Trả lời: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng: BLDS 2005 có quy định tại khoản 2 Điều 404 với nội dung “hợp đồng dân sự cũng xem như đượ
Trang 1BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI Vấn đề 1: Im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?
Trả lời:
Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng:
BLDS 2005 có quy định tại khoản 2 Điều 404 với nội dung “hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”
Ở đây, BLDS 2005 đã ghi nhận vai trò của im lặng nhưng không nêu trong phần giao kết hợp đồng mà nêu trong phần xác định thời điểm hợp đồng được giao kết
Trong quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, Điều 393 BLDS 2015 có bổ sung thêm quy định mới mà trước đó chưa tồn tại trong BLDS 2005 với nội dung “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên” BLDS 2015 theo hướng thông thường im lặng không là chấp nhận đề nghị giao kết nhưng có ngoại lệ, khi theo thoả thuận hay theo thói quen của các bên, khi đó im lặng vẫn là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Câu 2: Đoạn nào của Quyết định cho thấy anh Đạt đã chuyển nhượng tài sản cho ông Nâu?
Trả lời:
Đoạn của Quyết định cho thấy anh Đạt đã chuyển nhượng tài sản cho ông Nâu là:
“Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì ngày 30-3-2004, anh Nguyễn Phát Đạt lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Nâu (là chú ruột của anh Đạt) 670m 2 đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng số 02164/QSDĐ/B2 ngày 16-4-1995 do Uỷ ban nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cấp đứng tên anh Đạt với giá 250.000.000 đồng”.
Câu 3: Đoạn nào của Quyết định cho thấy tài sản của anh Đạt chuyển nhượng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ anh Đạt)?
Trang 2Trả lời:
Đoạn của quyết định cho thấy tài sản anh Đạt chuyển nhượng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ anh Đạt) là:
“Tuy nhiên, khối tài sản anh Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ của anh Đạt), nhưng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất… cần phải căn
cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.”
Câu 4: Việc chuyển nhượng trên có cần sự đồng ý của chị Linh không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời?
Trả lời:
Việc chuyển nhượng trên cần có sự đồng ý của chị Linh Vì khối tài sản anh Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ của anh Đạt), do đó anh Đạt và chị Linh có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung này
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 213 BLDS 2015
Câu 5: Theo thực tiễn xét xử Việt Nam khi nào im lặng được coi là chấp nhận (đồng ý) hợp đồng?
Trả lời:
Theo quy định của BLDS 2015 im lặng được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng khi: các bên có thoả thuận hoặc thói quen
Tuy nhiên, theo thực tiễn xét xử Việt Nam “Bản án số 1171/2006/DS-PT ngày 16/11/2006 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh” im lặng được coi là chấp nhận hợp đồng khi đề nghị giao kết hợp đồng đưa ra hoàn toàn vì lợi ích của bên được đề nghị Với hướng giải quyết trên toà án phúc thẩm đã làm cho pháp luật Việt Nam gần gũi hơn với pháp luật nước ngoài về giá trị của sự im lặng khi đề nghị của giao kết hợp đồng hoàn toàn có lợi cho bên được giao kết
Câu 6: Chị Linh có biết, có phản đối việc chuyển nhượng trên không?
Trả lời:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm không đưa chị Linh vào tham gia tố tụng, vì thế bản án chưa đề cập đến chi tiết chị Linh có phản đối việc chuyển nhượng trên hay không
Trang 3Câu 7: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc được bình luận, nếu chị Linh biết và không phản đối việc chuyển nhượng thì có được coi chị Linh đồng ý không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trả lời:
Theo Toà án nhân dân tối cao trong vụ việc được bình luận, nếu chị Linh biết và không phản đối việc chuyển nhượng thì phải coi chị Linh cũng đồng ý việc chuyển nhượng
Đoạn của quyết định cho thấy câu trả lời là: “Tuy nhiên, khối tài sản anh Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ của anh Đạt), nhưng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên mới chỉ có chủ ý của anh Đạt nên cũng cần phải xem xét chị Linh có biết việc chuyển nhượng hay không? Nếu chị Linh biết mà không phản đối thì phải coi chị Linh cũng đồng ý việc chuyển nhượng Nếu chị Linh không biết và không đồng ý chuyển nhượng thì cần phải căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.”
