Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chứckhác không có tư cách pháp nhân thì thành viên của họ có thểthỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyềnxác lập, thực hiện giao dị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
MÔN HỌC NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ĐẶNG LÊ PHƯƠNG UYÊN
Trang 225
Trang 3MỤC LỤC
I) Nghiên cứu Quyết định số 09/2022/KDTM-GĐT ngày
24/8/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 44/2018/KDTM-GĐT ngày 10/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; 1
1) Căn cứ xác lập đại diện: 1
* Tóm tắt Quyết định số 09/2022/KDTM-GĐT ngày 24/8/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao 1 1.1 Điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (so với Bộ luật Dân sự năm 2005) về người đại diện 1 1.2 Trong Quyết định số 09, việc ông H1 đại diện cho Ngân hàng là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 3
2) Hoàn cảnh của người được đại diện: 4
2.1 Cho biết kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài trong việc xử lý trường hợp đại diện không hợp lệ, nhất là việc khai thác lý thuyết “đại diện bề ngoài/apparent agent”? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 4 2.2 Trong Quyết định số 09, Hội đồng thẩm phán theo hướng Ngân hàng phải chịu trách nhiệm đối với bảo lãnh do ông H1 đại diện xác lập Trên cơ sở các quy định về đại diện hiện nay, anh/chị cho biết hướng như vừa nêu của Hội đồng thẩm phán
có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 4
3) Hoàn cảnh của người đại diện: 4
3.1 Theo pháp luật hiện hành, người đại diện có phải chịu
trách nhiệm đối với giao dịch do mình xác lập với tư cách là người đại diện không? Vì sao? 5 3.2 Cho biết kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với vấn đề pháp lý trong câu hỏi nêu trên? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 6 3.3 Trong Quyết định số 09, theo Hội đồng thẩm phán, có cần thiết đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 6 3.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị đối với hướng giải quyết nêu trên của Hội đồng thẩm phán (về vai trò của người đại diện) 7
Trang 44) Quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện: 7
Tóm tắt Quyết định số 44: 7
4.1 Trong pháp luật nước ngoài, người được đại diện có quyền
tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của
người đại diện không? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết 8 4.2 Trong pháp luật hiện hành, người được đại diện có quyền
tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của
người đại diện không? Vì sao? 9 4.3 Trong Quyết định số 44, theo Tòa giám đốc thẩm, người ủy quyền có được tự xác lập giao dịch đã ủy quyền cho người khác không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 9 4.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về khả năng người được đại diện tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện (phân tích đối với đại diện theo pháp luật và đối với đại diện theo ủy quyền) 9
II) Nghiên cứu Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày
23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 08/2013/DS-GĐT ngày 24/01/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; Bản án số 2493/2009/DS-ST ngày 04/9/2009 của Tòa án nhân dân Tp Hồ Chí Minh; Quyết định số 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số
533/2021/QĐ-PQTT ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân
Trang 51.5 Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao? 12 1.6 Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể lập di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lí khi trả lời 12
2) Diện thừa kế: 12
*Tóm tắt Quyết định số 08/2013/DS - GĐT ngày 24/01/2013 về V/v Đòi tài sản bị chiếm giữ 12 2.1 Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu không? Vì sao? 13 2.2 Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao? 13 2.3 Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao? 14 2.4 Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế
có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại ? Nêu cơ sở khi trả lời 14 2.5 Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản án, ở thời điểm nào người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp? Vì sao? 14
3) Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc: 15
3.1 Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê? 15 3.2 Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao? 15 3.3 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 15 3.4 Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Vì sao? 16 3.5 Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 triệu đồng thì bà Thẩm sẽ được hưởng khoản tiền là bao nhiêu? Vì sao? 16 3.6 Nếu bà Thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm có được chấp nhận không? Vì sao? 16
*Tóm tắt bản án số 2493/2009/DS-ST: 17
Trang 63.7 Trong Bản án số 2493 (sau đây viết gọn là Bản án), đoạn nào của bản án cho thấy bà Khót, ông Tâm và ông Nhật là con của cụ Khánh? 17 3.8 Ai được cụ Khánh di chúc cho hưởng toàn bộ tài sản có tranh chấp? 17 3.9 Tại thời điểm cụ Khánh chết, bà Khót và ông Tâm có là con đã thành niên của cụ Khánh không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 17 3.10 Bà Khót và ông Tâm có được Tòa án chấp nhận cho
hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 18 3.11 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án 18 3.12 Hướng giải quyết có khác không khi ông Tâm bị tai nạn mất 85% sức lao động? Vì sao? 18 3.13 Nêu những điểm giống và khác nhau giữa di chúc và tặng cho tài sản 19 3.14 Nếu ông Lưu không định đoạt tài sản của ông cho bà Xê bằng di chúc mà trước khi chết, ông Lưu làm hợp đồng tặng cho bà Xê toàn bộ tài sản của ông Lưu thì bà Thẩm có được hưởng một phần di sản của ông Lưu như trên không? 21 3.15 Đối với hoàn cảnh như câu trên, pháp luật nước ngoài điều chỉnh như thế nào? 21 3.16 Suy nghĩ của/anh chị về khả năng mở rộng chế định đang nghiên cứu cho cả hợp đồng tặng cho 21
4) Nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản: 22
4.1 Theo Bộ luật Dân sự, nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ đương nhiên chấm dứt và những nghĩa vụ nào của người quá cố sẽ không đương nhiên chấm dứt? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 22 4.2 Theo Bộ luật Dân sự, ai là người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người quá cố? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 23 4.3 Ông Lưu có nghĩa vụ nuôi dưỡng chị Hương từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành không? 23 4.4 Đoạn nào của Quyết định cho thấy bà Thẩm tự nuôi dưỡng chị Hương từ khi còn nhỏ đến khi trưởng thành? 24 4.5 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, nếu bà Thẩm yêu cầu thì có phải trích cho bà Thẩm từ di sản của ông Lưu
Trang 7một khoản tiền để bù đắp công sức nuôi dưỡng con chung không? 24 4.6 Trên cơ sở các quy định về nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản, anh/chị hãy giải thích giải pháp trên của Tòa án 24
Tóm tắt Quyết định 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Tòa
án nhân dân tối cao 25
4.7 Trong Quyết định số 26, ai là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng người quá cố khi họ còn sống? 26 4.8 Trong Quyết định trên, theo Tòa giám đốc thẩm, công sức chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ của ông Vân, ông Vi được xử lý như thế nào? 26 4.9 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Tòa giám đốc thẩm (trong mối quan hệ với các quy định về nghĩa vụ tài sản của người quá cố) 26
TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH SỐ 533/2021/QĐ-PQTT NGÀY 20/4/2021 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH V/v “Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”: 27
4.10 Trong vụ việc liên quan đến ông Định (chết năm 2015), nghĩa vụ nào của ông Định được Tòa án xác định chuyển sang cho những người thừa kế của ông Định (ông Lĩnh và bà Thành)?
