Các vấn đề về thực hiện hợp đồng và quy định về các chế tài khi vi phạm trong quá trình thực hiện hợp đồng đã giao kết như buộc thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng,...
Trang 1VẤN ĐỀ 1: Buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng.
- Trên cơ sở văn bản, Tòa án có được buộc ông An giao tài sản cho ông Bình không? Nêu rõ cơ sở văn bản khi trả lời.
Có 2 văn bản quan trọng cần lưu ý và phải nói tới, đó là BLDS Việt Nam và Luật Thương mại Việt Nam
Dưới góc độ văn bản thì BLDS không có quy định nào cho phép Tòa án buộc bên bán phải giao tài sản, tiếp tục thực hiện đúng theo như hợp đồng mà chỉ có những quy định để bên có quyền yêu cầu hoặc buộc bên có nghĩa vụ phải chuyển giao tài sản, thực hiện đúng hợp đồng dưới hình thức cưỡng chế của nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi do phápluật quy định(Căn cứ pháp lý cụ thể tại khoản 2 Điều 9; khoản 1, 2 Điều 303; khoản 2 Điều 304; khoản 1 Điều 305 BLDS 2005) Tức là, Tòa án không can thiệp và không thể buộc thực thiện đúng hợp đồng nếu người
có quyền không yêu cầu Mặt khác, các quy định này trong LDS vẫn còn mập mờ, chưa
rõ ràng, khó khăn trong việc áp dụng và không sát với thực tế về việc người có nghĩa vụ phải thực hiện đúng hợp đồng Ta có thể thấy rõ tại khoản 1, 2 Điều 303 chỉ quy định buộc thực hiện hợp đồng (giao vật) chỉ áp dụng với vật đặc định, luật lại bõ ngõ các hướng khác, các loại tài sản khác như vật đồng bộ, vật cùng loại, quyền sử dụng tài sản… Với các loại này thì BLDS không có căn cứ để buộc giao tài sản, thực hiện đúng hợp đồng Điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người tham gia giao kết hợp đồng Về phương diện này thì Luật Thương mại quy định cụ thể, rõ ràng hơn
Trên cơ sở của Luật Thương mại thì chế tài “Buộc thực hiện đúng hợp đồng” được quy định cụ thể tại Điều 297, khi áp dụng chế tài này bên bị vi phạm có thể lựa chọn hoặc yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc lựa chọn các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.Ngoài ra “trường hợp buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể gia hạn một thời gian hợp lý để bên
vi phạm thực hiện hợp đồng” (Điều 298 Luật Thương mại) Và trong thời gian áp dụng chế tài này, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm nhưng không được áp dụng các chế tài khác (Điều 299 Luật Thương mại) Khi giải quyết tranh chấp, các Thẩm phán phải áp dụng đúng nội dung quy định của Luật Thương mại có hiệu lực tại thời điểm giao kết hợp đồng để giải quyết vụ án trừ trường hợp có hướng dẫn khác (Điều 324 Luật Thương mại)
- Trên thực tế, nếu tài sản trên là quyền sử dụng đất hay hàng hóa thì Tòa án
có buộc ông An giao tài sản cho ông Bình không? Tại sao?