Câu 8: Hướng giải quyết trên của Tòa dân sự có tiền lệ chưa? Cho biết tiền lệ mà anh/chị biết.
Trả lời: Hướng giải quyết của Tòa dân sự đã có tiền lệ
Cụ thể như sau: vợ chồng cụ Đạo và cụ Mùi sinh được 5 người con là các ông bà Lành, Khởi, Chiến, Quang và Sâm Sinh thời, hai cụ tạo lập được một nhà cấp 4 trên diện tích hơn 500m2đất
và một ngôi nhà mái bằng trên diện tích hơn 300m2 đất Ngày 13/05/1991, ông Sâm ký hợp đồng bán cho ông Phong ngôi nhà cấp bốn trên diện tích 237,4m2 Hợp đồng có chữ ký làm chứng của cụ Mùi, ông Quang và được UBND xác nhận Năm 2000 các bên xảy ra tranh chấp Ông Phong đã trả đủ tiền, nay khởi kiện yêu cầu giao trả nhà đất đã mua, còn ông Quang yêu cầu hủy bỏ hợp đồng Tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lần hai: bà Lành, bà Khởi, ông Chiến cho rằng đây là di sản thừa kế của anh, chị, em nên đề nghị hủy hợp đồng vì ông bà không biết gì về việc mua bán
Về vấn đề này, Hội đồng thẩm phán xét rằng: Do nhà, đất ông Sâm bán cho ông Phong là một phần tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cụ Đạo, cụ Mùi Cụ Đạo chết năm 1990 không
để lại di chúc, nên tài sản này là một phần di sản thừa kế của cụ Đạo chưa chia Theo lời khai của bà Lành, bà Khởi, ông Chiến thì tại thời điểm cụ Mùi cùng ông Quang, ông Sâm bán nhà, đất các ông, bà này có biết nhưng vì lý do tình cảm gia đình nên các ông, bà này không có ý kiến gì Việc không có ý kiến của các ông, bà này chưa có cơ sở để xác định các ông, bà này
Trang 4đồng ý hay không đồng ý với việc mua bán Vì vậy, xét thấy cần phải hủy Bản án dân sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại theo hướng: tại thời điểm cụ Mùi, ông Quang, ông Sâm bán nhà, đất cho ông Phong thì bà Lành, bà Khởi và ông Chiến đồng ý hay không đồng ý với việc cụ Mùi, ông Quang và ông Sâm bán nhà, đất cho ông Phong Nếu có cơ sở xác định những người này đồng ý với việc mua bán, nhưng do khó khăn khách quan nên không thể hiện bằng văn bản thì công nhận hợp đồng
Câu 9: Suy nghĩ của anh/chị về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng ở Việt Nam.
Trả lời:
Theo nhóm em, vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng ở Việt Nam không đủ yếu tố
để thuyết phục im lặng là đồng ý hay không đồng ý chấp nhận hợp đồng Tại Khoản 2 Điều 393
BLDS 2015 quy định: “Im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.” chỉ thừa nhận việc im lặng là một lời đồng ý giao kết hợp đồng khi các bên đã có thỏa
thuận trước đó là im lặng là đồng ý hoặc theo một thói quen đã có từ trước rằng im lặng là đồng
ý chấp nhận giao kết hợp đồng Trên thực tế, có rất nhiều giao dịch mà không phải các bên đều chấp nhận giá trị của im lặng là đồng ý giao kết hợp đồng Vì vậy trên cở sở pháp lý của pháp luật Việt Nam, sự im lặng không đủ để khẳng định việc chấp nhận hợp đồng Trong một số trường hợp nhất định, nếu bên được đề nghị giao kết hợp đồng nhận được những lợi ích thực tế nhưng giữ im lặng, chúng ta cũng có thể xem hành vi im lặng là một lời giao kết hợp đồng vì nó thể hiện được giá trị của sự im lặng khi đề nghị giao kết hợp đồng hoàn toàn có lợi cho bên
được đề nghị (Theo Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, trang 219).
