Theo đó, không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc vớibên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp phá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
MÔN HỌC NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ
THỪA KẾ BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ĐẶNG LÊ PHƯƠNG UYÊN
DANH SÁCH NHÓM 3
Trang 2MỤC LỤC
I) Nghiên cứu Quyết định số 09/2022/KDTM-GĐT ngày 24/8/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 44/2018/KDTM-GĐT ngày 10/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; 1
1) Căn cứ xác lập đại diện: 1
* Tóm tắt Quyết định số 09/2022/KDTM-GĐT ngày 24/8/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 1 1.1 Điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (so với Bộ luật Dân sự năm 2005) về người đại diện 1 1.2 Trong Quyết định số 09, việc ông H1 đại diện cho Ngân hàng là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 3
2) Hoàn cảnh của người được đại diện: 4
2.1 Cho biết kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài trong việc xử lý trường hợp đại diện không hợp lệ, nhất là việc khai thác lý thuyết “đại diện bề
ngoài/apparent agent”? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 4 2.2 Trong Quyết định số 09, Hội đồng thẩm phán theo hướng Ngân hàng phải chịu trách nhiệm đối với bảo lãnh do ông H1 đại diện xác lập Trên cơ sở các quy định về đại diện hiện nay, anh/chị cho biết hướng như vừa nêu của Hội đồng thẩm phán có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 4
3) Hoàn cảnh của người đại diện: 4
3.1 Theo pháp luật hiện hành, người đại diện có phải chịu trách nhiệm đối với giao dịch do mình xác lập với tư cách là người đại diện không? Vì sao? 5 3.2 Cho biết kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với vấn đề pháp lý trong câu hỏi nêu trên? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 6 3.3 Trong Quyết định số 09, theo Hội đồng thẩm phán, có cần thiết đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 6 3.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị đối với hướng giải quyết nêu trên của Hội đồng thẩm phán (về vai trò của người đại diện) 7
4) Quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện: 7
Tóm tắt Quyết định số 44: 7
4.1 Trong pháp luật nước ngoài, người được đại diện có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện không? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 8 4.2 Trong pháp luật hiện hành, người được đại diện có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện không? Vì sao? 9
Trang 34.3 Trong Quyết định số 44, theo Tòa giám đốc thẩm, người ủy quyền có được
tự xác lập giao dịch đã ủy quyền cho người khác không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 9 4.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về khả năng người được đại diện tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện (phân tích đối với đại diện theo pháp luật và đối với đại diện theo ủy quyền) 9
II) Nghiên cứu Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân
sự Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 08/2013/DS-GĐT ngày 24/01/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; Bản án số 2493/2009/DS-ST ngày 04/9/2009 của Tòa án nhân dân Tp Hồ Chí Minh; Quyết định số 26/2013/DS- GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 533/2021/QĐ-PQTT ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh 9
377 cho câu trả lời? 11 1.5 Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao? 12 1.6 Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể lập di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lí khi trả lời 12
2) Diện thừa kế: 12
*Tóm tắt Quyết định số 08/2013/DS - GĐT ngày 24/01/2013 về V/v Đòi tài sản bị chiếm giữ 12 2.1 Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu không? Vì sao? 13 2.2 Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao? 13 2.3 Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao? 14
Trang 42.4 Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại ? Nêu cơ sở khi trả lời 14 2.5 Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ở thời điểm nào người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp? Vì sao? 14
3) Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc: 15
3.1 Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê? 15 3.2 Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao? 15 3.3 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 15 3.4 Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Vì sao?
16
3.5 Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 triệu đồng thì bà Thẩm sẽ được hưởng khoản tiền là bao nhiêu? Vì sao? 16 3.6 Nếu bà Thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm có được chấp nhận không? Vì sao? 16
*Tóm tắt bản án số 2493/2009/DS-ST: 17
3.7 Trong Bản án số 2493 (sau đây viết gọn là Bản án), đoạn nào của bản án cho thấy bà Khót, ông Tâm và ông Nhật là con của cụ Khánh? 17 3.8 Ai được cụ Khánh di chúc cho hưởng toàn bộ tài sản có tranh chấp? 17 3.9 Tại thời điểm cụ Khánh chết, bà Khót và ông Tâm có là con đã thành niên của cụ Khánh không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 17 3.10 Bà Khót và ông Tâm có được Tòa án chấp nhận cho hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 18 3.11 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án 18 3.12 Hướng giải quyết có khác không khi ông Tâm bị tai nạn mất 85% sức lao động? Vì sao? 18 3.13 Nêu những điểm giống và khác nhau giữa di chúc và tặng cho tài sản 19 3.14 Nếu ông Lưu không định đoạt tài sản của ông cho bà Xê bằng di chúc mà trước khi chết, ông Lưu làm hợp đồng tặng cho bà Xê toàn bộ tài sản của ông Lưu thì bà Thẩm có được hưởng một phần di sản của ông Lưu như trên không?