Trong thực tiễn xét xử, ta có thể thấy được Tòa án linh hoạt trong vấn đề buộc giao tài sản này
Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, Tòa án vẫn áp dụng quy định buộc thực hiện
hợp đồng, ta có thể tham khảo Bản án số 04/2010/DSPT ngày 26/10/2009 cuả Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai (Tóm tắt bản án: Nguyên đơn là anh Nguyễn Trọng Trung và chị
Nguyễn Thị Hoài, bị đơn là anh Trương Quốc Lục và chị Hoàng Thị Thủy trong vụ việc
“Tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự” Theo bản án thì anh Lục và chị Thủy
có kí kết hợp đồng mua bán đất với anh Trung và chị Hoài, sau khi kí kết thì vợ chồng
Trang 2anh chị Lục – Thủy đã nhận số tiền cọc là 13.000.000đ với cam kết là sẽ giao giấy tờ đất khi làm xong thủ tục và nhận nốt số tiền còn lại là 107.000.000đ từ vợ chồng anh chị Trung – Hoài Đến ngày thực hiện hợp đồng thì anh Lục và chị Thủy không chịu giao đất
và giấy tờ nhà mà còn đòi tăng tiền bán đất nhưng anh Trung và chị Hoài không đồng ý,
do phát sinh mâu thuẫn đôi bên nên vợ chồng anh chị Lục – Thủy đòi không giao đất và giấy tờ, trả lại số tiền cọc là 13.000.000đ).Trong bản án này, Tòa án đã “Buộc anh Trương Quốc Lục và chị Hoàng Thị Thủy phải thực hiện nghĩa vụ giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 64823 do UBND thành phố Pleiku cấp ngày 16/05/2006 đứng tên chị Nguyễn Thị Hoài cho chị Nguyễn Thị Hoài và anh Nguyễn Trọng Trung” theo những quy định trong BLDS
Đối với tài sản là hàng hóa thì chế định buộc giao tài sản cũng được áp dụng nhưng theo quy định của Luật Thương mại, trọng tâm là Điều 297 Cũng đã có nhiều quyết định
của Tòa án thể hiện quy định này của luật, ta có thể xem Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2008/KDTM-ST ngày 16/5/2008 của TAND tỉnh PK, thành phố
G Trong trường hợp này, Tòa án đã buộc bên bán phải giao tài sản (ở đây là cà phê) theo
như hợp đồng đã ký kết Tuy nhiên, khi áp dụng chế định này thì Tòa án phải xem xét
trên ý chí, nguyện vọng của các đương sự Tham khảo Vụ kiện tranh chấp hợp đồng mua bán gạo số 132/HĐKT/2009 và số 136/HĐKT/2009 giữa Nguyên đơn - Công ty TNHH Song Thuận và Bị đơn - Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang.
Trong vụ việc này, vì lý do bên bị vi phạm không yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, chỉ buộc bên vi phạm bồi thường hợp đồng
Vậy, có thể buộc ông An giao tài sản cho ông Bình với điều kiện ông An phải yêu cầu Tòa án buộc ông Bình tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng Mục đích của việc làm này
là nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia ký kết hợp đồng (Điều
9, khoản 1 Điều 303, khoản 1, khoản 2 Điều 304, khoản 1 Điều
305 BLDS)
- Có văn bản nào cho phép Tòa án buộc ông An phải trả một khoản tiền cho mỗi tháng ông An không giao tài sản cho ông Bình không? Nếu có nêu rõ văn bản
và phạm vi áp dụng của văn bản.
Theo BLDS 2005, đối với một số tài sản nhất định cụ thể thì tồn tại những điều luật quy định buộc ông An phải trả một khoản tiền cho mỗi tháng ông An không giao tài sản cho ông Bình
Thứ nhất, trường hợp ông An vi phạm nghĩa vụ trả tiền được quy định tại Khoản 2 Điều 305 BLDS 2005: “2 Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”
Thứ hai, trường hợp ông An vi phạm nghĩa vụ giao nhà
Thứ ba, trường hợp ông An vi phạm nghĩa vụ giao vật đồng bộ được quy định tại Khoản 2 Điều 436 BLDS 2005: “2 Trong trường hợp bên mua đã trả tiền nhưng chưa nhận vật do giao không đồng bộ thì được trả lãi đối với số tiền đã trả theo lãi suất cơ bản
Trang 3do Ngân hàng Nhà nước quy định và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do giao vật không đồng bộ, kể từ thời điểm phải thực hiện hợp đồng cho đến khi vật được giao đồng bộ.”
Những quy định trên chỉ mang tính chất tản mạn, phạm vi hẹp, chỉ bao gồm ba loại tài sản là tiền, nhà ở và vật đồng bộ, còn những trường hợp khác thì không có văn bản nào quy định Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, Tòa án đã linh hoạt, mạnh dạn hơn về việc xác định thêm một số loại tài sản ngoài việc buộc giao tài sản còn buộc trả thêm một khoản tiền
- Suy nghĩ của anh/chị về buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng ở Việt Nam (giữ nguyên hiện trạng hay cần sửa đổi, bổ sung gì?Vì sao?)
