 4.2. Trong tình huống nêu trên, việc Tòa án áp dụng các quy định về giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam để ấn định mức bồi thường có thuyết phục không? Vì sao? (22)
  • 5.1. Đoạn nào của Quyết định cho thấy Tòa án đã vận dụng chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra? (23)
  • 5.2. Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại do nguồn (23)
  • 5.3. Tòa dân sự có cho biết ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại không? (24)
  • 5.4. Theo anh/chị, ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại? (24)
  • 5.5. Theo Tòa dân sự, chủ thể nào sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân? (25)
  • 5.6. Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân (25)
  • 6.1. Những khác biệt cơ bản về thiệt hại được bồi thường khi một cá nhân chết theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và BLDS (27)
  • 6.2. Hoàn cảnh như trong vụ việc trên có được Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước điều chỉnh không? Vì sao? (29)
  • 6.3. Nếu hoàn cảnh như trong vụ án trên xảy ra sau khi BLDS 2015 có hiệu lực, hướng giải quyết có khác hướng giải quyết trong vụ án không? Vì sao? (30)

Nội dung

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 387 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp một bên cóthông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báocho bên kia biết”.Trong t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ



Nhóm thực hiện: Nhóm 6 – QTL44B.1

Danh sách thành viên

1 Tô Uyển Nhi 1953401020156

2 Lê Thị Quỳnh Như 1953401020161

3 Trần Thị Huỳnh Như 1953401020162

4 Nguyễn Diễm Quỳnh 1953401020190

5 Lê Phương Thảo 1953401020205

6 Nguyễn Lê Quỳnh Thư 1953401020219

7 Quách Như Quỳnh 1953401020191

8 Đoàn Nguyễn Phương Thuỳ 1953401020228

BÀI TẬP THẢO LUẬN DÂN SỰ

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

Trang 2

VẤN ĐỀ 1 THÔNG TIN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 4

Tóm tắt Bản án số 18A/2016/DSST ngày 15/6/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 4 1.1 Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất chuyển nhượng không? 4 1.2 Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng không? Vì sao? 4 1.3 Việc Tòa án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn có thuyết phục không? Vì sao? 5 1.4 Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn không? Vì sao? 5

VẤN ĐỀ 2 HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU MỘT PHẦN VÀ HẬU QUẢ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU 6

Tóm tắt quyết định số 22/2020/DS-GĐT ngày 23/04/2020 của Hội đồng thẩm phẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 6 Tóm tắt bản án số 319/2011/DS-GĐT ngày 28/03/2011 về “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 7 2.1 Khi nào hợp đồng vô hiệu một phần, vô hiệu toàn bộ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 8 2.2 Đoạn nào cho thấy trong Quyết định số 22 đã có việc chuyển nhượng tài sản chung của hộ gia đình mà không có sự đồng ý của tất cả các thành viên của hộ gia đình? 8 2.3 Đoạn nào trong Quyết định số 22 cho thấy Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần 9 2.4 Suy nghĩ của anh/chị về việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần 9 2.5 Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015 10 2.6 Trong Quyết định 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác định như thế nào? 12 2.7 Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết rằng ông Vinh sẽ bồi thường như thế nào?

12

2.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự 12

MỤC LỤC

Trang 3

2.9 Với các thông tin trong Quyết định 319, ông Vinh sẽ được bồi thường khoản tiền

cụ thể là bao nhiêu? Vì sao? 13

VẤN ĐỀ 3 BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CÓ THỜI HẠN 14

Tóm tắt Quyết định số 05/2020/KDTM-GĐT ngày 26/02/2020 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao 14 3.1 Thư bảo lãnh của Ngân hàng có thời hạn như thế nào? 14 3.2 Nghĩa vụ của Cty Cửu Long đối với Cty KNV có phát sinh trong thời hạn bảo lãnh của Ngân hàng không? 15 3.3 Theo Toà án nhân dân tối cao, khi người có quyền (Cty KNV) khởi kiện Ngân hàng trả nợ thay sau khi thời hạn bảo lãnh kết thúc thì Ngân hàng có còn trách nhiệm của người bảo lãnh không? Đoạn nào của Quyết định có câu trả lời? 17 3.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao 17