Vấn đề 2: Đối tượng của hợp đồn g không thể thực hiện được
Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu.
Trả lời:
Những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu là:
- Theo khoản 1 Điều 411 BLDS 2015: “ Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng
có đối tượng không thể thực hiện được vì lí do khách quan thì hợp đồng này bị vô hiệu”.
BLDS 2015 vẫn duy trì tinh thầng của BLDS 2005 với một số thay đổi tại khoản 1 Điều 408
“Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp
đồng này bị vô hiệu” Sự thay đổi ở đây chủ yếu là về thuật ngữ pháp lý
- Về nguyên nhân: BLDS 2005 chỉ quan tâm tới nguyên nhân “khách quan” là cứng nhắc BLDS 2015 đã có sự thay đổi nguyên nhân khách quan đã không còn được giữ lại nên
Trang 5khi hợp đồng có đói tượng ngay từ đầu không thể thực hiện được thì hợp đồng thuộc trường hợp vô hiệu cho dù có hay không có nguyên nhân khách quan Đây là hướng sửa đổi thuyết phục, phù hợp với thực tiễn xét xử tại Tòa án
-Về thời điểm không thể thực hiện được: BLDS 2005 quy định vấn đề này là “ nay từ khi
ký kết” cho thấy phạm vi điều chỉnh hẹp vì ký kết chỉ phù hợp áp dụng với hợp đồng được xác lập bằng văn bản Mà thực tiễn quy định này được áp dụng cho hợp đồng xác lập bằng văn bản hay nhiều hình thức khác nên đã được thay đổi bằng “kể từ khi giao kết” trong BLDS 2015
(Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và Bình luận án, Nxb, Hồng Đức-hội Luật gia Việt Nam 2017 (xuất bản lần thứ sáu), Bản án số 97-98)
Suy nghĩ của nhóm em về sự thay đổi trên:
Sự thay đổi trên giữa BLDS 2015 so với BLDS 2005 đối với chế định hợp đồng vô hiệu do
có đối tượng không thể thực hiện được là phù hợp với thực tiễn xét xử ở Việt Nam
Khi áp dụng quy định tại Điều 411 BLDS 2005 thì phát sinh một số nhược điểm sau:
- Tại khoản 1 Điều này quy định trường hợp hợp đồng vô hiệu do không thể thực hiện được
nhưng chỉ khoanh vùng ở trường hợp “vì lý do khách quan” nhưng trong thực tiễn vận dụng điều này cho trường hợp không thể thực hiện được “vì lý do chủ quan” Thực ra, việc khoanh
vùng như hiện nay là không thuyết phục vì nếu áp dụng đúng luật thì không thể thực hiện được
do lý do chủ quan không làm cho hợp đồng vô hiệu, nhưng nếu hợp đồng không vô hiệu thì hợp đồng cũng không thể thực hiện được và trong trường hợp này phải làm gì? Câu hỏi không có câu trả lời thuyết phục
- Cũng tại khoản 1 Điều này nói về “kí kết” hợp đồng và thuật ngữ này không có tính bao quát
vì kí kết chỉ đúng cho hợp đồng bằng văn bản có chữ kí Trong khi đó, hợp đồng có thể được hình thành mà không có chữ kí (như hợp đồng miệng, hợp đồng được giao kết trong im lặng,
…) Vì vậy, tại khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 thay từ “kí kết” bằng từ “giao kết” là phù hợp và
có tính bao quát hơn
Câu 2: Một bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 408 BLDS
2015 không? Vì sao?