28
4.11 Đoạn nào của Quyết định (năm 2021) cho thấy Tòa án buộc những người thừa kế (của ông Định) thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không lệ thuộc vào việc những người thừa kế đã thực hiện thủ tục khai nhận di sản hay chưa? Hướng như vậy của Tòa án có thuyết phục không, vì sao? 28 4.12 Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản có lệ thuộc vào thời điểm nghĩa vụ đã đến hạn thực hiện không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 29 4.13 Ở thời điểm ông Định chết (năm 2015), nghĩa vụ của ông Định đã đến hạn thực hiện chưa? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 29 4.14 Vì sao Tòa án xác định thời hiệu yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản của người quá cố vẫn còn mặc dù ông Định chết năm 2015 và việc khởi kiện chỉ được tiến hành năm 2019? Hướng của Tòa án như vậy có thuyết phục không, vì sao? 29 4.15 Có hệ thống pháp luật nước ngoài nào có quy định riêng về thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản như pháp luật Việt Nam hiện nay không? 30
Trang 84.16 Thông qua Quyết định năm 2021, suy nghĩ của anh/chị về tính thuyết phục của quy định về thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản (có nên giữ lại hay không?) 30
III) Nghiên cứu Quyết định số 619/2011/DS-GĐT ngày
18/08/2011, Quyết định số 767/2011/DS-GĐT ngày
17/10/2011; Quyết định số 194/2012/DS-GĐT ngày
23/04/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 363/2013/DS-GĐT ngày 28/08/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; 31
Tóm tắt Quyết định số 619/2011/DS-GĐT ngày 18/08/2011: 31Tóm tắt Quyết định số 767/2011/DS-GĐT ngày 17/10/2011 31Tóm tắt Quyết định số 194/2012/DS-GĐT ngày 23/04/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao 32Tóm tắt Quyết định số 363/2013/DS-GĐT ngày 28/08/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao: 32
1.1 Cho biết thực trạng văn bản pháp luật liên quan đến thay đổi, hủy bỏ di chúc (về thời điểm, cách thức và hình thức thay đổi, hủy bỏ) 33 1.2 Trong thực tiễn xét xử, việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể ngầm định (tức người lập di chúc không cần nói rõ là họ thay đổi hay hủy bỏ di chúc) không? Vì sao? 34 1.3 Trong thực tiễn xét xử, việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc có phải tuân thủ hình thức của di chúc bị thay đổi hay hủy bỏ không? Vì sao? 34 1.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án trong 03 quyết định trên (3 quyết định đầu) liên quan đến thay đổi, hủy bỏ di chúc 34 1.5 Đoạn nào cho thấy, trong Quyết định số 363, Tòa án xác định di chúc là có điều kiện? Cho biết điều kiện của di chúc này là gì? 35 1.6 Cho biết thực trạng văn bản quy phạm pháp luật về di chúc
có điều kiện ở Việt Nam? 35 1.7 Cho biết hệ quả pháp lý khi điều kiện đối với di chúc không được đáp ứng 36 1.8 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về di chúc có điều kiện ở Việt Nam (có nên luật hóa trong Bộ luật Dân sự không? Nếu luật hóa thì cần luật hóa những nội dung nào?) 36
Trang 9IV) Nghiên cứu Án lệ số 24/2018/AL về di sản thừa kế
chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân; 36
1.1 Trong Án lệ số 24/2018/AL, nội dung nào cho thấy đã có thỏa thuận phân chia di sản? 37 1.2 Trong Án lệ số 24/2018/AL, nội dung nào cho thấy thỏa thuận phân chia di sản đã được Tòa án chấp nhận? 37 1.3 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án chấp nhận thỏa thuận phân chia di sản trên? Anh/chị trả lời câu hỏi này trong mối quan hệ với yêu cầu về hình thức và về nội dung đối với thỏa thuận phân chia di sản 38 1.4 Sự khác nhau cơ bản giữa tranh chấp di sản và tranh chấp tài sản 38 1.5 Trong Án lệ số 24/2018/AL, tranh chấp về tài sản đã được chia theo thỏa thuận trên là tranh chấp về di sản hay tranh chấp về tài sản? 38 1.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong Án lệ số 24/2018/AL 38
V) Nghiên cứu Án lệ số 05/2016/AL của Tòa án nhân dân tối cao; 39
Tóm tắt Án lệ số 05/2016/AL: 39
1.1 Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án xác định ông Trải được hưởng 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng có thuyết phục không? Vì sao? 39 1.2 Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án xác định phần tài sản ông Trải được hưởng của cụ Hưng là tài sản chung của vợ
chồng ông Trải, bà Tư có thuyết phục không? Vì sao? 40 1.3 Trong Án lệ số 05/2016/AL, Tòa án theo hướng chị Phượng được hưởng công sức quản lý di sản có thuyết phục không? Vì sao? 40
Trang 10I) Nghiên cứu Quyí́t định số 09/2022/KDTM-GĐT ngày 24/8/2022 của Hội đồng Thđ̉m phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyí́t định số 44/2018/KDTM-GĐT ngày 10/9/2018 của Tòa án nhân dân cđ́p cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
1) Căn cứ xâc lập đại diện:
* Tóm tắt Quyết định số 09/2022/KDTM-GĐT ngăy
24/8/2022 của Hội đồng Thẩm phân Tòa ân nhđn dđn tối cao.
- Nguyín đơn: Bă Đinh Thị T.
- Bị đơn: Ngđn hăng A – Chi nhânh T.H.
- Nội dung:
Ngăy 21/7/2011, Giâm đốc Ngđn hăng A – Chi nhânh T.H lẵng H1 đê cung cấp 01 bản thanh toân để hoăn trả tiền vay vớitiền lêi cho người thụ hưởng lă bă Đinh Thị T với số tiền7.483.000.000 đồng để bảo lênh cho Công ty M.N thực hiện đầy đủnghĩa vụ hoăn trả tiền vay vă tiền lêi theo Hợp đồng vay tiền số02/07-2011/HĐTV Ngăy 26/7/2011, Công ty M.N đê xâc nhận nhận
đủ số tiền vay, nhưng lại không thanh toân đúng hạn số tiền vay
đê được níu trín cho bă T; Ngđn hăng A cũng không đồng ý thanhtoân tiền vay vă tiền lêi theo Thư bảo lênh nín bă T khởi kiện yíucầu Tòa ân buộc Ngđn hăng A phải thực hiện nghĩa vụ bảo lênh.Ngđn hăng A không đồng ý với yíu cầu khởi kiện vì cho rằng Thưbảo lênh vô hiệu, tức lă ông H1 không có quyền đại diện để kýphât hănh bảo lênh vay vốn Tòa ân cấp giâm đốc thđ̉m nhận định
bă T không buộc phải biết việc ông H1 ký Thư bảo lênh có thuộcphạm vi ủy quyền hay không nín trong trường hợp năy, ông H1 viphạm thì đđy lă trâch nhiệm câ nhđn của ông H1 với Ngđn hăng A
Do đó, Ngđn hăng A buộc phải có trâch nhiệm thực hiện cam kếttrong Thư bảo lênh đối với bă T Hội đồng thđ̉m phân nhận địnhông H1 chỉ lă người đại diện của Ngđn hăng A nín việc cần thiếtđưa ông H1 văo tham gia tố tụng với tư câch lă người có quyền lợi,nghĩa vụ liín quan trong vụ ân lă không phù hợp với câc quy địnhcủa phâp luật
Trang 111.1 Điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 (so với Bộ luật Dân sự năm 2005) về người đại diện
Thứ nhất, pháp nhân có thể là người đại diện Theo Điều 139
Bộ luật Dân sự 2005 thì người đại diện chỉ có thể là cá nhân mà
không thể là pháp nhân, theo đó cá nhân chỉ có thể ủy quyền chomột pháp nhân khác đại diện mình tham gia vào một quan hệ
pháp luật Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự
2015 thì pháp nhân hoàn toàn có thể đại diện cho cá nhân, pháp nhân khác Đây là một điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ hai, cá nhân, pháp nhân có thể có nhiều người đại diện
theo pháp luật Hướng đại diện được quy định tại Bộ luật Dân sự
năm 2005 là việc của “một” người, cụ thể là tại Điều 139 Theo
đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có sự thay đổi khi quy định
rằng “một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân
hoặc pháp nhân khác nhau” tại khoản 3 Điều 141 Theo đó,
không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiệngiao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng
là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác
Thứ ba, về năng lực của người đại diện Tại khoản 5 Điều
139 Bộ luật Dân sự 2005, yêu cầu người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 Vì còn tồn tại nhược điểm nên tại khoản 3 Điều 143
Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định người đại diện phải có năng lực
pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịchdân sự được xác lập, thực hiện Quy định trên còn có điểm mới nữa
là chỉ yêu cầu năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân
sự của người đại diện “trong trường hợp pháp luật quy định” Điều
đó cũng có nghĩa là nếu không thuộc “trường hợp pháp luật quy định” thì vấn đề năng lực pháp luật dân sự cũng như năng lực
hành vi dân sự không được đặt ra.1
Thứ tư, quy định về đại diện theo ủy quyền đã có những thayđổi về chủ thể Theo đó người đại diện và cả người được đại diệnđều là các cá nhân và pháp nhân Tuy nhiên, điểm mới thật sự của
1 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia
Việt Nam, tr.205.
Trang 12Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015 chính là nội dung liên quan đến
hộ gia đình và tổ hợp tác Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chứckhác không có tư cách pháp nhân thì thành viên của họ có thểthỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyềnxác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung.2
Thứ năm, Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung quy định về thời hạn đại diện mà Bộ luật Dân sự 2005 không quy định Đồng thời,
Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể hơn về hậu quả pháp lý của
hành vi đại diện Mặt khác, bổ sung thêm một số trường hợp đạidiện theo ủy quyền chấm dứt Quy định cụ thể chi tiết căn cứ xáclập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện
Thứ sáu, bổ sung quy định về hậu quả của giao dịch dân sự
do người có quyền đại diện thực hiện Hậu quả pháp lý của giao
dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện
tại Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015 đã có sự khác biệt so với Điều 145 Bộ luật Dân sự 2005 Cụ thể, Bộ luật Dân sự 2015
đã sửa từ “đồng ý” thành cụm từ “công nhận giao dịch” và đã bổ
sung điều khoản loại trừ được quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 142 Đồng thời, bổ sung thêm một trường hợp là người đã
giao dịch với người không có quyền đại diện không được quyềnđơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đã
xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại Việc bổ sung này nhằm tránh trường hợp lợi dụng quy định về đại diện để người thứ ba
“bội ước”.3 Bộ luật Dân sự 2015 cũng đã bổ sung quy định tạikhoản 4 nhằm hạn chế gian lận thông qua cơ chế đại diện
Thứ bảy, bổ sung quy định về hậu quả của giao dịch dân sự
do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện.
Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015 đã bổ sung thêm
trường hợp “người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình vượt quá phạm vi đại diện” trong
khi khoản 1 Điều 146 Bộ luật Dân sự 2005 chỉ quy định hai
trường hợp ngoại lệ đã công nhận nhằm vượt quá phạm vi đại
2 Đỗ Văn Đại, sđđ, tr.208.
3 Đỗ Văn Đại, sđđ, tr.216.
Trang 13diện Hướng bổ sung trong trường hợp vượt quá phạm vi đại diệncũng giống nhau đối với trường hợp không có quyền đại diện.
Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khẳng định cách tiếp cận mớicủa mình theo hướng nhất quán khi nhìn nhận về chủ thể tronggiao dịch dân sự, đó là cá nhân hoặc pháp nhân Bên cạnh ngườiđại diện là cá nhân theo cách hiểu truyền thống, pháp nhân cũng
có thể trở thành “người đại diện” cho cá nhân hoặc pháp nhânkhác trong các giao dịch dân sự Điều này hoàn toàn phù hợp vềmặt lý luận cũng như thông lệ trên thế giới, bởi lẽ pháp nhân cũng
là “con người”, chỉ khác con người sinh học ở chỗ “con người” nàyđược tạo ra theo con đường pháp lý và hoàn toàn có khả năng thựchiện quyền đại diện cho một người nào đó trong việc xác lập, thựchiện giao dịch dân sự Thể hiện sự nhất quán của các nhà lậppháp, nhằm mục đích đảm bảo hoạt động xuyên suốt, không bịgián đoạn của doanh nghiệp, mà rộng hơn là pháp nhân
1.2 Trong Quyết định số 09, việc ông H1 đại diện cho Ngân hàng là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Ông H1 đại diện cho Ngân hàng A – Chi nhánh T.H là đại diện
theo ủy quyền Căn cứ vào những quy định sau trong Bộ luật Dân
sự 2015:
+ Khoản 5 Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định:
“Người đứng đầu chi nhánh, văn phòng đại diện thực hiện nhiệm vụ theo uỷ quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được
uỷ quyền”.
+ Khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng:
“1 Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm: a) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;
b) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;
c) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án”.
Như vậy, ông H1 với chức danh là Giám đốc Ngân hàng A –Chi nhánh T.H là đại diện theo pháp luật của Ngân hàng A, thực
Trang 14hiện nhiệm vụ theo sự ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi vàthời hạn đã được ủy quyền.
2) Hoàn cảnh của người được đại diện:
2.1 Cho biết kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài trong việc xử lý trường hợp đại diện không hợp lệ, nhất là việc khai thác lý thuyết “đại diện bề ngoài/apparent
agent”? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết
Các nước theo hệ thống thông luật (Common Law) thường cónhững quy định về apparent authority cởi mở hơn nhằm tăngcường bảo vệ bên thứ ba ngay tình trong giao dịch với công ty,đồng thời tạo ra sức ép để các công ty hoàn thiện cơ chế quản lýnội bộ
Theo Luật Công ty Úc năm 2001, thì người thứ ba ngay
tình có quyền suy đoán (statutory assumptions) về “thẩm quyềnđương nhiên” (apparent authority) hoặc thẩm quyền mặc định(implied actual authority) của một đại diện công ty khi thực hiệncác giao dịch với người đại diện Nghĩa là về nguyên tắc, hợp đồng
do người đại diện ký kết vượt quá phạm vi thẩm quyền đại điện(defective contracts) thì vẫn được xem là có hiệu lực, trừ khi công
ty (người được đại diện) có thể chứng minh rằng người thứ bakhông ngay tình Và câu chuyện vượt quá thẩm quyền đại diện chỉ
là câu chuyện của hai bên là bên đại diện và bên được đại diện chứ không phải là gánh nặng của bên thứ ba - người có giao dịchvới công ty thông qua người đại diện Nước Úc đã đưa những quy
-định này vào trong Luật Công ty Úc tại Điều 128 và 129 Luật Công ty 2001 và được gọi là statutory assumption.
2.2 Trong Quyết định số 09, Hội đồng thẩm phán theo hướng Ngân hàng phải chịu trách nhiệm đối với bảo lãnh
do ông H1 đại diện xác lập Trên cơ sở các quy định về đại diện hiện nay, anh/chị cho biết hướng như vừa nêu của Hội đồng thẩm phán có thuyết phục không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Theo quan điểm của nhóm, việc Hội đồng thẩm phán theohướng Ngân hàng A phải chịu trách nhiệm đối với việc bảo lãnh do
ông H1 đại diện xác lập là thuyết phục Căn cứ vào khoản 1 Điều
87 Bộ luật Dân sự 2015, có quy định về Trách nhiệm dân sự của
Trang 15pháp nhân như sau: “Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.” Do đó, hướng giải quyết trên của
Hội đồng thẩm phán hoàn toàn thuyết phục Trong trường hợp này,ông H1 là Giám đốc Ngân hàng A – Chi nhánh T.H nên ông là ngườiđại diện đương nhiên theo pháp luật của ngân hàng
3) Hoàn cảnh của người đại diện:
3.1 Theo pháp luật hiện hành, người đại diện có phải chịu trách nhiệm đối với giao dịch do mình xác lập với tư cách là người đại diện không? Vì sao?
Người chịu trách nhiệm của người đại diện đối với giao dịch
do mình xác lập với tư cách người đại diện thì sẽ phụ thuộc vàotrường hợp người được đại diện có cho phép hay đồng ý thực hiệnhay không
- Theo Điều 139 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
“Điều 139 Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện
1 Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.
2 Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện.
3 Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối.”
Theo Điều 139 Bộ luật Dân sự 2015 thì người đại diện khi
xác lập, thực hiện giao dịch với tư cách người đại diện thì phải phù
hợp với phạm vi đại diện (quy định tại Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015) Bên cạnh đó, trường hợp người đại diện thực hiện giao dịch
nhắm tới mục đích có lợi cho người được đại diện thì được phép.Trường hợp người đại diện thực hiện giao dịch bị cưỡng ép thì giaodịch đó sẽ bị coi là vô hiệu và không phát sinh quyền hay nghĩa vụnào cho người đại diện và được đại diện
- “Điều 141 Phạm vi đại diện
Trang 161 Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây:
a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Điều lệ của pháp nhân;
c) Nội dung ủy quyền;
d) Quy định khác của pháp luật.”
Điều luật này xác định phạm vi của người đại diện, nghĩa làngười đại diện không được thực hiện hành vi vượt quá phạm vinày Trong trường hợp phát sinh giao dịch dân sự do người đại diện
xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện sẽ dẫn đến khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015.
- “Điều 143 Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện
2 Trường hợp giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.
3 Người đã giao dịch với người đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch hoặc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
4 Trường hợp người đại diện và người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.”
Theo khoản 2, khoản 3 và khoản 4 thì trong trường hợp
người đại diện cố ý xác lập giao dịch dân sự vượt quá phạm vi màngười đại diện không biết hoặc không thể biết, được quy định tại
Điều 141, thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người
Trang 17được đại diện hoặc người thứ 3 (trong trường hợp người thứ 3không biết) Như vậy người trách nhiệm của người đại diện đối vớigiao dịch do mình xác lập với tư cách người đại diện thì sẽ phụthuộc vào trường hợp người được đại diện có cho phép hay đồng ýthực hiện hay không.
3.2 Cho biết kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với vấn đề pháp lý trong câu hỏi nêu trên? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết.
Đối với vấn đề pháp lý trong câu hỏi nêu trên, Điều 1154 Bộ
luật Dân sự Pháp 2018 có quy định: “Trong trường hợp người
đại diện tuyên bố hành động vì lợi ích của người khác nhưng giao kết nhân danh chính mình thì chỉ người đại diện chịu trách nhiệm đối với bên ký kết kia” Điều này đã thể hiện người đại diện phải
chịu trách nhiệm đối với giao dịch mà mình xác lập
3.3 Trong Quyết định số 09, theo Hội đồng thẩm phán,
có cần thiết đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo Hội đồng thẩm phán, việc đưa ông H1 vào tham gia tốtụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ
án với lý do ông H1 ký Thư bảo lãnh của ngân hàng A theo tư cách
là người đại diện của Ngân hàng A là không phù hợp với các quyđịnh của pháp luật
Trong Quyết định số 09, tại phần Nhận định của Tòa án có
ghi như sau: “Thư bảo lãnh do ông H ký với tư cách là Giám đốc Ngân hàng A - Chi nhánh T.H, có đóng dấu của Ngân hàng A – Chi nhánh T.H nên Thư bảo lãnh là văn bản do Ngân hàng A phát hành, trong đó ông H1 chỉ ký với tư cách là người đại diện của Ngân hàng A Do đó, Tòa án cấp giám đốc thẩm nhận định việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà T có liên quan đến trách nhiệm của ông H1 trong việc ký Thư bảo lãnh nên cần thiết đưa ông H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không phù hợp với các quy định của pháp luật.”
Trang 183.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị đối với hướng giải quyết nêu trên của Hội đồng thẩm phán (về vai trò của người đại diện)
Theo quan điểm của nhóm, căn cứ tại khoản 1 Điều 143 Bộ
luật Dân sự 2015, quy định về Hậu quả của giao dịch dân sự
do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện như sau:
“1 Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện đồng ý;
b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;
c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình vượt quá phạm vi đại diện.”
Như vậy, theo điểm c khoản 1 Điều 143 Bộ luật Dân sự
2015, ông H1 là người đại diện theo pháp luật, đã thực hiện việc
ký Thư bảo lãnh là văn bản do Ngân hàng A phát hành nên Ngânhàng A buộc phải biết và phải chịu trách nhiệm với tư cách phápnhân Do đó, theo Hội đồng thẩm phán, việc đưa ông H1 vào thamgia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quantrong vụ án là không cần thiết, là hướng giải quyết đúng đắn, hợp
lý bảo vệ được ông H1 (người đại diện theo pháp luật)
4) Quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện:
Trang 19Nội dung: Công ty N vay Ngân hàng K 2.000.000.000 đồng (2 tỷ đồng) với
tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 85 do bà Nguyễn Thị T đứng tên vàquyền sử dụng thửa đất số 313 do bà Phạm Thị D đứng tên Ngày 14/9/2010, Ngânhàng K giao số tiền 2 tỷ đồng cho Công ty N Sau đó Công ty N vi phạm nghĩa vụthanh toán nên Ngân hàng K nhiều lần yêu cầu thanh toán nợ nhưng Công ty Nkhông thực hiện Nay Công ty N phải thanh toán số tiền gốc là 2.000.000.000 đồng
và tiền lãi gồm lãi suất quá hạn và lãi phạt tổng tính tới hết ngày 27/9/2016 là2.890.456.069 đồng; nếu Công ty N không có tài sản thanh toán thì yêu cầu các tàisản thế chấp dùng để bảo đảm thanh toán số tiền cho Ngân hàng K Với thửa đất số
85 do bà T đứng tên được mang đi thế chấp thì bị bà H, D1, N1, H1 vợ chồng ôngT2, H2 phản đối và yêu cầu Tòa hủy hợp đồng thế chấp đất do thửa đất đó là cha họ
là ông T1 để lại (ông T1 chết ngày 12/05/1990)
Quyết định sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng K buộc Công ty Nphải thanh toán số tiền vốn lẫn số tiền lãi tới hết ngày 27/9/2016 là 2.270.757.010đồng Kể từ ngày 28/9/2016 Công ty N vẫn không hoàn thành thanh toán thì sẽ tiếptục tính lãi theo mức lãi kí kết trên hợp đồng Cho phép Ngân hàng K được quyền
sử dụng thửa đất 313 Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà H và tuyên bố hợp đồngthế chấp thửa đất 85 vô hiệu Ngày 10/10/2017, Ngân hàng K đề nghị kháng nghịgiám đốc thẩm với lí do yêu cầu xác định hợp đồng thế chấp bảo lãnh đất của bà T
là hợp pháp Ngày 4/6/2018 chấp nhận Quyết định kháng nghị của Giám đốc thẩm
số 72/2018/KN-KDTM Giao hồ sơ vụ án nêu trên cho Tòa án nhân dân huyệnTrảng Bom, tỉnh Đồng Nai giải quyết sơ thẩm lại theo quy định pháp luật
4.1 Trong pháp luật nước ngoài, người được đại diện có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện không? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết
- Đối với đại diện theo pháp luật: Điều 1159 Bộ luật Dân sự Pháp quy định:
“Trong trường hợp thẩm quyền đại diện được xác lập theo luật hoặc theo quyết định của tòa án thì trong thời hạn đại diện, người được đại diện không có các quyền hạn đã được trao cho người đại diện”.
- Đối với đại diện theo ủy quyền: khoản 2 Điều 1159 Bộ luật Dân sự Pháp
quy định liên quan đến đại diện theo thỏa thuận như sau: “trong trường hợp đại diện theo thỏa thuận, người được đại diện vẫn được thực hiện các quyền của mình” 4
4 Đỗ Văn Đại, “Quyền của người được đại diện trong việc xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi của người đại diện”,
viec-xac-lap thuc-hien-giao-dich-thuoc-pham-vi-cua-nguoi-dai-dien.html#:~:text=Do
Trang 20http://www.lapphap.vn/Pages/TinTuc/211606/Quyen-cua-nguoi-duoc-dai-dien-trong-4.2 Trong pháp luật hiện hành, người được đại diện có quyền tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện không? Vì sao?
- Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân
có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”
và người đại diện “được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại
diện” (Khoản 1 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015).
- Trong trường hợp đại diện, người được đại diện có còn quyền tự xác lập,thực hiện giao dịch hay không thì văn bản ở nước ta chưa quy định rõ ràng và thựctiễn thể hiện sự lúng túng
4.3 Trong Quyết định số 44, theo Tòa giám đốc thẩm, người ủy quyền có được tự xác lập giao dịch đã ủy quyền cho người khác không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
- Theo Tòa giám đốc thẩm, người ủy quyền được tự xác lập giao dịch đã ủy
quyền cho người khác Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “… Do cụ Nguyễn Thị
T là chủ sở hữu nhà đất nêu trên nên dù cụ T có ủy quyền cho ông T2 thì cũng không làm hạn chế hoặc làm mất đi quyền về tài sản theo quy định của pháp luật của cụ T …”.
Trong Quyết định 44, bà T là chủ sở hữu nhà đất ủy quyền cho ông T2 toàn
quyền sử dụng đất trong thời hạn 5 năm Nhưng vốn dĩ cụ T vẫn là chủ quyền sởhữu đất nên có quyền tự xác lập một giao dịch chứ không hề bị hạn chế dù đã choông T2 toàn quyền sử dụng đất
4.4 Cho biết suy nghĩ của anh/chị về khả năng người được đại diện tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện (phân tích đối với đại diện theo pháp luật và đối với đại diện theo ủy quyền)
- Đối với đại diện theo pháp luật: Người được đại diện theo pháp luật thì
thường họ sẽ là trẻ chưa thành niên, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủhành vi hay người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên trong trường hợp này thìngười được đại diện không thể tự xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đạidiện của người đại diện được nữa
- Đối với đại diện theo ủy quyền: Người được đại diện theo ủy quyền vẫn có
thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch thuộc phạm vi đại diện của người đại diện
nhưng vẫn sẽ bị hạn chế theo quy định của pháp luật được quy định tại Điều 141 Phạm vi đại diện Bộ luật Dân sự 2015:
%20%C4%91%C3%B3%2C%20vi%E1%BB%87c%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di
%20%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c,di%E1%BB%87n%20c%E1%BB%A7a%20ng
ngày 20/04/2023.
Trang 21“1 Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm
vi đại diện theo căn cứ sau đây:
a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Điều lệ của pháp nhân;
c) Nội dung ủy quyền;
d) Quy định khác của pháp luật.
2 Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
3 Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4 Người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện
của mình”.
II) Nghiên cứu Quyết định số 377/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 08/2013/DS-GĐT ngày 24/01/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao; Bản án số 2493/2009/DS-ST ngày 04/9/2009 của Tòa án nhân dân Tp Hồ Chí Minh; Quyết định số 26/2013/DS-GĐT ngày 22/4/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định số 533/2021/QĐ-PQTT ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh.
1) Hình thức sở hữu tài sản:
*Tóm tắt Quyết định số 377/2008/DS-GĐT:
Nguyên đơn: bà Cao Thị Xê
Bị đơn: chị Võ Thị Thu Hương, anh Nguyễn Quốc Chính
Bà Xê kết hôn với ông Võ Văn Lưu năm 1996, có làm thủ tục đăng ký kếthôn và không có con chung, nhưng trước đó ông Lưu đã kết hôn với bà Thẩm năm
1964 Trước khi chết, ông Lưu di chúc để lại toàn bộ di sản cho bà Xê Bản án dân
sự sơ thẩm số 59/2005/DSST đã chấp nhận yêu cầu kiện chị Hương và anh Chính(con của bà Thẩm), cho bà được hưởng toàn bộ di sản do ông Lưu để lại di chúc.Thế nhưng, tại Quyết định số 208/2008/KN_DS, Tòa nhận định di chúc của ôngkhông đảm bảo quyền lợi của bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu Hôn nhân giữa
Trang 22ông Lưu và bà Xê là trái với quy định của pháp luật Bà Thẩm không được hưởng2/3 phần thừa kế theo quy định của pháp luật là không đúng Hội đồng Giám đốcthẩm quyết định hủy bỏ bản án dân sự phúc thẩm và sơ thẩm, giao lại hồ sơ vụ ángiải quyết theo đúng quy định.
1.1 Những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 so với
Bộ luật Dân sự 2005 về hình thức sở hữu tài sản.
Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận trong quan hệ dân sự
có 3 hình thức sở hữu bao gồm: sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và
sở hữu chung (bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 sử dụng
thống nhất cụm từ “thuộc về Nhà nước”)
Tuy nhiên, một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
được ban hành trên cơ sở quy định có tính nguyên tắc của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự năm 2005 nên chưa bảo đảm phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 Ví dụ:
- Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 và Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 tiếp cận theo hướng
về cơ bản đồng nhất tài sản thuộc sở hữu toàn dân là tài sản củanhà nước;
Căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập trongthời kì hôn nhân với bà Thẩm
Đoạn ở Quyết định số 377 cho câu trả lời là:
“Căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân
5 “NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA Bộ luật Dân sự NĂM 2015 VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN”
https://moj.gov.vn/tctccl/tintuc/Lists/CacTaiLieuThamKhao/Attachments/
34/2.3%20Nhung%20diem%20moi%20cua%20Bo%20luat%20Dan%20su
Trang 23giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác và được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông; bà Thẩm không có đóng góp kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà này nên ông Lưu có quyền định đoạt đối với căn nhà nêu trên”.
Căn nhà này được ông lưu xây dựng khi ông đã vào namcông tác, không cùng chung sống với bà thẩm nhưng vẫn trongthời kì hôn nhân
1.3 Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào ở Quyết định 377 cho câu trả lời?
Theo bà Thẩm căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợchồng bà
Điều đó thể hiện ở đoạn: “Còn bà Thẩm cho căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích 101m 2 là tài sản chung của vợ chồng bà nên không nhất trí theo yêu cầu của bà Xê”.
Bà Thẩm cho rằng căn nhà trên thuộc sở hữu chung bởi lẽ bàcho rằng trong thời gian ông Lưu có căn nhà, ông và bà vẫn là vợchồng hợp pháp nên tài sản đó thuộc sở hữu chung của hai vợchồng, nhưng thực chất đây là căn nhà thuộc tài sản riêng của ôngLưu vì không có đóng góp nào của bà Thẩm
1.4 Theo Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc
sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào ở Quyết định 377 cho câu trả lời?
Theo Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữuriêng của ông Lưu
Đoạn ở Quyết định 377 cho câu trả lời là:
“Căn nhà số 150/60A Lý Thường Kiệt, phường 6 thành phố
Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang được ông Lưu tạo lập trong thời kì hôn nhân giữa ông Lưu và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào miền Nam công tác và được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông, bà Thẩm không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhà nên ông Lưu có quyền định đoạt với căn nhà trên”.
Trang 241.5 Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?
Quyết định trên của Tòa án là hoàn toàn hợp lí, bởi lẽ:
Theo khoản 4 Điều 219 Bộ luật Dân sự 2005:
“Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.
Mặc dù tại thời điểm này ông Lưu và bà Thẩm vẫn còn là vợchồng nhưng ông Lưu đã không còn sống chung với và Thẩm, ông
đã vào miền Nam và tự mình xây dựng và mua căn nhà mà không
có bất kì sự đóng góp nào với ông nên căn nhà thuộc sở hữu riêngcủa ông là đúng đắn
Sở hữu của vợ chồng trong hôn nhân là sở hữu chung, nhưng
sở hữu chung chỉ xảy ra khi có sự đóng góp của cả hai về vật chấthoặc tinh thần, là việc cả hai cùng làm và cùng hưởng lợi
1.6 Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể lập di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lí khi trả lời.
Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thìông Lưu không thể lập di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 219 Bộ luật Dân sự 2005.
“Vợ chồng cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”.
Đã là tài sản chung trong hôn nhân thì việc sử dụng hay địnhđoạt phải do cả hai thỏa thuận và đưa ra quyết định, vì tài sảnchung là tài sản của vợ chồng cùng tạo lập nên cá nhân ông Lưukhông có quyền quyết định hoàn toàn trong việc định đoạt cănnhà đó mà cần có thêm ý kiến của bà Thẩm nếu căn nhà đó thuộc
sở hữu chung của hai người
2) Diện thừa kế:
*Tóm tắt Quyết định số 08/2013/DS - GĐT ngày
24/01/2013 về V/v Đòi tài sản bị chiếm giữ.
Nguyên đơn: Phạm Thị Ơn
Bị đơn: Lý Thị Chắc
Trang 25Ông Huệ có căn nhà ở tỉnh Tiền Giang và một số vật dụngtrong nhà từ trước năm 1975 Năm 1991, ông Huệ được cấp giấychứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở Năm 1999, ông Huệ chết
để lại toàn bộ tài sản cho ông Hà (con ruột ông Huệ) Năm 2008,ông Hà chết không để lại di chúc, đến tháng 03/2011 bà Ơn (vợông Hà) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Bà Chắc là con nuôi của bà Thiệu (mẹ ruột ông Huệ), lúc ôngHuệ còn sống có cho bà Chắc ở nhờ Sau khi ông Hà chết, bà Chắccho ba người cháu Nhơn, Nguyệt, Quốc ở chung nhà chưa có sựđồng ý của bà Ơn Vì vậy bà Ơn yêu cầu bà Chắc, Nhơn, Nguyệt,Quốc dọn đi nơi khác Trong quá trình sử dụng nhà ở, đất ở, bàChắc có công đứng ra xin lại nhà đất cho cụ Huệ và gìn giữ bảoquản, trồng cây lâu năm,
Tòa án quyết định hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm vàBản án dân sự sơ thẩm vì còn nhiều sai sót chưa đảm bảo đượcquyền lợi cho các đương sự Ngoài ra, quan hệ pháp luật của vụ án
là “Đòi nhà bị chiếm dụng” là không đúng, mà phải xác định là
“Đòi nhà cho ở nhờ” mới đúng
2.1 Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa
kế thứ nhất của ông Lưu không? Vì sao?
- Theo điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015:
“Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”
- Bà Thẩm và ông Lưu kết hôn năm 1964 và có con chung làchị Hương, vì vậy bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu nên bàThẩm và chị Hương thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu Năm
1996, ông Lưu kết hôn với bà Xê nhưng chưa ly hôn với bà Thẩmnên hôn nhân giữa ông Lưu và bà Xê được xem là bất hợp pháp Vìvậy, bà Xê không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu
2.2 Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao?
- Theo điểm a khoản 4 Nghị quyết số 02/HĐTP ngày
19/10/1990 quy định về Người thừa kế theo pháp luật như sau:
Trang 26“a) Trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 01-1960 - ngày công bố Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 - đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977 - ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước - đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra Bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị huỷ bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ”.
13 Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu
trả lời cho câu hỏi trên sẽ khác Vì dựa theo Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990, nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào
cuối năm 1976 thì bà Xê được xem là vợ hợp pháp của ông Lưu, vìvậy bà Xê sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu
2.3 Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao?
- Trong vụ việc này chị Hương không được chia di sản củaông Lưu Vì ông Lưu lập di chúc cho bà Xê được thừa kế tài sảnnhà, đất và Tòa án đã xác định di chúc của ông Lưu là di chúc hợppháp Ngoài ra, chị Hương đã là người thành niên và có khả năng
lao động nên không được xét theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015.
2.4 Theo pháp luật hiện hành, ở thời điểm nào người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại ? Nêu cơ sở khi trả lời.
- Cơ sở pháp lý: Điều 614 Bộ luật Dân sự 2015.
- Cụ thể, Điều 614 về thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ
của người thừa kế ghi nhận: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
- Vậy, tính từ thời điểm mở thừa kế trở đi thì người thừa kế cóquyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại
Trang 272.5 Trong Quyết định số 08, theo nội dung của bản
án, ở thời điểm nào người thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranh chấp? Vì sao?
- Theo Điều 614 Bộ luật Dân sự 2015: “Kể từ thời điểm mở
thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
- Theo khoản 1 Điều 611: “Thời điểm mở thừa kế là thời
điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này”.
- Trong Bản án có đoạn: “ ông Hà chết ngày 12/5/2008 thì bà Lý Thị Ơn là vợ và các con ông Hà được thừa kế nhà đất này đã chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở sang cho bà Lý Thị Ơn;”.
- Vậy ông Hà chết ngày 12/5/2008, nên tại thời điểm nàyngười thừa kế của ông Hà có quyền sở hữu nhà ở và đất có tranhchấp
3) Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:
3.1 Đoạn nào của Quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê?
Đoạn cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn bộ tài
sản của ông Lưu cho bà Xê: “Trước khi chết, ông Lưu có để lại di chúc cho bà được quyền sử dụng toàn bộ tài sản gồm nhà cửa, đồ dùng trong gia đình nên bà yêu cầu được hưởng thừa kế theo di chúc của ông Lưu”.
3.2 Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao?
Xét theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015:
- Bà Thẩm thuộc diện hưởng thừa kế không phụ thuộc vàonội dung di chúc đối với tài sản của ông Lưu vì bà là vợ hợp pháp
Trang 28- Chị Hương không thuộc diện hưởng thừa kế không phụthuộc vào nội dung di chúc do không có quy định, chị Hương đãthành niên (1965) và không bị mất khả năng lao động.
- Bà Xê cũng không thuộc diện hưởng thừa kế không phụthuộc vào nội dung di chúc Vì hôn nhân của bà Xê và ông Lưu tráipháp luật nên không được xem là vợ hợp pháp
3.3 Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, vì sao
bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội
dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
- Theo Tòa dân sự Toà án nhân dân tối cao, bà Thẩm đượchưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với disản của ông Lưu vì bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu và không
còn khả năng lao động được quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân
sự 2005 và Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 để bảo vệ quyền lợi
của những người thừa kế
- Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “Tuy nhiên, bà Thẩm đang là vợ hợp pháp của ông Lưu đã già yếu, không còn khả năng lao động, theo quy định tại Điều 669 Bộ luật Dân sự thì bà Thẩm được thừa kế tài sản của ông Lưu mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc của ông Lưu”.
3.4 Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Vì sao?
Căn cứ theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về
người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:
“1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động”.
Trang 29- Nếu bà Thẩm khỏe mạnh, có khả năng lao động thì vẫnđược hưởng thừa kế không phụ thuộc vào di chúc đối với di sảncủa ông Lưu Vì bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu nên đã thỏa
mãn được khoản 1 của Điều luật trên mà không cần xét đến sức
khỏe ốm yếu hay mất khả năng lao động
3.5 Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 triệu đồng thì bà Thẩm sẽ được hưởng khoản tiền là bao nhiêu? Vì sao?
- Giả sử không có di chúc và tiến hành chia thừa kế theopháp luật thì di sản của ông Lưu sẽ được chia cho bà Thẩm và chị
Hương (vì đây là vợ và con hợp pháp) Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, bà Thẩm và chị Hương mỗi người sẽ nhận được 300
3.6 Nếu bà Thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm có được chấp nhận không? Vì sao?
- Nếu bà Thẩm yêu cầu chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu
của bà Thẩm vẫn được chấp nhận Vì theo khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia”.
*Tóm tắt bản án số 2493/2009/DS-ST:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Khót, ông An Văn Tâm.
- Bị đơn: ông Nguyễn Tài Nhật