VẤN ĐỀ 4 GIẢM MỨC BỒI THƯỜNG DO HOÀN CẢNH KINH TẾ KHÓ KHĂN

19

4.1 Từng điều kiện được quy định trong BLDS để giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế 19 4.2 Trong tình huống nêu trên, việc Tòa án áp dụng các quy định về giảm mức bồi thường do thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của anh Nam để ấn định mức bồi thường có thuyết phục không? Vì sao? 20

VẤN ĐỀ 5 BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA 21

5.1 Đoạn nào của Quyết định cho thấy Tòa án đã vận dụng chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra? 21 5.2 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định đây là bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 21 5.3 Tòa dân sự có cho biết ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại không? 22 5.4 Theo anh/chị, ai là chủ sở hữu đường dây điện hạ thế gây thiệt hại? 22 5.5 Theo Tòa dân sự, chủ thể nào sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân? 22 5.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân 23

Trang 4

VẤN ĐỀ 6 BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ GÂY RA 24

Tóm tắt Bản án số 02/2015/HSST ngày 15/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên

24

6.1 Những khác biệt cơ bản về thiệt hại được bồi thường khi một cá nhân chết theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và BLDS 24 6.2 Hoàn cảnh như trong vụ việc trên có được Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước điều chỉnh không? Vì sao? 26 6.3 Nếu hoàn cảnh như trong vụ án trên xảy ra sau khi BLDS 2015 có hiệu lực, hướng giải quyết có khác hướng giải quyết trong vụ án không? Vì sao? 27

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 5

VẤN ĐỀ 1 THÔNG TIN TRONG GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Tóm tắt Bản án số 18A/2016/DSST ngày 15/6/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Ngày 29/9/2015, vợ chồng ông Linh, bà Lộc có giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất với vợ chồng ông Thành, bà Dinh Vợ chồng ông Linh đã đặt cọc 50.000.000đồng cho vợ chồng ông Thành Sau khi tìm hiểu thì ông Linh biết được lô đất đã được Ủyban nhân dân phường thông báo thu hồi, không phải là đất thổ cư như ông Thành cungcấp Tòa án đã tuyên hợp đồng đặt cọc trên bị vô hiệu, các bên có lỗi như nhau nên khôngphải bồi thường thiệt hại (bên mua không kiểm tra đầy đủ thông tin mà thiết lập hợp đồngđặt cọc, còn bên bán cung cấp sai thông tin, đất không do vợ chồng ông Thành đứng tên),buộc vợ chồng ông Thành trả lại tiền đặt cọc

1.1 Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất chuyển nhượng không?

Theo Tòa án, bên bán có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên mua về lô đất chuyểnnhượng

Diện tích đất mà vợ chồng ông Thành bán cho vợ chồng ông Linh là đất vườn theonghị định 64 của Chính phủ và đã có thông báo thu hồi đất nhưng khi giao kết hợp đồng

đặt cọc vợ chồng ông Thành không cung cấp rõ thông tin về lô đất.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng ông Thành chuyển nhượng cho vợ chồng ông Linhkhông thuộc quyền sở hữu của mình mà của ông Trần Dậu nhưng vợ chồng ông Thànhchuyển nhượng cho vợ chồng ông Linh

Vì vậy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không hợp pháp nên hợp đồng đặtcọc giữa vợ chồng ông Linh và vợ chồng ông Thành đương nhiên vô hiệu

1.2 Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng không? Vì sao?

BLDS 2015 buộc bên bán phải cung cấp thông tin về lô đất chuyển nhượng

Trang 6

Cơ sở pháp lý: Khoản 1 Điều 387 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp một bên cóthông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báocho bên kia biết”.