Trong pháp luật Việt Nam hiện nay, việc buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng
được quy định cả trong BLDS và Luật Thương mại Xét về góc độ BLDS, Điều 303 và Điều 304 có quy định về vấn đề này; tuy nhiên chỉ mang tính chất liệt kê nghĩa vụ dân
sự, thiếu một quyết định mang tính khái quát Cụ thể, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 303 BLDS 2005 quy định “1 Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định
thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật.2 Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùng loại thì phải thanh toán giá trị của vật.”; hay
Khoản 1 Điều 304: “1 Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc
mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.” Như vậy, theo BLDS
2005 thì chỉ buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng đối với trường hợp là vật đặc định, vật cùng loại và công việc phải thực hiện Trong thực tiễn xét xử, có những nghĩa vụ không được liệt kê thì Tòa án vẫn buộc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ dân sự; ví dụ như việc giao cà phê hay giao quyền sử dụng đất Phần trên cho thấy BLDS 2005 thiếu thuyết phục vì còn quan tâm nhiều đến “đối tượng của nghĩa vụ”, vẫn chưa có tính bao quát cho các loại nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Thêm vào đó, buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng là biện pháp hiệu quả và đơn giản vì giúp bên có quyền đạt được lợi ích mong đợi
từ hợp đồng; tuy nhiên nếu đối với mỗi trường hợp chúng ta đều phải đối chiếu với các quy định của pháp luật với hệ quả là khi việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng không thuộc các trường hợp mà pháp luật đã quy định thì sẽ không có cơ sở để chấp nhận, và việc đánh giá những trường hợp đó có trùng khớp với những quy định của pháp luật đôi khi cũng không đơn giản Từ đó dẫn đến có thể gây khó khăn cho việc vận dụng, dễ gây tranh cãi trong cách giải quyết vấn đề này
Mở rộng so sánh ra với các nước dân luật, đặc biệt là Bộ nguyên tắc châu Âu, ta có thể thấy, hợp đồng có giá trị bắt buộc đối với các bên và vì thế nếu một bên vi phạm hợp đồng thì, về nguyên tắc, bên kia có quyền yêu cầu bên vi phạm tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng đối với mọi trường hợp vi phạm
Chính vì những lý do cơ bản nêu trên, nên những quy định trong BLDS về “Buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng” cần ghi nhận một nguyên tắc chung khái quát về những vi phạm cần được áp dụng điều luật này Chẳng hạn, chúng ta có thể quy định
Trang 4tương tự như Bộ nguyên tắc Unidroit: “Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán bên có quyền có thể yêu cầu thanh toán” và “Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ không phải là nghĩa vụ thanh toán bên có quyền có thể yêu cầu nghĩa vụ phải thực hiện” Theo như trên, thì nghĩa vụ dân sự được chia ra thành nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ không thanh toán, và mọi trường hợp vi phạm bên có quyền đều có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện
Nhận xét thêm về vấn đề “cơ chế nào sẽ thúc đẩy việc buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng”, thì cũng tương tự như các điều luật nêu trên, Khoản 2 Điều 305 BLDS 2005,
Khoản 1 Điều 436 quy định bên cạnh việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ còn phải chịu thêm
một khoản tiền bồi thường nhưng cũng chỉ áp dụng cho ba trường hợp, cụ thể là giao tiền, giao nhà và giao vật đồng bộ Vậy, còn những trường hợp phát sinh khác thì sao? Như vậy, về cơ chế thúc đẩy ta cũng xét thấy sự cần thiết của tính khái quát và nguyên tắc chung
- Đối với vụ việc trong Quyết định số 36, đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương
đã buộc các bên tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng?
Trong Quyết định số 36, đoạn cho thấy Tòa án địa phương đã buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng:
Bản án sơ thẩm:
“[ ] 2 Buộc Công ty TNHH Damool VINA tiếp tục thực hiện hợp đồng số 007/09/ DMVN-HHDT ngày 10/10/2009 giữa Công ty TNHH Damool VINA với Công ty cổ phần Hồng Hà Bình Dương [ ]”
Bản án phúc thẩm:
“[ ] Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Damool VINA và Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Thế Giới nhà
Giữ nguyên Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2010/KDTM-ST ngày 27/8/2010 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương [ ]”
- Hướng của Tòa án địa phương có được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Hướng giải quyết của Tòa án địa phương là buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng không được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận
Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “[ ] Công ty Hồng Hà Bình Dương khởi kiện yêu cầu buộc Công ty VINA nếu không thực hiện theo cam kết tại Hợp đồng nguyên tắc
số 007 thì phải thanh toán cho Công ty Hồng Hà Bình Dương tiền phạt theo thỏa thuận tại hợp đồng là 290.000USD x 5% = 14.500USD Trước và trong quá trình giải quyết vụ
án, Công ty VINA đều từ chối việc thực hiện Hợp đồng nguyên tắc số 007 và đồng ý chịu phạt 5% giá trị hợp đồng Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty Hồng Hà Bình Dương và Công ty VINA tiếp tục thực hiện Hợp đồng nguyên tắc
số 007 là không đúng.”