Trả lời:
Một bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 408 BLDS 2015 vì:
Căn cứ theo khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 thì trong trường hợp này có đối tượng không thể thực hiện được (cụ thể là máy đào hiệu Hitachi) Trong vụ này, đối tượng của hợp đồng giữa ông An và ông Bình là không thể thực hiện được Đối tượng của hợp đồng này là tài sản phải giao – máy đào hiệu Hitachi, nhưng trong quá trình giao kết hợp đồng các bên đã không có thoả
Trang 6thuận rõ ràng chi tiết các đặc điểm của đối tượng, như không nêu rõ số hiệu, không nêu rõ tình trạng của máy dẫn đến không thể xác định đúng vật cần giao nhận Do đó, theo khoản 1 Điều
408 BLDS 2015 thì hợp đồng này có đối tượng không thể thực hiện được nên trong vụ này ông Bình hoặc ông An cũng có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng giữa hai người là vô hiệu
Vấn đề 3: Xác lập hợp đồng giả tạo và nhằm tẩu tán tài sản
*Đối với vụ việc thứ nhất
Câu 1: Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?
Trả lời:
Giả tạo trong xác lập giao dịch là hợp đồng được lập ra nhưng không phản ánh đúng bản chất của quan hệ đích thực giữa các bên, thể hiện ở việc các bên xác lập hợp đồng để che đậy một giao dịch khác hay một hành vi trái pháp luật của một hoặc các bên Nói cách khác, hợp đồng giả tạo là hợp đồng mà trong đó, việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia
Câu 2: Đoạn nào của bản án cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?
Trả lời:
Đoạn của bản án cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng là: “Nguyên đơn và
bị đơn thống nhất ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bị đơn có thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nội dung giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất số AP
154638, số vào sổ H53166 do UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 30/7/2009, tọa lạc tại phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, giá chuyển nhượng 2000.000.000 đồng Hai bên đều thừa nhận đây là giao dịch giả tạo để che giấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng”
Các bên xác lập giao dịch có giả tạo nhằm mục đích là: để che giấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng
Câu 3: Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu
Trả lời:
Trang 7Hướng giải quyết của Toà án đối với hai hợp đồng:
- Hợp đồng giả tạo: Toà án đã tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 23/11/2013 giữa bà Thuý và bà Trang là vô hiệu, căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo Đồng thời xử lý hậu quả do hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 131 BLDS 2015 và xác định hai bà có lỗi ngang nhau trong việc làm hợp đồng vô hiệu do vậy các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và không cần phải bồi thường
- Hợp đồng bị che giấu: Toà án xác định bị đơn không có chứng cứ để chứng minh việc trả tiền cho nguyên đơn và cho rằng yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ tức bà Trang phải trả cho bà Thuý 95.000.000 đồng, do đó Toà buộc bà Trang phải trả lại cho bà Thuý 95.000.000 đồng đã nhận mà không tính lãi suất theo yêu cầu của bà Thuý Tuy nhiên, khi bản án có hiệu lực pháp luật mà người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng
bị che giấu.
Trả lời:
Theo nhóm em, hướng giải quyết trên của Toà án là hoàn toàn hợp lý, phù hợp theo quy
định của pháp luật tại Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015: “1 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.” Bởi vì theo quy định của pháp luật thì
hợp đồng dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực pháp luật và theo như bản án thì giao dịch vay tài sản trên của hai bà vẫn có hiệu lực Khi đó bên vay tài sản phải có nghĩa vụ trả nợ cho bên cho vay theo quy định của Điều 466 BLDS 2015 về nghĩa vụ của trả nợ của bên vay
*Đối với vụ việc thứ hai
Câu 1: Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?
Trả lời:
Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu vì:
Trang 8- Thứ nhất là vợ chồng bà Anh có cam kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) để trả
nợ cho bà Thu, nhưng vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất trên cho anh là vợ chồng ông Vượng
- Thứ hai, thỏa thuận chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng không phù hợp với thực tế vì giá thực tế của nhà đất là gần 5,6 tỷ đồng, nhưng hai bên lại thỏa thuận chuyển nhượng chỉ với giá 680 triệu đồng và thực tế các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng
Câu 2: Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định trên của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ)?