21
3.15 Đối với hoàn cảnh như câu trên, pháp luật nước ngoài điều chỉnh như thế nào? 21
Trang 53.16 Suy nghĩ của/anh chị về khả năng mở rộng chế định đang nghiên cứu cho cả hợp đồng tặng cho 21
4) Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản: 22
4.1 Theo Bộ luật Dân sự, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 22 4.2 Theo Bộ luật Dân sự, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 23 4.3 Ông Lưu có nghĩa vụ nuôi dưỡng chị Hương từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành không? 23 4.4 Đoạn nào của Quyết định cho thấy bà Thẩm tự nuôi dưỡng chị Hương từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành? 24 4.5 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, nếu bà Thẩm yêu cầu thì có phải trích cho bà Thẩm từ di sản của ông Lưu một khoản tiền để bù đắp công sức nuôi dưỡng con chung không? 24 4.6 Trên cơ sở các quy định về nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản,
anh/chị hãy giải thích giải pháp trên của Tòa án 24
Tóm tắt Quyết định 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Tòa án nhân dân tối cao 25
4.7 Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá cố khi họ còn sống? 26 4.8 Trong Quyết định trên, theo Tòa giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào? 26 4.9 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ tài sản của người quá cố) 26
TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH SỐ 533/2021/QĐ-PQTT NGÀY 20/4/2021 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH V/v “Yêu cầu hủy phán quyết trọngtài”: 27
4.10 Trong vụ việc liên quan đến ông Định (chết năm 2015), nghĩa vụ nào của ông Định được Tòa án xác định chuyển sang cho những người thừa kế của ông Định (ông Lĩnh và bà Thành)? 28 4.11 Đoạn nào của Quyết định (năm 2021) cho thấy Tòa án buộc những người thừa kế (của ông Định) thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không lệ thuộc vào việc những người thừa kế đã thực hiện thủ tục khai nhận di sản hay chưa? Hướng như vậy của Tòa án có thuyết phục không, vì sao? 28 4.12 Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản có lệ thuộc vào thời điểm nghĩa vụ đã đến hạn thực hiện không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 29
Trang 64.13 Ở thời điểm ông Định chết (năm 2015), nghĩa vụ của ông Định đã đến hạn thực hiện chưa? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 29 4.14 Vì sao Tòa án xác định thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản của người quá cố vẫn còn mặc dù ông Định chết năm 2015 và việc khởi kiện chỉ được tiến hành năm 2019? Hướng của Tòa án như vậy có thuyết phục không, vì sao? 29 4.15 Có hệ thống pháp luật nước ngoài nào có quy định riêng về thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản như pháp luật Việt Nam hiện nay không? 30 4.16 Thông qua Quyết định năm 2021, suy nghĩ của anh/chị về tính thuyết phục của quy định về thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản (có nên giữ lại hay không?) 30
III) Nghiên cứu Quyết định số 619/2011/DS-GĐT ngày 18/08/2011, Quyết định
số 767/2011/DS-GĐT ngày 17/10/2011; Quyết định số 194/2012/DS-GĐT ngày 23/04/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số
363/2013/DS-GĐT ngày 28/08/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao;.31
Tóm tắt Quyết định số 619/2011/DS-GĐT ngày 18/08/2011: 31Tóm tắt Quyết định số 767/2011/DS-GĐT ngày 17/10/2011 31Tóm tắt Quyết định số 194/2012/DS-GĐT ngày 23/04/2012 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao 32Tóm tắt Quyết định số 363/2013/DS-GĐT ngày 28/08/2013 của Tòa dân sự Tòa
án nhân dân tối cao: 32
1.1 Cho biết thực trạng văn bản pháp luật liên quan đến thay đổi, hủy bỏ di chúc (về thời điểm, cách thức và hình thức thay đổi, hủy bỏ) 33 1.2 Trong thực tiễn xét xử, việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể ngầm định (tức người lập di chúc không cần nói rõ là họ thay đổi hay hủy bỏ di chúc) không? Vì sao? 34 1.3 Trong thực tiễn xét xử, việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc có phải tuân thủ hình thức của di chúc bị thay đổi hay hủy bỏ không? Vì sao? 34 1.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án trong 03 quyết định trên (3 quyết định đầu) liên quan đến thay đổi, hủy bỏ di chúc 34 1.5 Đoạn nào cho thấy, trong Quyết định số 363, Tòa án xác định di chúc là có điều kiện? Cho biết điều kiện của di chúc này là gì? 35 1.6 Cho biết thực trạng văn bản quy phạm pháp luật về di chúc có điều kiện ở Việt Nam? 35 1.7 Cho biết hệ quả pháp lý khi điều kiện đối với di chúc không được đáp ứng.
36
Trang 71.8 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về di chúc có điều kiện ở Việt Nam (có nên luật hóa trong Bộ luật Dân sự không? Nếu luật hóa thì cần luật hóa những nội dung nào?) 36
IV) Nghiên cứu Án lệ số 24/2018/AL về di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân; 36
1.1 Trong Án lệ số 24/2018/AL, nội dung nào cho thấy đã có thỏa thuận phân chia di sản? 37 1.2 Trong Án lệ số 24/2018/AL, nội dung nào cho thấy thỏa thuận phân chia di sản đã được Tòa án chấp nhận? 37 1.3 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án chấp nhận thỏa thuận phân chia di sản trên? Anh/chị trả lời câu hỏi này trong mối quan hệ với yêu cầu về hình thức và về nội dung đối với thỏa thuận phân chia di sản 38 1.4 Sự khác nhau cơ bản giữa tranh chấp di sản và tranh chấp tài sản 38 1.5 Trong Án lệ số 24/2018/AL, tranh chấp về tài sản đã được chia theo thỏa thuận trên là tranh chấp về di sản hay tranh chấp về tài sản? 38 1.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Án lệ số 24/2018/AL 38
V) Nghiên cứu Án lệ số 05/2016/AL của Tòa án nhân dân tối cao; 39
Tóm tắt Án lệ số 05/2016/AL: 39
1.1 Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án xác định ông Trải được hưởng 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng có thuyết phục không? Vì sao? 39 1.2 Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án xác định phần tài sản ông Trải được hưởng của cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư có thuyết phục không? Vì sao? 40 1.3 Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án theo hướng chị Phượng được hưởng công sức quản lý di sản có thuyết phục không? Vì sao? 40
Trang 8I) Nghiên cứu Quyết định số 09/2022/KDTM-GĐT ngày 24/8/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 44/2018/KDTM-GĐT ngày 10/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
1) Căn cứ xác lập đại diện:
* Tóm tắt Quyết định số 09/2022/KDTM-GĐT ngày 24/8/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị T.