Trang 5- Vì sao Tòa án nhân dân tối cao theo hướng nêu trên? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?
Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định như trên là vì Tòa tôn trọng ý chí, nguyện vọng của đương sự Tòa xét thấy các bên đã có hành vi thỏa thuận, trao đổi về việc chịu phạt vi phạm hợp đồng và đương sự cũng không có ý kiến, yêu cầu buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng cho nên không cần thiết phải tuyên buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng trong trường hợp này
Đoạn của quyết định thể hiện điều này là: “Công ty Hồng Hà Bình Dương khởi kiện yêu cầu buộc công ty VINA nếu không thực hiện hợp đồng theo cam kết tại hợp đồng nguyên tắc số 007 thì phải thanh toán cho Công ty Hồng Hà Bình Dương tiền phạt theo thỏa thuận hợp đồng là 290.000USD x 5% = 14.500USD Trước và trong quá trình giải quyết vụ án, công ty VINA đều từ chối thực hiện hợp đồng nguyên tắc số 007 và đồng ý chịu phạt 5% giá trị hợp đồng Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty Hồng Hà Bình Dương và Công ty VINA tiếp tục thực hiện hợp đồng nguyên tắc
số 007 là không đúng.”
- Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao?
Do nguyên tắc của hợp đồng dân sự là thể hiện việc các bên thỏa thuận và thống nhất
ý chí, cho nên Tòa án tôn trọng nguyên tắc này là hoàn toàn phù hợp, hướng giải quyết cũng hợp lý, vừa bảo vệ được quyền và lợi ích của bên bị vi phạm hợp đồng vừa đảm bảo bên vi phạm hợp đồng không bị thiệt hại quá mức đồng thời cũng thỏa mãn được nguyện vọng của bên nguyên đơn
Trang 6VẤN ĐỀ 2: Cầm giữ tài sản.
- Đoạn nào trong bản án cho thấy bên bán đang giữ bản chính xe máy?
Đoạn của bản án cho thấy bên bán đang giữ bản chính đăng ký xe máy là: “ Do hiện
nay công ty Easy đang giữ bản chính giấy đăng ký xe máy biển số 52S4 – 7402 nên khi
bà Loan trả hết số tiền trên thì Công ty phải có trách nhiệm trả lại cho bà Loan bản chính giấy tờ trên”.
- Đoạn nào của bản án cho thấy bên mua chưa thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán tiền mua xe?
Bản án có một đoạn cho thấy bên mua chưa thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán tiền
mua xe, đó là: “Bà Loan đã trả đến tháng 2/2008 với số tiền 9.646.000 đồng thì ngưng
trả tiếp, cấn trừ với số tiền đã thanh toán thì số tiền bà Loan còn phải thanh toán cho công ty Easy là 4.063.384 đồng”
- Theo BLDS, trong điều kiện nào, bên có quyền được cầm giữ tài sản khi bên
có nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng?
Điều 416 BLDS quy định bên có quyền được cầm giữ tài sản khi bên có nghĩa vụ
không thực hiện đúng hợp đồng trong điều kiện:
1 Bên có nghĩa vụ đã không thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng
Bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng
2 Tài sản được cầm giữ phải là đối tượng của hợp đồng song vụ;
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, theo Khoản 1 Điều 406 BLDS 2005
Tài sản theo Điều 163 BLDS bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Nếu không là tài sản thì không được quyền cầm giữ, đồng thời nếu không là đối tượng của hợp đồng song vụ thì cũng không được cầm giữ
3 Người có quyền phải đang chiếm giữ hợp pháp tài sản
Có thể hiểu là: Người có quyền đang kiểm soát hoặc quản lý tài sản
- Bản chính đăng ký xe có là một tài sản không? Vì sao?
Bản chính đăng ký xe không là một loại tài sản Vì:
Điều 163 BLDS quy định “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài
sản” Mà bản chính đăng ký xe thì không là vật, tiền, cũng không là quyền tài sản Cũng
không nên nhầm tưởng bản chính giấy tờ xe là giấy tờ có giá, bởi Khoản 9 Điều 3 Nghị
định áp dụng Bộ luật dân sự về phần biện pháp bảo đảm quy định: “Giấy tờ có giá
bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch” Như
vậy, bản chính đăng ký xe cũng không là giấy tờ có giá và đương nhiên nó không là tài sản
Trang 7- Cho đến khi bên mua chưa trả hết tiền mua, Tòa án có cho phép bên bán cầm giữ bản chính đăng ký xe không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Cho đến khi bên mua – là bà Loan chưa trả hết tiền mua thì Tòa án xác định là cho phép bên bán – Công ty Easy được cầm giữ bản chính đăng ký xe Quyết định này thể
hiện trong đoạn: “Ngay sau khi bà Loan thanh toán hết khoản tiền trên, phía Công ty cổ
phần Giấc Mơ Dễ Dàng phải trả lại bản chính giấy đăng ký mô tô, xe máy biển số 52S4 – 7402 cho bà Nguyễn Thị Thanh Loan”.