Trong trường hợp này nếu bên bán là vợ chồng ông Thành cung cấp thông tin vềviệc lô đất đã có thông báo thu hồi và quyền sử dụng đất không thuộc quyền sở hữu củamình thì lúc này hoàn toàn có thể bên mua sẽ xem xét lại việc nên chấp nhận giao kết hợpđồng hay không

1.3 Việc Tòa án đã theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn có thuyết phục không? Vì sao?

Việc Tòa án theo hướng giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn là không thuyết phục

Lô đất đã có thông báo bị thu hồi từ Uỷ ban nhân dân phường 9, Tp Tuy Hòa nhưng

vợ chồng ông Thành cung cấp không đúng về thông tin này và việc giao kết hợp đồng đặt

cọc đã được thực hiện với bên mua là vợ chồng ông Linh Căn cứ theo Điều 127 BLDS

2015:“Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba

nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”, thì bên bán có thông tin quan trọng ảnh

hưởng tới quyết định của bên mua mà không thông báo bị coi là hành vi lừa dối

1.4 Đối với hoàn cảnh như trong vụ án, BLDS 2015 có cho phép xử lý theo hướng giao dịch chuyển nhượng vô hiệu do nhầm lẫn không? Vì sao?

BLDS 2015 đã có sự thay đổi vượt bậc để khắc phục vấn đề trong vụ án nêu trên

Căn cứ theo khoản 1 Điều 387 BLDS 2015 thì “Trường hợp một bên có thông tin ảnh

hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.”

Từ quy định nêu trên, chúng ta có thể thấy trong trường hợp này anh Thành phảithông báo cho bà Lộc biết về vấn đề lô đất này bị quy hoạch giải tỏa, vì nó ảnh hưởng đếnviệc chấp nhận giao kết hợp đồng

Mà theo tình tiết vụ án thì anh Thành đã cung cấp thông tin không rõ ràng, đây làhành vi lừa dối trong giao kết hợp đồng Do BLDS 2015 đã sửa đổi về Điều 126 thì không

Trang 7

còn quy định như BLDS 2005 có dẫn chiếu đến Điều 132 Nên chúng ta không thể ápđụng Điều 126 giao dịch dân sự bị vô hiệu do bị nhẫm lẫn mà phải áp dụng Điều 127 giaodịch dân sự bị vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép của BLDS 2015.

VẤN ĐỀ 2 HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU MỘT PHẦN VÀ HẬU QUẢ HỢP ĐỒNG

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Dung

- Nội dung vụ án: Các nguyên đơn Vũ Ngọc Khánh, Vũ Ngọc Tuấn, Vũ Thị

Tường Vy khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản

gắn liền với đất giữa bà Nguyễn Thị Dung (mẹ của các nguyên đơn) với vợ chồng ông

Trần Thiết Học Đối tượng của hợp đồng là 252,6 m2 đất thổ cư, trên đất có nhà ở Giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất, trước đây đứng tên ông Vũ Ngọc Long (cha của các

nguyên đơn, chết năm 2000), đến năm 2003 thì được cấp cho “Hộ bà Nguyễn Thị D” Các nguyên đơn khai rằng họ không biết việc bà Dung tự ý chuyển nhượng cho vợ

chồng ông Học Bà D đồng tình với yêu cầu đòi hủy hợp đồng của các nguyên đơn vàkhai rằng thực chất chỉ là cầm cố giấy tờ để vay tiền

- Bị đơn Trần Thiết Học và vợ là Đào Thị Mỹ khai rằng: Ông bà ký hợp đồng

với bà Dung ngày 27/7/2011 có chứng thực của UBND thị trấn, có giấy ủy quyền của cáccon bà Dung cho bà Ông bà đã trả hết tiền và đã được cấp Giấy chứng nhận ngày

Trang 8

- Kết luận giám định về chữ ký trên giấy ủy quyền là “chưa đủ cơ sở kết luận

giám định” UBND thị trấn thừa nhận đã chứng thực hợp đồng ủy quyền mà không cómặt những người ủy quyền

- Quyết định của Tòa án sơ thẩm: Tại Bản án dân sự sơ thẩm số

07/2016/DSST ngày 29/4/2016, TAND huyện Lộc Ninh đã chấp nhận yêu cầu củanguyên đơn, tuyên bố hợp đồng ngày 27/7/2011 vô hiệu