- Bị đơn: Ngân hàng A – Chi nhánh T.H.
- Nội dung:
Ngày 21/7/2011, Giám đốc Ngân hàng A – Chi nhánh T.H là ông H1 đã cungcấp 01 bản thanh toán để hoàn trả tiền vay với tiền lãi cho người thụ hưởng là bàĐinh Thị T với số tiền 7.483.000.000 đồng để bảo lãnh cho Công ty M.N thực hiệnđầy đủ nghĩa vụ hoàn trả tiền vay và tiền lãi theo Hợp đồng vay tiền số 02/07-2011/HĐTV Ngày 26/7/2011, Công ty M.N đã xác nhận nhận đủ số tiền vay,nhưng lại không thanh toán đúng hạn số tiền vay đã được nêu trên cho bà T; Ngânhàng A cũng không đồng ý thanh toán tiền vay và tiền lãi theo Thư bảo lãnh nên bà
T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Ngân hàng A phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.Ngân hàng A không đồng ý với yêu cầu khởi kiện vì cho rằng Thư bảo lãnh vô hiệu,tức là ông H1 không có quyền đại diện để ký phát hành bảo lãnh vay vốn Tòa áncấp giám đốc thẩm nhận định bà T không buộc phải biết việc ông H1 ký Thư bảolãnh có thuộc phạm vi ủy quyền hay không nên trong trường hợp này, ông H1 viphạm thì đây là trách nhiệm cá nhân của ông H1 với Ngân hàng A Do đó, Ngânhàng A buộc phải có trách nhiệm thực hiện cam kết trong Thư bảo lãnh đối với bà
T Hội đồng thẩm phán nhận định ông H1 chỉ là người đại diện của Ngân hàng Anên việc cần thiết đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không phù hợp với các quy định của pháp luật
1.1 Điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (so với Bộ luật Dân sự năm 2005)
về người đại diện
Thứ nhất, pháp nhân có thể là người đại diện Theo Điều 139 Bộ luật Dân
sự 2005 thì người đại diện chỉ có thể là cá nhân mà không thể là pháp nhân, theo đó
cá nhân chỉ có thể ủy quyền cho một pháp nhân khác đại diện mình tham gia vào
một quan hệ pháp luật Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015 thì
pháp nhân hoàn toàn có thể đại diện cho cá nhân, pháp nhân khác Đây là một điểm
mới của Bộ luật Dân sự 2015.
Trang 9Thứ hai, cá nhân, pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật.
Hướng đại diện được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 là việc của “một” người, cụ thể là tại Điều 139 Theo đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có sự thay đổi
khi quy định rằng “một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc
pháp nhân khác nhau” tại khoản 3 Điều 141 Theo đó, không được nhân danh
người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc vớibên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác
Thứ ba, về năng lực của người đại diện Tại khoản 5 Điều 139 Bộ luật Dân
sự 2005, yêu cầu người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 Vì còn tồn tại nhược điểm nên tại khoản 3 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định người đại diện phải có năng lực pháp
luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập,thực hiện Quy định trên còn có điểm mới nữa là chỉ yêu cầu năng lực pháp luật dân
sự và năng lực hành vi dân sự của người đại diện “trong trường hợp pháp luật quy định” Điều đó cũng có nghĩa là nếu không thuộc “trường hợp pháp luật quy định”
thì vấn đề năng lực pháp luật dân sự cũng như năng lực hành vi dân sự không đượcđặt ra.1
Thứ tư, quy định về đại diện theo ủy quyền đã có những thay đổi về chủ thể.Theo đó người đại diện và cả người được đại diện đều là các cá nhân và pháp nhân
Tuy nhiên, điểm mới thật sự của Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015 chính là nội dung
liên quan đến hộ gia đình và tổ hợp tác Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chứckhác không có tư cách pháp nhân thì thành viên của họ có thể thỏa thuận cử cánhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sựliên quan đến tài sản chung.2
Thứ năm, Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung quy định về thời hạn đại diện mà Bộ
luật Dân sự 2005 không quy định Đồng thời, Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ
thể hơn về hậu quả pháp lý của hành vi đại diện Mặt khác, bổ sung thêm một sốtrường hợp đại diện theo ủy quyền chấm dứt Quy định cụ thể chi tiết căn cứ xáclập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện
Thứ sáu, bổ sung quy định về hậu quả của giao dịch dân sự do người có quyền đại diện thực hiện Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự do người không có
quyền đại diện xác lập, thực hiện tại Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015 đã có sự khác biệt so với Điều 145 Bộ luật Dân sự 2005 Cụ thể, Bộ luật Dân sự 2015 đã sửa từ
1 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia
Việt Nam, tr.205.
2 Đỗ Văn Đại, sđđ, tr.208.