- Thông qua thực tiễn xét xử và kiến thức mà anh/chị có, suy nghĩ của anh chị
về chế định cầm giữ tài sản được quy định tại Điều 416 BLDS?
Về chế định Cầm giữ tài sản quy định tại Điều 416 BLDS, chúng tôi có một vài nhận
xét như sau:
+ Về từ “tài sản”
BLDS đã quy định theo hướng bên có quyền chỉ được cầm giữ “tài sản” khi bên có nghĩa vụ không thực hiên đúng hợp đồng, những gì “không là tài sản” thì không được cầm giữ Điều này vô hình trung giới hạn khả năng đảm bào bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ và giới hạn quyền của bên có quyền
Trong bản án trên ta thấy, nhìn từ góc độ văn bản thì rõ ràng công ty Easy không được quyền cầm giữ bản chính đăng ký xe vì đơn giản đó không là tài sản Điều này đã được khắc phục trong thực tiễn xét xử khi mà Tòa án xác định đây vẫn được cầm giữ đối tượng này
So sánh với văn bản pháp luật khác, chúng ta thấy Luật Thương mại quy định rộng
hơn về vấn đề này Cụ thể, theo Điều 149 Luật Thương mại quy định: “Trừ trường hợp
có quy định khác, bên đại diện có quyền cầm giữ tài sản, tài liệu được giao đề bảo đảm
việc thanh toán các khoản thù lao và chi phí đã đến hạn”; Khoản 1 Điều 239 cũng quy
định: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistic có quyền cầm giữ một số lượng hàng
hóa nhất định và các chứng từ liên quan đến số lượng hàng hóa đó để đòi tiền nợ đã đến hạn của khách hàng”.
BLDS với tư cách là VBPL điều chỉnh các quan hệ trong giao lưu dân sự nên quy định bao quát hơn, sát thực tiễn hơn về vấn đề này
+ Về “đối tượng của hợp đồng song vụ”
Cũng giống như trường hợp trên, BLDS không quy định về cầm giữ tài sản đối với quan hệ song vụ không là hợp đồng song vụ Các quan hệ song vụ đó có thể kể đến: quan
hệ trong thực hiện công việc không có ủy quyền, quan hệ giữa người thất lạc vật nuôi và người bắt được vật nuôi bị thất lạc… Trong khi xét thấy, quy định đối với các quan hệ này như đối với quan hệ “hợp đồng song vụ” là tương đồng và cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho người cóa quyền Nếu có thể được, chúng ta nên sửa từ “hợp đồng song vụ” thành “quan hệ song vụ”
Thực tiễn xét xử, may thay đã khắc phục được vấn đề này Lại dẫn chiếu bản án trên đây, ta thấy Tòa án đã khéo léo “áp dụng tương tự pháp luật” đề giải quyết vấn đề khi mà
Trang 8bản chính giấy tờ xe chỉ “liên quan” đến “đối tượng của hợp đồng song vụ” chứ không là
“đối tượng của hợp đồng song vụ” Thiết nghĩ BLDS nên được sửa đổi để tạo căn cứ pháp lý cho Tòa án giải quyết nhiều vụ việc tương tự như vậy
+ Về việc định đoạt tài sản cầm giữ
BLDS chưa có quy định nào cho phép người có quyền cầm giữ tài sản được phép định đoạt tài sản khi tài sản có nguy cơ hay dấu hiệu hư hỏng… Nếu không có quyền này, khi mà tài sản bị hư hỏng thì việc cầm giữ không có ý nghĩa
Trong khi đó, Luật thương mại đã đi trước BLDS về vấn đề này khi mà quy định bên cầm giữ có quyền định đoạt hàng hóa
+ Về các vấn đề khác như: thời gian cầm giữ hay hoa lợi, lợi tức phát sinh thì về
cơ bản chế định này đã quy định rõ và có tính khái quát, khả năng áp dụng cao.