- Quyết định của Tòa án phúc thẩm: Tại Bản án dân sự phúc thẩm số

80/2016/DSPT ngày 13/9/2016, TAND tỉnh Bình Phước đã sửa bản án sơ thẩm, chấpnhận yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng ngày 27/7/2011

- Quyết định giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao:

Viện trưởng VKSND cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh có kháng nghị giám đốc thẩm.Tại Quyết định giám đốc thẩm số 04/2017/DS-GĐT ngày 24/11/2017, Ủy ban Thẩm phánTAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyênbản án phúc thẩm

- Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao:

Hủy Quyết định giám đốc thẩm nêu trên, hủy Bản án dân sự phúc thẩm, hủy bản án dân

sự sơ thẩm và giao xét xử sơ thẩm lại

Tóm tắt bản án số 319/2011/DS-GĐT ngày 28/03/2011 về “V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

Nguyên đơn là ông Vinh khởi kiện vợ chồng ông Lộc bà Lan yêu cầu tiếp tục thựchiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký Được biết, hai bên đã ký hợpđồng chuyển nhượng 953m2 đất với giá là 100 triệu đồng chia thành 3 đợt trả tiền và sổ

đỏ sẽ giao sau khi nhận được tiền đợt 2 Tuy nhiên, mảnh đất được giao dịch không phải

là đất màu đúng như trong hợp đồng nên sau khi đã trả 45 triệu vào đợt 1, ông Vinh đãkhông tiếp tục tiến hành trả tiền đợt 2 đúng hạn bởi vì cho rằng vợ chồng ông Lộc không

có sổ đỏ Vì lý do ông Vinh không thanh toán tiền đúng hạn, vợ chồng ông Lộc đã khôngđồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩmđều tuyên bố hủy hợp đồng trên và yêu cầu vợ chồng ông Lộc bồi thường thiệt hại choông Vinh Sau khi xem xét lại vụ án, Tòa dân sự chỉ ra những sai sót khi không đưa bà

Trang 9

Thơm, vợ ông Vinh là người có quyền, nghĩa vụ liên quan đã tham gia ký kết hợp đồngvào tham gia tố tụng, ngoài ra còn chỉ ra sai sót trong nhận định về thiệt hại của hợp đồng

vô hiệu Vì vậy quyết định giao hồ sơ vụ án lại cho Tòa án nhân dân xã Lagi, tỉnh BìnhThuận xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật

2.1 Khi nào hợp đồng vô hiệu một phần, vô hiệu toàn bộ? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.

 Cơ sở pháp lý:

Điều 407: Hợp đồng vô hiệu

“1 Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.

2 Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

3 Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.”

 Theo như cơ sở pháp lý trên ta có 2 trường hợp đó là hợp đồng dân sự vô hiệu toànphần và hợp đồng vô hiều từng phần

 Trường hợp vô hiệu toàn phần: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điềucấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, do người chưa thành niên, người mất năng lựchành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện, do giả tạo, do

bị lừa dối, đe dọa, do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.Trường hợp này toàn bộ nội dung của hợp đồng đều bị vô hiệu

 Trường hợp vô hiệu một phần: Giao dịch dân sự vô hiệu khi một phần củagiao dịch vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch VD: A và B ký kết hợp đồng thuê nhà trong hợp đồng có nội dung giá thuê và đặt cọc.Tuy nhiên nội dung giá thuê lại vi phạm điều cấm của Pháp luật nên hợp đồng trên bị vô

Trang 10

hiệu một phần Do nội dung đặt cọc không bị vô hiệu, nghĩa là phần còn lại của hợp đồngvẫn có hiệu lực pháp luật.

2.2 Đoạn nào cho thấy trong Quyết định số 22 đã có việc chuyển nhượng tài sản chung của hộ gia đình mà không có sự đồng ý của tất cả các thành viên của hộ gia đình?

Tại phần 2 nhận định của Tòa án: “…Nhưng các anh, chị Khánh, Tuấn, Vy không

thừa nhận ký vào Hợp đồng ủy quyền nêu trên Bà Dung cho rằng chữ ký của bên ủy quyền không phải do các anh, chị Khánh, Tuấn, Vy ký, ai ký thì bà Dung không biết…Ủy ban nhân dân thị trấn Lộc Ninh thừa nhận vào thời điểm chứng thực chữ ký, không có mặt các anh, chị Khánh, Tuấn, Vy…”

2.3 Đoạn nào trong Quyết định số 22 cho thấy Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần.