Trang 10“đồng ý” thành cụm từ “công nhận giao dịch” và đã bổ sung điều khoản loại trừ
được quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 142 Đồng thời, bổ sung thêm một
trường hợp là người đã giao dịch với người không có quyền đại diện không đượcquyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và
yêu cầu bồi thường thiệt hại Việc bổ sung này nhằm tránh trường hợp lợi dụng quy định về đại diện để người thứ ba “bội ước”.3 Bộ luật Dân sự 2015 cũng đã bổ sungquy định tại khoản 4 nhằm hạn chế gian lận thông qua cơ chế đại diện
Thứ bảy, bổ sung quy định về hậu quả của giao dịch dân sự do người đại
diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Dân
sự 2015 đã bổ sung thêm trường hợp “người được đại diện có lỗi dẫn đến việc
người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự với mình vượt quá phạm vi đại diện” trong khi khoản 1 Điều
146 Bộ luật Dân sự 2005 chỉ quy định hai trường hợp ngoại lệ đã công nhận nhằm
vượt quá phạm vi đại diện Hướng bổ sung trong trường hợp vượt quá phạm vi đạidiện cũng giống nhau đối với trường hợp không có quyền đại diện
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khẳng định cách tiếp cận mới của mình theohướng nhất quán khi nhìn nhận về chủ thể trong giao dịch dân sự, đó là cá nhânhoặc pháp nhân Bên cạnh người đại diện là cá nhân theo cách hiểu truyền thống,pháp nhân cũng có thể trở thành “người đại diện” cho cá nhân hoặc pháp nhân kháctrong các giao dịch dân sự Điều này hoàn toàn phù hợp về mặt lý luận cũng nhưthông lệ trên thế giới, bởi lẽ pháp nhân cũng là “con người”, chỉ khác con ngườisinh học ở chỗ “con người” này được tạo ra theo con đường pháp lý và hoàn toàn cókhả năng thực hiện quyền đại diện cho một người nào đó trong việc xác lập, thựchiện giao dịch dân sự Thể hiện sự nhất quán của các nhà lập pháp, nhằm mục đíchđảm bảo hoạt động xuyên suốt, không bị gián đoạn của doanh nghiệp, mà rộng hơn
là pháp nhân
1.2 Trong Quyết định số 09, việc ông H1 đại diện cho Ngân hàng là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Ông H1 đại diện cho Ngân hàng A – Chi nhánh T.H là đại diện theo ủy
quyền Căn cứ vào những quy định sau trong Bộ luật Dân sự 2015:
+ Khoản 5 Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định: “Người đứng đầu chi
nhánh, văn phòng đại diện thực hiện nhiệm vụ theo uỷ quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được uỷ quyền”.
+ Khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng:
3 Đỗ Văn Đại, sđđ, tr.216.
Trang 11“1 Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm:
a) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;
b) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;
c) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án”.
Như vậy, ông H1 với chức danh là Giám đốc Ngân hàng A – Chi nhánh T.H
là đại diện theo pháp luật của Ngân hàng A, thực hiện nhiệm vụ theo sự ủy quyềncủa pháp nhân trong phạm vi và thời hạn đã được ủy quyền
2) Hoàn cảnh của người được đại diện:
2.1 Cho biết kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài trong việc xử lý trường hợp đại diện không hợp lệ, nhất là việc khai thác lý thuyết “đại diện bề ngoài/apparent agent”? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết
Các nước theo hệ thống thông luật (Common Law) thường có những quyđịnh về apparent authority cởi mở hơn nhằm tăng cường bảo vệ bên thứ ba ngaytình trong giao dịch với công ty, đồng thời tạo ra sức ép để các công ty hoàn thiện
cơ chế quản lý nội bộ
Theo Luật Công ty Úc năm 2001, thì người thứ ba ngay tình có quyền suy
đoán (statutory assumptions) về “thẩm quyền đương nhiên” (apparent authority)hoặc thẩm quyền mặc định (implied actual authority) của một đại diện công ty khithực hiện các giao dịch với người đại diện Nghĩa là về nguyên tắc, hợp đồng dongười đại diện ký kết vượt quá phạm vi thẩm quyền đại điện (defective contracts)thì vẫn được xem là có hiệu lực, trừ khi công ty (người được đại diện) có thể chứngminh rằng người thứ ba không ngay tình Và câu chuyện vượt quá thẩm quyền đạidiện chỉ là câu chuyện của hai bên là bên đại diện và bên được đại diện - chứ khôngphải là gánh nặng của bên thứ ba - người có giao dịch với công ty thông qua người
đại diện Nước Úc đã đưa những quy định này vào trong Luật Công ty Úc tại Điều
128 và 129 Luật Công ty 2001 và được gọi là statutory assumption.
2.2 Trong Quyết định số 09, Hội đồng thẩm phán theo hướng Ngân hàng phải chịu trách nhiệm đối với bảo lãnh do ông H1 đại diện xác lập Trên cơ sở các quy định về đại diện hiện nay, anh/chị cho biết hướng như vừa nêu của Hội đồng thẩm phán có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Theo quan điểm của nhóm, việc Hội đồng thẩm phán theo hướng Ngân hàng
A phải chịu trách nhiệm đối với việc bảo lãnh do ông H1 đại diện xác lập là thuyết
phục Căn cứ vào khoản 1 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015, có quy định về Trách
nhiệm dân sự của pháp nhân như sau: “Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.” Do đó, hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán hoàn toàn
Trang 12thuyết phục Trong trường hợp này, ông H1 là Giám đốc Ngân hàng A – Chi nhánhT.H nên ông là người đại diện đương nhiên theo pháp luật của ngân hàng.
3) Hoàn cảnh của người đại diện:
3.1 Theo pháp luật hiện hành, người đại diện có phải chịu trách nhiệm đối với giao dịch do mình xác lập với tư cách là người đại diện không? Vì sao?
Người chịu trách nhiệm của người đại diện đối với giao dịch do mình xác lậpvới tư cách người đại diện thì sẽ phụ thuộc vào trường hợp người được đại diện cócho phép hay đồng ý thực hiện hay không
- Theo Điều 139 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
“Điều 139 Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện
1 Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.
2 Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện.
3 Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối.”
Theo Điều 139 Bộ luật Dân sự 2015 thì người đại diện khi xác lập, thực hiện
giao dịch với tư cách người đại diện thì phải phù hợp với phạm vi đại diện (quy
định tại Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015) Bên cạnh đó, trường hợp người đại diện
thực hiện giao dịch nhắm tới mục đích có lợi cho người được đại diện thì đượcphép Trường hợp người đại diện thực hiện giao dịch bị cưỡng ép thì giao dịch đó sẽ
bị coi là vô hiệu và không phát sinh quyền hay nghĩa vụ nào cho người đại diện vàđược đại diện
- “Điều 141 Phạm vi đại diện
1 Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây:
a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Điều lệ của pháp nhân;
c) Nội dung ủy quyền;
d) Quy định khác của pháp luật.”
Trang 13Điều luật này xác định phạm vi của người đại diện, nghĩa là người đại diệnkhông được thực hiện hành vi vượt quá phạm vi này Trong trường hợp phát sinhgiao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện sẽ
dẫn đến khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015.
- “Điều 143 Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện
2 Trường hợp giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.
3 Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
4 Trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.”
Theo khoản 2, khoản 3 và khoản 4 thì trong trường hợp người đại diện cố ý
xác lập giao dịch dân sự vượt quá phạm vi mà người đại diện không biết hoặc
không thể biết, được quy định tại Điều 141, thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại cho người được đại diện hoặc người thứ 3 (trong trường hợp người thứ 3 khôngbiết) Như vậy người trách nhiệm của người đại diện đối với giao dịch do mình xáclập với tư cách người đại diện thì sẽ phụ thuộc vào trường hợp người được đại diện
có cho phép hay đồng ý thực hiện hay không
3.2 Cho biết kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với vấn đề pháp lý trong câu hỏi nêu trên? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết.
Đối với vấn đề pháp lý trong câu hỏi nêu trên, Điều 1154 Bộ luật Dân sự
Pháp 2018 có quy định: “Trong trường hợp người đại diện tuyên bố hành động vì
lợi ích của người khác nhưng giao kết nhân danh chính mình thì chỉ người đại diện chịu trách nhiệm đối với bên ký kết kia” Điều này đã thể hiện người đại diện phải
chịu trách nhiệm đối với giao dịch mà mình xác lập
Trang 143.3 Trong Quyết định số 09, theo Hội đồng thẩm phán, có cần thiết đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo Hội đồng thẩm phán, việc đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách
là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án với lý do ông H1 ký Thư bảolãnh của ngân hàng A theo tư cách là người đại diện của Ngân hàng A là không phùhợp với các quy định của pháp luật
Trong Quyết định số 09, tại phần Nhận định của Tòa án có ghi như sau: “Thư
bảo lãnh do ông H ký với tư cách là Giám đốc Ngân hàng A - Chi nhánh T.H, có đóng dấu của Ngân hàng A – Chi nhánh T.H nên Thư bảo lãnh là văn bản do Ngân hàng A phát hành, trong đó ông H1 chỉ ký với tư cách là người đại diện của Ngân hàng A Do đó, Tòa án cấp giám đốc thẩm nhận định việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà T có liên quan đến trách nhiệm của ông H1 trong việc ký Thư bảo lãnh nên cần thiết đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không phù hợp với các quy định của pháp luật.”
3.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị đối với hướng giải quyết nêu trên của Hội đồng thẩm phán (về vai trò của người đại diện)
Theo quan điểm của nhóm, căn cứ tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Dân sự
2015, quy định về Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện như sau:
“1 Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện đồng ý;
b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý; c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình vượt quá phạm vi đại diện.”
Như vậy, theo điểm c khoản 1 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015, ông H1 là
người đại diện theo pháp luật, đã thực hiện việc ký Thư bảo lãnh là văn bản doNgân hàng A phát hành nên Ngân hàng A buộc phải biết và phải chịu trách nhiệmvới tư cách pháp nhân Do đó, theo Hội đồng thẩm phán, việc đưa ông H1 vào thamgia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là
Trang 15không cần thiết, là hướng giải quyết đúng đắn, hợp lý bảo vệ được ông H1 (ngườiđại diện theo pháp luật).
4) Quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện:
Nội dung: Công ty N vay Ngân hàng K 2.000.000.000 đồng (2 tỷ đồng) với
tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 85 do bà Nguyễn Thị T đứng tên vàquyền sử dụng thửa đất số 313 do bà Phạm Thị D đứng tên Ngày 14/9/2010, Ngânhàng K giao số tiền 2 tỷ đồng cho Công ty N Sau đó Công ty N vi phạm nghĩa vụthanh toán nên Ngân hàng K nhiều lần yêu cầu thanh toán nợ nhưng Công ty Nkhông thực hiện Nay Công ty N phải thanh toán số tiền gốc là 2.000.000.000 đồng
và tiền lãi gồm lãi suất quá hạn và lãi phạt tổng tính tới hết ngày 27/9/2016 là2.890.456.069 đồng; nếu Công ty N không có tài sản thanh toán thì yêu cầu các tàisản thế chấp dùng để bảo đảm thanh toán số tiền cho Ngân hàng K Với thửa đất số
85 do bà T đứng tên được mang đi thế chấp thì bị bà H, D1, N1, H1 vợ chồng ôngT2, H2 phản đối và yêu cầu Tòa hủy hợp đồng thế chấp đất do thửa đất đó là cha họ
là ông T1 để lại (ông T1 chết ngày 12/05/1990)
Quyết định sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng K buộc Công ty Nphải thanh toán số tiền vốn lẫn số tiền lãi tới hết ngày 27/9/2016 là 2.270.757.010đồng Kể từ ngày 28/9/2016 Công ty N vẫn không hoàn thành thanh toán thì sẽ tiếptục tính lãi theo mức lãi kí kết trên hợp đồng Cho phép Ngân hàng K được quyền
sử dụng thửa đất 313 Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà H và tuyên bố hợp đồngthế chấp thửa đất 85 vô hiệu Ngày 10/10/2017, Ngân hàng K đề nghị kháng nghịgiám đốc thẩm với lí do yêu cầu xác định hợp đồng thế chấp bảo lãnh đất của bà T
là hợp pháp Ngày 4/6/2018 chấp nhận Quyết định kháng nghị của Giám đốc thẩm
số 72/2018/KN-KDTM Giao hồ sơ vụ án nêu trên cho Tòa án nhân dân huyệnTrảng Bom, tỉnh Đồng Nai giải quyết sơ thẩm lại theo quy định pháp luật
4.1 Trong pháp luật nước ngoài, người được đại diện có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện không? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết
Trang 16- Đối với đại diện theo pháp luật: Điều 1159 Bộ luật Dân sự Pháp quy định:
“Trong trường hợp thẩm quyền đại diện được xác lập theo luật hoặc theo quyết định của tòa án thì trong thời hạn đại diện, người được đại diện không có các quyền hạn đã được trao cho người đại diện”.
- Đối với đại diện theo ủy quyền: khoản 2 Điều 1159 Bộ luật Dân sự Pháp
quy định liên quan đến đại diện theo thỏa thuận như sau: “trong trường hợp đại diện theo thỏa thuận, người được đại diện vẫn được thực hiện các quyền của mình” 4
4.2 Trong pháp luật hiện hành, người được đại diện có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện không? Vì sao?
- Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân
có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”
và người đại diện “được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại
diện” (Khoản 1 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015).
- Trong trường hợp đại diện, người được đại diện có còn quyền tự xác lập,thực hiện giao dịch hay không thì văn bản ở nước ta chưa quy định rõ ràng và thựctiễn thể hiện sự lúng túng
4.3 Trong Quyết định số 44, theo Tòa giám đốc thẩm, người ủy quyền có được tự xác lập giao dịch đã ủy quyền cho người khác không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
- Theo Tòa giám đốc thẩm, người ủy quyền được tự xác lập giao dịch đã ủy
quyền cho người khác Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “… Do cụ Nguyễn Thị
T là chủ sở hữu nhà đất nêu trên nên dù cụ T có ủy quyền cho ông T2 thì cũng không làm hạn chế hoặc làm mất đi quyền về tài sản theo quy định của pháp luật của cụ T …”.
Trong Quyết định 44, bà T là chủ sở hữu nhà đất ủy quyền cho ông T2 toàn
quyền sử dụng đất trong thời hạn 5 năm Nhưng vốn dĩ cụ T vẫn là chủ quyền sởhữu đất nên có quyền tự xác lập một giao dịch chứ không hề bị hạn chế dù đã choông T2 toàn quyền sử dụng đất
4.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về khả năng người được đại diện tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện (phân tích đối với đại diện theo pháp luật và đối với đại diện theo ủy quyền)
4 Đỗ Văn Đại, “Quyền của người được đại diện trong việc xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi của người đại diện”, http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/211606/Quyen-cua-nguoi-duoc-dai-dien-trong-viec- xac-lap thuc-hien-giao-dich-thuoc-pham-vi-cua-nguoi-dai-dien.html#:~:text=Do
%20%C4%91%C3%B3%2C%20vi%E1%BB%87c%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di
%20%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c,di%E1%BB%87n%20c%E1%BB%A7a%20ng%C6%B0%E1%BB
Trang 17- Đối với đại diện theo pháp luật: Người được đại diện theo pháp luật thì
thường họ sẽ là trẻ chưa thành niên, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủhành vi hay người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên trong trường hợp này thìngười được đại diện không thể tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đạidiện của người đại diện được nữa
- Đối với đại diện theo ủy quyền: Người được đại diện theo ủy quyền vẫn có
thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện
nhưng vẫn sẽ bị hạn chế theo quy định của pháp luật được quy định tại Điều 141 Phạm vi đại diện Bộ luật Dân sự 2015:
“1 Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm
vi đại diện theo căn cứ sau đây:
a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Điều lệ của pháp nhân;
c) Nội dung ủy quyền;
d) Quy định khác của pháp luật.
2 Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
3 Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4 Người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện
của mình”.
II) Nghiên cứu Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 08/2013/DS-GĐT ngày 24/01/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; Bản án số 2493/2009/DS-ST ngày 04/9/2009 của Tòa án nhân dân Tp Hồ Chí Minh; Quyết định số 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 533/2021/QĐ-PQTT ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh.
Trang 181) Hình thức sở hữu tài sản:
*Tóm tắt Quyết định số 377/2008/DS-GĐT:
Nguyên đơn: bà Cao Thị Xê
Bị đơn: chị Võ Thị Thu Hương, anh Nguyễn Quốc Chính
Bà Xê kết hôn với ông Võ Văn Lưu năm 1996, có làm thủ tục đăng ký kếthôn và không có con chung, nhưng trước đó ông Lưu đã kết hôn với bà Thẩm năm
1964 Trước khi chết, ông Lưu di chúc để lại toàn bộ di sản cho bà Xê Bản án dân
sự sơ thẩm số 59/2005/DSST đã chấp nhận yêu cầu kiện chị Hương và anh Chính(con của bà Thẩm), cho bà được hưởng toàn bộ di sản do ông Lưu để lại di chúc.Thế nhưng, tại Quyết định số 208/2008/KN_DS, Tòa nhận định di chúc của ôngkhông đảm bảo quyền lợi của bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu Hôn nhân giữaông Lưu và bà Xê là trái với quy định của pháp luật Bà Thẩm không được hưởng2/3 phần thừa kế theo quy định của pháp luật là không đúng Hội đồng Giám đốcthẩm quyết định hủy bỏ bản án dân sự phúc thẩm và sơ thẩm, giao lại hồ sơ vụ ángiải quyết theo đúng quy định
1.1 Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005
về hình thức sở hữu tài sản.
Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận trong quan hệ dân sự có 3 hình thức sở hữu bao gồm: sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và sở hữu chung (bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 sử dụng thống nhất cụm từ “thuộc về Nhà nước”).
Tuy nhiên, một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành được ban hành trên
cơ sở quy định có tính nguyên tắc của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm
2005 nên chưa bảo đảm phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 Ví dụ:
- Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 và Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm
2014 tiếp cận theo hướng về cơ bản đồng nhất tài sản thuộc sở hữu toàn dân là tài
sản của nhà nước;
- Nghị định số 29/2014/NĐ-CP ngày 10/4/2014 của Chính phủ quy định về
thẩm quyền, thủ tục xác lập quyền sở hữu của nhà nước về tài sản và quản lý, xử lý
tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước quy định "được xác lập quyền sở hữu nhà nước" 5
5 “NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA Bộ luật Dân sự NĂM 2015 VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN”
https://moj.gov.vn/tctccl/tintuc/Lists/CacTaiLieuThamKhao/Attachments/34/2.3%20Nhung%20diem
Trang 191.2 Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?
Căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập trong thời kì hônnhân với bà Thẩm
Đoạn ở Quyết định số 377 cho câu trả lời là:
“Căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác và được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu có quyền định đoạt đối với căn nhà nêu trên”.
Căn nhà này được ông lưu xây dựng khi ông đã vào nam công tác, khôngcùng chung sống với bà thẩm nhưng vẫn trong thời kì hôn nhân
1.3 Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào ở Quyết định 377 cho câu trả lời?
Theo bà Thẩm căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà
Điều đó thể hiện ở đoạn: “Còn bà Thẩm cho căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích 101m 2 là tài sản chung của vợ chồng bà nên không nhất trí theo yêu cầu của bà Xê”.
Bà Thẩm cho rằng căn nhà trên thuộc sở hữu chung bởi lẽ bà cho rằng trongthời gian ông Lưu có căn nhà, ông và bà vẫn là vợ chồng hợp pháp nên tài sản đóthuộc sở hữu chung của hai vợ chồng, nhưng thực chất đây là căn nhà thuộc tài sảnriêng của ông Lưu vì không có đóng góp nào của bà Thẩm
1.4 Theo Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào ở Quyết định
377 cho câu trả lời?
Theo Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu riêng của ông Lưu
Đoạn ở Quyết định 377 cho câu trả lời là:
“Căn nhà số 150/60A Lý Thường Kiệt, phường 6 thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác và được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông, bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà nên ông Lưu có quyền định đoạt với căn nhà trên”.
Trang 201.5 Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?
Quyết định trên của Tòa án là hoàn toàn hợp lí, bởi lẽ:
Theo khoản 4 Điều 219 Bộ luật Dân sự 2005:
“Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.
Mặc dù tại thời điểm này ông Lưu và bà Thẩm vẫn còn là vợ chồng nhưngông Lưu đã không còn sống chung với và Thẩm, ông đã vào miền Nam và tự mìnhxây dựng và mua căn nhà mà không có bất kì sự đóng góp nào với ông nên căn nhàthuộc sở hữu riêng của ông là đúng đắn
Sở hữu của vợ chồng trong hôn nhân là sở hữu chung, nhưng sở hữu chungchỉ xảy ra khi có sự đóng góp của cả hai về vật chất hoặc tinh thần, là việc cả haicùng làm và cùng hưởng lợi
1.6 Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu
có thể lập di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lí khi trả lời.
Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu khôngthể lập di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 219 Bộ luật Dân sự 2005.
“Vợ chồng cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.
Đã là tài sản chung trong hôn nhân thì việc sử dụng hay định đoạt phải do cảhai thỏa thuận và đưa ra quyết định, vì tài sản chung là tài sản của vợ chồng cùngtạo lập nên cá nhân ông Lưu không có quyền quyết định hoàn toàn trong việc địnhđoạt căn nhà đó mà cần có thêm ý kiến của bà Thẩm nếu căn nhà đó thuộc sở hữuchung của hai người
Trang 21Huệ) Năm 2008, ông Hà chết không để lại di chúc, đến tháng 03/2011 bà Ơn (vợông Hà) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Bà Chắc là con nuôi của bà Thiệu (mẹ ruột ông Huệ), lúc ông Huệ còn sống
có cho bà Chắc ở nhờ Sau khi ông Hà chết, bà Chắc cho ba người cháu Nhơn,Nguyệt, Quốc ở chung nhà chưa có sự đồng ý của bà Ơn Vì vậy bà Ơn yêu cầu bàChắc, Nhơn, Nguyệt, Quốc dọn đi nơi khác Trong quá trình sử dụng nhà ở, đất ở,
bà Chắc có công đứng ra xin lại nhà đất cho cụ Huệ và gìn giữ bảo quản, trồng câylâu năm,
Tòa án quyết định hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm và Bản án dân sự sơthẩm vì còn nhiều sai sót chưa đảm bảo được quyền lợi cho các đương sự Ngoài ra,quan hệ pháp luật của vụ án là “Đòi nhà bị chiếm dụng” là không đúng, mà phải xácđịnh là “Đòi nhà cho ở nhờ” mới đúng
2.1 Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu không? Vì sao?
- Theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015:
“Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”
- Bà Thẩm và ông Lưu kết hôn năm 1964 và có con chung là chị Hương, vìvậy bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu nên bà Thẩm và chị Hương thuộc hàngthừa kế thứ nhất của ông Lưu Năm 1996, ông Lưu kết hôn với bà Xê nhưng chưa lyhôn với bà Thẩm nên hôn nhân giữa ông Lưu và bà Xê được xem là bất hợp pháp
Vì vậy, bà Xê không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu
2.2 Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao?
- Theo điểm a khoản 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 quy định
về Người thừa kế theo pháp luật như sau:
“a) Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-01-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-
1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ”.
Trang 22- Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu
hỏi trên sẽ khác Vì dựa theo Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990, nếu ông
Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì bà Xê được xem là vợ hợp pháp củaông Lưu, vì vậy bà Xê sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu
2.3 Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu
không? Vì sao?
- Trong vụ việc này chị Hương không được chia di sản của ông Lưu Vì ôngLưu lập di chúc cho bà Xê được thừa kế tài sản nhà, đất và Tòa án đã xác định dichúc của ông Lưu là di chúc hợp pháp Ngoài ra, chị Hương đã là người thành niên
và có khả năng lao động nên không được xét theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015.
2.4 Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại ? Nêu cơ sở khi trả lời.
- Cơ sở pháp lý: Điều 614 Bộ luật Dân sự 2015.
- Cụ thể, Điều 614 về thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa
kế ghi nhận: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
- Vậy, tính từ thời điểm mở thừa kế trở đi thì người thừa kế có quyền sở hữuđối với tài sản là di sản do người quá cố để lại
2.5 Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ở thời điểm nào người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp? Vì sao?
- Theo Điều 614 Bộ luật Dân sự 2015: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những
người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
- Theo khoản 1 Điều 611: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài
sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này”.
- Trong Bản án có đoạn: “ ông Hà chết ngày 12/5/2008 thì bà Lý Thị Ơn là vợ và các con ông Hà được thừa kế nhà đất này đã chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở sang cho bà Lý Thị Ơn;”.
- Vậy ông Hà chết ngày 12/5/2008, nên tại thời điểm này người thừa kế củaông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp
Trang 233) Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:
3.1 Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê?
Đoạn cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản của ông
Lưu cho bà Xê: “Trước khi chết, ông Lưu có để lại di chúc cho bà được quyền sử dụng toàn bộ tài sản gồm nhà cửa, đồ dùng trong gia đình nên bà yêu cầu được hưởng thừa kế theo di chúc của ông Lưu”.
3.2 Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao?
Xét theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015:
- Bà Thẩm thuộc diện hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúcđối với tài sản của ông Lưu vì bà là vợ hợp pháp
- Chị Hương không thuộc diện hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung
di chúc do không có quy định, chị Hương đã thành niên (1965) và không bị mất khảnăng lao động
- Bà Xê cũng không thuộc diện hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nộidung di chúc Vì hôn nhân của bà Xê và ông Lưu trái pháp luật nên không đượcxem là vợ hợp pháp
3.3 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
- Theo Tòa dân sự Toà án nhân dân tối cao, bà Thẩm được hưởng thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu vì bà Thẩm là
vợ hợp pháp của ông Lưu và không còn khả năng lao động được quy định tại Điều
669 Bộ luật Dân sự 2005 và Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 để bảo vệ quyền lợi
của những người thừa kế
- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “Tuy nhiên, bà Thẩm đang là vợ hợp pháp của ông Lưu đã già yếu, không còn khả năng lao động, theo quy định tại Điều
669 Bộ luật Dân sự thì bà Thẩm được thừa kế tài sản của ông Lưu mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc của ông Lưu”.
Trang 243.4 Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu?
Vì sao?
Căn cứ theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:
“1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động”.
- Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì vẫn được hưởng thừa
kế không phụ thuộc vào di chúc đối với di sản của ông Lưu Vì bà Thẩm là vợ hợp
pháp của ông Lưu nên đã thỏa mãn được khoản 1 của Điều luật trên mà không cần
xét đến sức khỏe ốm yếu hay mất khả năng lao động
3.5 Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 triệu đồng thì bà Thẩm sẽ được hưởng khoản tiền là bao nhiêu? Vì sao?
- Giả sử không có di chúc và tiến hành chia thừa kế theo pháp luật thì di sảncủa ông Lưu sẽ được chia cho bà Thẩm và chị Hương (vì đây là vợ và con hợp
pháp) Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, bà Thẩm và chị Hương mỗi người sẽ
nhận được 300 triệu đồng
- Tuy nhiên, ông Lưu có để lại di chúc nên theo Điều 644 Bộ luật Dân sự
2015 bà Thẩm chỉ được hưởng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di
sản của ông Lưu được chia theo pháp luật Tức là, bà Thẩm sẽ được nhận 200 triệuđồng từ di sản của ông Lưu
3.6 Nếu bà Thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của
bà Thẩm có được chấp nhận không? Vì sao?
- Nếu bà Thẩm yêu cầu chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm
vẫn được chấp nhận Vì theo khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia”.