Việc áp dụng chế định này trong thực tiễn xét xử cũng khá là linh hoạt, đảm bảo quyền lợi cho bên có quyền
Bài tập này chúng tôi có dẫn các quan điểm của PGS.TS Đỗ Văn Đại trong quyển “
Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam” của
thầy
Trang 9VẤN ĐỀ 3: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng
- Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do
có vi phạm.
*Giống nhau:
+ Là các hình thức chấm dứt hiệu lực của hợp đồng dân sự
+ Bên làm xảy ra thiệt hại nghiêm trọng phải bồi thường cho bên kia
+ Khi sự việc xảy ra hai bên hoàn trả nhau những gì đã nhận
* Khác nhau:
vi phạm
Cơ sở
pháp lý
Điều 127- Điều 138 BLDS 2005, Điều 410, Điều 411 BLDS 2005
Điều 425 BLDS 2005
Căn cứ
phát sinh
Vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 122 của BLDS 2005
Một bên đơn phương tuyên
bố tiêu hủy hợp đồng khi có những điều kiện do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định
Thời
điểm
phát sinh
Lý do dẫn đến việc vô hiệu hợp đồng tồn tại ở thời điểm giao kết (như nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa trong thời điểm giao kết)
Lý do hủy bỏ hợp đồng chỉ xuất hiện sau thời điểm hợp đồng được giao kết
Đối
tượng
hoàn trả
nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật
Không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền
- Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm.
* Giống nhau:
+ Đều là căn cứ dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng, được quy định tại khoản 3 Điều
424 BLDS 2005.
+ Bên hủy bỏ/đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết
về việc hủy bỏ/chấm dứt hợp đồng, không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
(quy định lần lượt tại khoản 2 Điều 425 và khoản 2 Điều 426 BLDS 2005).
Trang 10+ Bên có lỗi trong việc hợp đồng bị hủy bỏ/đơn phương chấm dứt phải bồi thường
thiệt hại (quy định lần lượt tại khoản 4 Điều 425 và khoản 4 Điều 426 BLDS 2005).
* Khác nhau:
Tiêu chí Hủy bỏ hợp đồng dân sự (Điều 425 BLDS 2005) Đơn phương chấm dứt hợp đồng (Điều 426 BLDS 2005)
Căn cứ
phát sinh
Khi một bên vi phạm hợp đồng
là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định
Nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định, không nhất thiết là phải có sự vi phạm hợp đồng hoặc pháp luật
Hậu quả
pháp lý
Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết
Các bên hoàn trả lại cho nhau tài sản đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì trả bằng tiền
Hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt
Những gì đã thực hiện vẫn có giá trị hiệu lực Các bên thanh toán cho nhau những gì đã thực hiện và không phải tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa
- Nhìn từ góc độ văn bản, ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không? Nếu có nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ.
Nhìn từ góc độ văn bản, ông Minh không được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà ông đã ký với ông Cường Trong tình huống nêu trên, ta thấy rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Minh và ông Cường là hợp pháp; mặt khác, trong hợp đồng cũng không có sự thỏa thuận thời hạn mà ông Cường phải thanh toán tiền cho ông Minh; do vậy, ông Minh không có quyền yêu cầu hủy bỏ hợp đồng
Tại khoản 1 Điều 425 BLDS 2005 có quy định: “Một bên có quyền hủy bỏ hợp
đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy
bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” Như vậy, một bên có thể hủy
bỏ hợp đồng khi thỏa mãn một số điều kiện:
Thứ nhất, vấn đề hủy bỏ hợp đồng được đặt ra khi bên kia có “vi phạm hợp đồng”.
Trong tình huống này thì có thể coi việc bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (ông Cường) chưa thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thanh toán đối với bên chuyển nhượng (ông Minh) Do vậy, điều kiện hủy bỏ hợp đồng này đã thỏa mãn
Thứ hai, một bên chỉ có quyền hủy bỏ hợp đồng khi vi phạm hợp đồng là điều kiện
hủy bỏ mà các bên đã “thỏa thuận” hoặc “pháp luật có quy định” Trong tình huống này,
không có sự thể hiện việc các bên có thỏa thuận về việc hủy bỏ hợp đồng khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Mặt khác, pháp luật dân sự hiện hành không có bất cứ quy định nào về trường hợp bên chuyển quyền sử dụng đất được hủy bỏ hợp đồng khi bên nhận
chuyển nhượng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán Cụ thể, Điều 700 BLDS 2005 quy