Tại phần 3 nhận định của Tòa án: “…Trường hợp này, do các thành viên trong gia

đình không có thỏa thuận về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, nên xác định quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của các thành viên trong hộ gia đình theo phần và áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần để giải quyết Theo đó, phần quyền sử dụng, quyền sở hữu của bà Dung đã chuyển nhượng cho

vợ chồng ông Học nếu đúng quy định pháp luật thì có hiệu lực Còn phần quyền sử dụng, quyền sở hữu của các anh chị Khánh, Tuấn, Vy là vô hiệu theo quy định tại Điều 135 Bộ Luật Dân Sự năm 2005.”

2.4 Suy nghĩ của anh/chị về việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượng trên chỉ vô hiệu một phần.

Em hoàn toàn đồng ý với việc Hội đồng thẩm phán theo hướng hợp đồng chuyển nhượngtrên chỉ vô hiệu một phần, mà không phải vô hiệu toàn phần hay có hiệu lưc toàn phần docăn cứ theo Điều 130 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từngphần “Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vôhiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch”

Trang 11

Bất động sản là một trong những tài sản có giá trị rất lớn, và trong vụ việc trên, thửa đấtnày là tài sản chung của hộ gia đình, bao gồm chủ hộ là bà Dung và các con đã thànhniên Nên việc chuyển nhượng phần sử dụng đất trên phải được sự đồng ý của cả chủ hộ(bà Dung) và các người con để có thể đảm bảo quyền lợi cho anh Khánh, anh Tuấn, chị

Vy Vì vậy Tòa án hoàn toàn có căn cứ để áp dụng khoản 2, Điều 209 của Bộ luật Dân sự

2015 về sở hữu chung theo phần “Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụđối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trườnghợp có thỏa thuận khác”

Đồng thời, trong thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cả hai bên

là vợ chồng ông Thiết Học và bà Dung đều nhận thức đầy đủ một cách rõ ràng rằng hợpđồng ủy quyền cho bà Dung đó không phải là chữ ký của anh Khánh, anh Tuấn, chị Vy.Nhưng hai bên vẫn thỏa thuận và ký kết nên hoàn toàn đủ điều kiện để tuyên bố hợp đồngchuyển nhượng trên là vô hiệu vì đã vi phạm về cả hình thức lẫn nội dung của hợp đồng.Bên cạnh đó, trong vụ việc trên, cả bà Dung và phía các con là các anh Khánh, anh Tuấn,chị Vy không có bất cứ thỏa thuận nào khác về quyền sử dụng đất cũng như tài sản gắnliền với thửa đất trên nên Tòa án hoàn toàn có căn cứ để xem xét và xử vụ việc theonguyên tắc chung trong Bộ luật Dân sự Như vậy, theo Bộ luật dân sự, thì phần quyền sửdụng của các anh, chị Khánh, Tuấn, Vy sẽ vô hiệu do không có sự đồng ý của chủ sở hữutrên Nhưng bà Dung hoàn toàn có thể chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất của mìnhtheo hợp đồng, nếu hợp đồng trên không vi phạm gì về mặt hình thức và nội dung, cho vợchồng ông Thiết Học

Vậy nên việc Tòa án chỉ vô hiệu một phần của hợp đồng chuyển nhượng là hoàn toàn hợp

lý để đảm bảo quyền lợi cho các bên là các anh Khánh, anh Tuấn, chị Vy cũng như vợchồng ông Thiết Học

2.5 Thay đổi về hậu quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015.

*Thay đổi thứ nhất:

Trang 12

BLDS 2015 đã tách vấn đề “hoa lợi, lợi tức” là đối tượng của hợp đồng vô hiệu ra khỏiquy định về khôi phục lại tình trạng ban đầu và có quy định mới là việc trả “hoa lợi, lợitức” cần phải có yếu tố “ngay tình” của người nhận tài sản Cụ thể:

BLDS 2005

Khoản 2 Điều 137:

“Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả chonhau những gì đã nhận;…trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịchthu theo quy định của pháp luật ”

- BLDS 2015 đã khắc phục được hạn chế, sai sót đó khi tách đã tách vấn đề “hoa lợi, lợitức” là đối tượng của hợp đồng vô hiệu ra khỏi quy định về khôi phục lại tình trạng banđầu ra thành một khoản riêng

Trang 13

Thứ hai:

- BLDS 2005 quy định về số phận của hoa lợi, lợi tức khi giao dịch dân sự vô hiệu khôngthống nhất với Điều 601 BLDS 2005 (được duy trì trong BLDS 2015) Tại Điều 601 thìtiêu chí để xác định số phận của hoa lợi, lợi tức khi giao dịch dân sự vô hiệu là sự ngaytình của người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật và trên thực tế Tòa án cũnggiải quyết trên cơ sở Điều 601

- BLDS 2015 đã giải quyết được bất cập trên thông qua quy định tại Khoản 3 Điều 131:

“Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó”.Tạo ra sự thống nhất với tiêu chí để xác định số phận của hoa lợi, lợi tức của người chiếmhữu tài sản không có căn cứ pháp luật đó chính là dựa vào có hay không có yếu tố “ngaytình”

*Thay đổi thứ hai:

BLDS 2015 thêm Khoản 5 Điều 131 với nội dung: “Việc giải quyết hậu quả của giao

dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”

=> Phù hợp với những quy định pháp luật hiện hành có liên quan

2.6 Trong Quyết định 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác định như thế nào?

Tòa đã xác định cả hai bên cùng có lỗi

Tại phần xét thấy: “Trong trường hợp này ông Vinh mới trả được 45.000.000 đồng trên

tổng giá trị thửa đất 100.000.000 đồng tức là mới trả 45% giá trị thửa đất, cả hai bên cùng có lỗi […]”.

Tòa xác định mỗi bên sẽ có ½ lỗi Lỗi này cũng đã được Tòa sơ thẩm xác định trước đó

Trang 14

2.7 Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết rằng ông Vinh sẽ bồi thường như thế nào?

Theo quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết rằng ông Vinh không phải bồi thườngcho vợ chồng ông Lộc mà ông Vinh sẽ được nhận bồi thường thiệt hại là 12 chênh lệch giácủa 45% giá trị thừa đất theo giá thị trường vì trước đó, ông Vinh chỉ mới thanh toán 45triệu đồng, tương ứng với 45% giá trị thừa đất theo hợp đồng và hai bên đều cùng có lỗitrong giải quyết hậu quả của hợp đồng nên phải cùng chịu trách nhiệm

2.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự.

Hướng giải quyết trên của Tòa dân sự là chưa thuyết phục

Căn cứ theo cơ sở pháp lý tại Khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 về hậu quả pháp lý củagiao dịch dân sự vô hiệu thì khi giao dịch dân sự vô hiệu, các bên khôi phục lại tình trạngban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trong trường hợp này, sự việc dẫn đến hợpđồng bị vô hiệu là do cả hai bên cùng có lỗi nhưng khi giao dịch chỉ mới có khoản tiền 45triệu là của ông Vinh thanh toán đợt 1 cho vợ chồng ông Lộc nên Tòa án nhận định ôngVinh chỉ được nhận bồi thường thiệt hại là 12 chênh lệch giá của 45% giá trị thừa đất theogiá thị trường là hợp lý

Tuy nhiên, Tòa án chưa đề cập đến nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của ông Vinh Xéttheo mức độ lỗi, ông Vinh là người mua trong trường hợp này cũng là bên có lỗi vì đã cốtình không thanh toán tiền mua đất đúng hẹn Căn cứ theo cơ sở pháp lý tại Khoản 4 Điều

131 BLDS 2015 thì Tòa án chưa nhận định đầy đủ về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đốivới ông Vinh khi đã không thanh toán đúng hẹn cho vợ chồng ông Lộc Như vậy, hướnggiải quyết trên của Tòa dân sự vẫn chưa đủ thuyết phục

2.9 Với các thông tin trong Quyết định 319, ông Vinh sẽ được bồi thường khoản tiền

cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?

Tòa án sơ thẩm bước đầu xác định biên bản định giá thừa đất hiện nay đối với mảnhđất 953m2 của vợ chồng ông Lộc là 333.550.000đ, chênh lệch so với số tiền thỏa thuậntrong hợp đồng chuyển nhượng là 233.550.000đ Sau đó vợ chồng ông Lộc đã khiếu nạivới nội dung là Hội đồng định giá tài sản tranh chấp của Tòa sơ thẩm không đúng với giá

Trang 15

đấy do UBND tỉnh Bình Thuận ban hành Tuy nhiên, Tòa dân sự sau khi xem xét lại vẫnkhông đề cập đến vấn đề sai lệch về định giá tài sản tranh chấp của Tòa sơ thẩm nên cóthể thấy 333.550.000đ là định giá tài sản đúng do không có thêm bất kỳ nhận định nào vềđịnh giá tài sản từ Tòa dân sự.

Theo thông tin trong Quyết định 319, ông Vinh sẽ được nhận bồi thường thiệt hại là 12chênh lệch giá của 45% giá trị thừa đất theo giá thị trường Như vậy, số tiền do bồithường thiệt hại mà ông Vinh nhận được là:

1

2 × [( 333.550.000 × 45%) - 100.000.000] = 25.048.750đ

Trang 16

VẤN ĐỀ 3 BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CÓ THỜI HẠN

Tóm tắt Quyết định số 05/2020/KDTM-GĐT ngày 26/02/2020 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao.

Nguyên đơn: Công ty TNHH K.N.V (gọi tắt là Công ty K.N.V)

Bị đơn: Công ty TNHH sản xuất và thương mại phân bón Cửu Long Việt Nam (gọi tắt

là Công ty Cửu Long); Ngân hàng TMCP Việt Á (gọi tắt là Ngân hàng Việt Á)

Ngày 12/4/2016, Công ty K.N.V và Công ty Cửu Long kí kết Hợp đồng thương mại số1016/KNV-CLVN/2016 Trong đó, Công ty K.N.V mua của Công ty Cửu Long 3000 tấnphân bón Urea hạt trong, đơn giá 5.100.000 đồng/tấn, tổng giá trị là 15.300.000.000 đồng.Thời gian Công ty Cửu Long bắt đầu giao hàng chậm nhất cho Công ty K.N.V là 20 ngàylàm việc kể từ ngày Công ty Cửu Long nhận tiền ký quỹ tạm ứng tương đương 20% tổnggiá trị hợp đồng của Công ty K.N.V Sau khi Công ty K.N.V chuyển vào tài khoản Ngânhàng Việt Á đủ số tiền 3.060.000.000 đồng, Công ty Cửu Long đã chậm giao hàng so vớinội dung trong Hợp đồng Ngân hàng Việt Á đã phát hành Thư bảo lãnh hoàn trả tiền ứngtrước và Thư tu chỉnh bảo lãnh, sau khi Công ty Cửu Long vi phạm nghĩa vụ giao hàng,Ngân hàng không yêu cầu Công ty K.N.V gửi Thư bảo lãnh bản gốc theo quy định Công

ty K.N.V khởi kiện yêu cầu Công ty Cửu Long thanh toán lãi suất chậm trả của số tiềntạm ứng còn thiếu, thanh toán tiền phạt 5% giá trị hợp đồng

Tòa quyết định hủy Quyết định giám đốc thẩm, giữ nguyên Bản án phúc thẩm – chấpnhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

3.1 Thư bảo lãnh của Ngân hàng có thời hạn như thế nào?

Thư bảo lãnh của Ngân hàng được xem là 1 trong các hình thức của cam kết bảolãnh theo điểm a khoản 12 Điều 3 của Thông tư 07/2015/TT-NHNN

Theo khoản 1 khoản 3 và khoản 4 Điều 19 Thông tư 07/2015/TT-NHNN quy định:

Ngày đăng: 08/05/2023, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w