Trả lời:
Việc Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu là hoàn toàn phù hợp và có căn cứ cụ thể, vì:
- Thứ nhất, phần nhà đất mà vợ chồng bà Anh dùng để giao dịch với vợ chồng ông Vượng là phần nhà đất mà trước đó vợ chồng bà Anh đã cam kết sẽ chuyển nhượng để trả nợ cho bà Thu nên vợ chồng bà Anh không thể dùng phần nhà đất này để chuyển nhượng cho người khác (mà
cụ thể ở đây là vợ chồng ông Vượng)
- Thứ hai, về giá trị thực tế của nhà và đất mà vợ chồng bà Anh chuyển nhượng cho vợ chồng ông Vượng, giá trị thực tế của nhà đất được xác định lên đến gần 5,6 tỷ đồng so với giá mà vợ chồng bà Anh thỏa thuận để chuyển nhượng cho vợ chồng ông Vượng (680 triệu đồng) là chênh lệch quá lớn (giá trị thực tế gấp hơn 8 lần giá trị được thoả thuận) điều này hoàn toàn không phù hợp
Câu 3: Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ.
Trả lời:
Việc Tòa án xác định giao dịch trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ đã dẫn đến các
hệ quả sau:
- Thứ nhất, tuyên giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là vô hiệu
- Thứ hai, buộc vợ chồng bà Anh trả nợ cả gốc và lãi cho bà Thu
- Thứ ba, phong tỏa nhà đất của vợ chồng bà Anh để đảm bào thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng
bà Anh đối với bà Thu
Trang 9Vấn đề 4: Hình thức hợp đồng
Câu 1: Hợp đồng trong hai vụ việc trên có phải công chứng, chứng thực không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trả lời:
- Hợp đồng trong Bản án số 03/2017/DSPT ngày 04/5/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên không phải công chứng, chứng thực vì các bên chủ thể đã thực hiện trên 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên hợp đồng này vẫn có hiệu lực, các bên không cần phải công chứng, chứng thực
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 129 BLDS 2015
- Hợp đồng trong Bản án số 41/2011/DSPT ngày 25/4/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà không phải công chứng, chứng thực vì mặc dù không đảm bảo về hình thức do không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận nhưng hợp đồng này đã hết thời hiệu khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức Vì thế, hợp đồng này vẫn có hiệu lực nên không cần phải công chứng, chứng thực
Câu 2: Trong Bản án số 03, Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời:
Trong Bản án số 03, Toà án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực là
thuyết phục Bởi vì theo quy định tại khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Toà án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.” Mà trong trường hợp
này, các bên đã thực hiện trên hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch, cụ thể là ông Thìn đã đưa 30.000.000 đồng cho vợ chồng bà Yến và vợ chồng bà Yến đã giao đất cho ông Thìn, ông Thìn
đã xây dựng hàng rào gạch kiên cố và trồng trọt một số cây ăn quả Vì thế Toà án công nhận hiệu lực của hợp đồng này là thuyết phục, theo đúng quy định của pháp luật
Trang 10Câu 3: Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 có thuyết phục không?
Vì sao?
Trả lời:
Việc Toà án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 là thuyết phục
Thứ nhất, hợp đồng giữa ông Nguyễn Đức Diêu và ông Bùi Quang Ngọc là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai
2013 thì cần phải công chứng, chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này Mà các bên ở đây không có ai làm kinh doanh bất động sản, hợp đồng này cũng đã không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận Vì thế, hợp đồng chuyển nhượng này vi phạm về hình thức
Thứ hai, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đức Diêu và ông Bùi Quang Ngọc được ký ngày 27/10/2007, vì hợp đồng vi phạm về hình thức nên thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 2 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập, tức là ngày 28/10/2009 đã hết thời hiệu yêu cầu Mà ngày 29/10/2009, ông Nguyễn Đức Thành mới có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Vì vậy, vào lúc có đơn khởi kiện của ông Thành, hợp đồng này đã hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
Câu 4: Theo BLDS, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.
Trả lời:
Theo BLDS 2015, khi hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức mà không có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng có hiệu lực
Cơ sở pháp lý: điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 132 BLDS 2015
Câu 5: Việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi có vi phạm về hình thức
và hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu có thuyết phục không? Vì sao?
Trả lời:
Việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi có vi phạm về hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là thuyết phục Bởi vì theo quy định tại
khoản 2 Điều 132 BLDS 2015: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực” Cụ thể là ở điểm đ
khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 có quy định về thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân