Thứ tư, bổ sung quy định về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện thực hiện và do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện: Bộ luật dân sự nă
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
MÔN HỌC: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ GIẢNG VIÊN: ĐẶNG THÁI BÌNH
DANH SÁCH NHÓM 5
Trang 2Bài 1: Trường hợp đại diện hợp lệ
Tóm tắt Quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT:
Chủ thể: ông Mạnh (đại diện Hưng Yên) và Vinausteel
Tranh chấp: ông Mạnh có phải là đại diện hợp pháp của Hưng Yên không?
Lí do tranh chấp: ngày 20/11/2006, bà Lê Thị Ngọc Lan có giấy ủy quyền cho ông LêVăn Mạnh - Phó Tổng Giám đốc Công ty kim khí Hưng Yên được thay mặt Công tythực hiện các giao dịch kinh tế trong phạm vi hành nghề kinh doanh , nên ngày16/01/2007, ông Mạnh đại diện cho Công ty kim khí Hưng Yên ký hợp đồng muabán phôi thép số 01/HĐTP/2007/VA-HY với Công ty Vinausteel
Tòa án: Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh không có trách nhiệm với Vinausteel.Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại; giao hồ sơ vụ án choTòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật
Tóm tắt Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT
Chủ thể: Xí nghiệp xây dựng 4 (là đơn vị trực thuộc Công ty xây dựng số II Nghệ
An, nay là Công ty cổ phần xây dựng 16 - Vinaconex) và chi nhánh Ngân hàng Côngthương Nghệ An
Tranh chấp: đại diện không hợp pháp
Lí do tranh chấp: Theo tài liệu do Công ty xây dựng số II Nghệ An xuất trình thìngày 26/3/2001, Công ty xây dựng số II có Công văn số 263 CV/XD2.TCKT quyđịnh về việc vay vốn tín dụng của các đơn vị trực thuộc và ngày 06/4/2001,Công ty xây dựng số II Nghệ An có Công văn số 064CV/XDII.TCKT gửi Chi nhánhNgân hàng Công thương Nghệ An trong đó có nội dung “đề nghị Ngân hàng Côngthương Nghệ An không cho các Xí nghiệp thuộc Công ty xây dựng số II Nghệ Anvay vốn khi chưa có bảo lãnh vay vốn của Công ty kể từ ngày 06/4/2001 ” và “Cácvăn bản của Công ty liên quan tới vay vốn tại Ngân hàng Công thương Nghệ An banhành trước ngày 06/4/2001 đều bãi bỏ”, nhưng ngày 14/5/2001 Ngân hàng vẫn kýHợp đồng tín dụng số 01/HĐTD cho Xí nghiệp xây dựng 4 vay tiền
Tòa án: Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợpđồng trên Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm lạitheo đúng quy định của pháp luật
Câu 1: Điểm mới của BLDS 2015 (so với BLDS năm 2005) về người đại diện.
Thứ nhất, pháp nhân có thể là người đại diện
Trang 3Tại Khoản 1 Điều 134 BLDS năm 2015 quy định: Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân(sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhânkhác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự Vớiquy định này không chỉ có cá nhân mà pháp nhân cũng có thể là người đại cho cá nhânhay một pháp nhân Một pháp nhân hoàn toàn có thể ủy quyền cho một pháp nhân khácnhân danh mình tham gia vào một quan hệ pháp luật nhất định mà hợp đồng ủy quyền đó
là hợp pháp Đây là một điểm mới về người đại diện so với LBSD 2005 Theo Điều 139BLDS 2005 thì người được đại diện chỉ có thể là cá nhân mà không thể là pháp nhân,theo đó cá nhân chỉ có thể ủy quyền cho cá nhân và pháp nhân chỉ có thể ủy quyền cho cánhân mà không cho phép pháp nhân ủy quyền cho một pháp nhân khác đại diện mìnhtham gia một quan hệ pháp luật
Khoản 2 Điều 134 BLDS 2015 đã quy định: Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiệngiao dịch dân sự thông qua người đại diện Như vậy, BLDS 2015 đã bãi bỏ cụm từ “chủthể khác” trong BLDS 2005 Việc xác lập và thực hiện giao dịch dân sự thông qua ngườiđại diện chỉ có cá nhân và pháp nhân mới được xác lập giao dịch thông qua người đạidiện còn các chủ thế khác theo quy định của BLDS thì không có quyền này
Thứ hai, pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật:
Tại BLDS 2015 đã tách riêng quy định về đại diện theo pháp luật của cá nhân và đại diệntheo pháp luật của pháp nhân, quy định tại 2 khoản của một điều luật Người đại diệntheo pháp luật của pháp nhân được quy định tại Điều 137 BLDS năm 2015 gồm: Ngườiđược pháp nhân chỉ định theo điều lệ; Người có thẩm quyền đại diện theo quy định củapháp luật; Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án Theo đó, quy định
cụ thể và rõ ràng hơn trong từng trường hợp so với quy định trước đây của BLDS 2005.Khoản 2 Điều 137 quy định: Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo phápluật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140,Điều 141 của Bộ luật này Việc quy định cho phép một pháp nhân có thể có nhiều ngườiđại diện theo pháp luật của BLDS 2015 đã bảo đảm sự tương thích với quy định của Luậtdoanh nghiệp 2014 trong việc quy định Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần
“có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật”
Thứ ba, quy định cụ thể về thời hạn đại diện:
Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung quy định về thời hạn đại diện mà Bộ luật dân sự 2005không quy định Cụ thể khoản 1 Điều 140 BLDS 2015 quy định: Thời hạn đại diện được
Trang 4xác định theo văn bản ủy quyền, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệcủa pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.
Bộ luật dân sự 2015 bổ sung quy định về việc xác định thời hạn đại diện trong trườnghợp không xác định được thời hạn đại diện theo văn bản ủy quyền; quyết định của cơquan có thẩm quyền; điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (Khoản 2Điều 140 BLDS 2015) Cụ thể: Nếu quyền đại diện được xác định theo giao dịch dân sự
cụ thể thì thời hạn đại diện được tính đến thời điểm chấm dứt giao dịch dân sự đó Nếuquyền đại diện không được xác định với giao dịch dân sự cụ thể thì thời hạn đại diện là
01 năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền đại diện
Với những quy định trên giúp người đại diện biết rõ được thời hạn đại diện của mình khitham gia đại diện cho bên ủy quyền hay bên được đại diện kí kết và thực hiện các giaodịch
Thứ tư, bổ sung quy định về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện thực hiện và do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện:
Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung điều khoản loại trừ đối với trường hợp giao dịchdân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền,nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ các trường hợp được quy định tại điểm a, b, cKhoản 1 Điều 142 BLDS 2015 (đó là: Người được đại diện đã công nhận giao dịch;người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý; người được đạidiện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người
đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện), đồng thời quyđịnh: Trường hợp người không có quyền đại diện và người đã giao dịch cố ý xác lập,thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịutrách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại
Bộ luật dân sự năm 2015 cũng bổ sung điều khoản loại trừ trong trường hợp giao dịchdân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phátsinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượtquá phạm vi đại diện, trừ các trường hợp quy định tại điểm a, b, c Khoản 1 Điều 143 (như
đã viện dẫn ở trên); đồng thời bổ sung quy định về giao dịch dân sự do người đại diện xáclập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của ngườiđược đại diện đối với phần giao dịch được xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diệnthì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần
Trang 5giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phảibiết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.
Câu 2: Trong Quyết định số 08, đoạn nào cho thấy ông Mạnh đại diện cho Hưng Yên xác lập hợp đồng với Vinausteel?
- Trong quyết định số 08/2013/KDTM-GĐT, đoạn cho thấy ông Mạnh đại diện cho HưngYên xác lập hợp đồng với Vinausteel là: “bởi lẽ, ngày 20/11/2006, bà Lê Thị Ngọc Lan
có giấy ủy quyền cho ông Lê Văn Mạnh - Phó Tổng Giám đốc Công ty kim khí HưngYên được thay mặt Công ty thực hiện các giao dịch kinh tế trong phạm vi hành nghề kinhdoanh , nên ngày 16/01/2007, ông Mạnh đại diện cho Công ty kim khí Hưng Yên kýhợp đồng mua bán phôi thép số 01/HĐTP/2007/VA-HY với Công ty Vinausteel.”
Câu 3: Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh có trách nhiệm gì với Vinausteel không?
- Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh không có trách nhiệm với Vinausteel vì: “Việcông Lê Văn Mạnh có Bản cam kết vào ngày 01/04/2007 Tuy nhiên, Công ty Vinausteelkhông tham gia ký kết, không đồng ý nên không thuộc trường hợp chuyển giao nghĩa vụdân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 315 Bộ luật dân sự năm 2005.”
- Và việc ông Mạnh cam kết chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty liên doanhsản xuất thép Vinausteel là việc nội bộ của Công ty kim khí Hưng Yên Do đó, Công tykim khí Hưng Yên phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và bồi thường thiệt hạicho Công ty Vinausteel chứ không phải cá nhân ông Mạnh, ông Dũng
=> Theo Hội đồng thẩm phán, ông Mạnh không có trách nhiệm với Vinausteel
Câu 4: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến ông Mạnh (có văn bản nào không về chủ đề này? Có thuyết phục không?)
- Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm là thuyết phục Mặc dù ông Mạnh được ủyquyền kí hợp đồng với Vinausteel, nhưng khi Công ty Hưng Yên không giao đủ hàng choVinausteel thì không thể để ông Mạnh chịu trách nhiệm hoàn toàn được Vì đó là tráchnhiệm của toàn bộ công ty Hưng Yên mà ông Mạnh cũng thực hiện giao dịch trong phạm
vi cho phép của mình, không hề vượt quá phạm vi Nhưng đó là đối với Vinausteel, cònđối với nội bộ công ty Hưng Yên thì ông Mạnh lại phải chịu trách nhiệm Theo khoản 3
Điều 16 Luật Doanh Nghiệp 2014 quy đinh: “người đại diện theo ủy quyền chịu trách trước chủ sở hữu, thành viên, cổ đông uy quyền do phạm vi các nghĩa vụ quy định tại Điều này Chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền chịu trách nhiệm trước bên thứ ba
Trang 6đối với trách nhiệm phát sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ được thực hiện thông qua người đại diện ủy quyền.”
Câu 5: Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm gì với Vinausteel không?
- Theo Hội đồng thẩm phán, Hưng Yên có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ và bồithường thiệt hại cho Vinausteel
Câu 6: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến Hưng Yên nêu trên.
- Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm là thuyết phục
- Vì ông Mạnh đã thực hiện đúng thẩm quyền trong phạm vi cho phép của mình Căn cứvào khoản 1 Điều 143 BLDS 2015 về người đại diện theo ủy quyền Mặt khác tại khoản 3
Điều 16 Luật Doanh Nghiệp 2014 quy đinh: “người đại diện theo ủy quyền chịu trách trước chủ sở hữu, thành viên, cổ đông uy quyền do phạm vi các nghĩa vụ quy định tại Điều này Chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền chịu trách nhiệm trước bên thứ ba đối với trách nhiệm phát sinh liên quan đến quyền và nghĩa vụ được thực hiện thông qua người đại diện ủy quyền.”
=>Như vậy việc công ty Hưng Yên phải chịu trách nhiệm với Vinausteel là thỏa đáng
Câu 7: Nếu ông Mạnh là đại diện theo pháp luật của Hưng Yên và trong hợp đồng
có thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài này có ràng buộc Hưng Yên không? Biết rằng điều lệ của Hưng Yên quy định mọi tranh chấp liên quan đến Hưng Yên (như tranh chấp phát sinh từ hợp đồng do đại diện theo pháp luật xác lập) phải được giải quyết tại Tòa án.
Nếu ông Mạnh là địa diện theo pháp luật của Hưng Yên và trong hợp đồng có thỏa thuậntrọng tài thì thỏa thuận này không ràng buộc Hưng Yên Vì:
- Bản chất của thỏa thuận trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏathuận của các bên tranh chấp
- Điều 19 Luật Trọng tài Thương mại 2010 chỉ rõ: “thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lậpvới hợp đồng Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thểthực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài” Tức là dù thỏa thuậntrọng tài được thay thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp đồng chínhhay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thỏa thuận trọng tài thựcchất là hợp đông nhỏ có nội dung khác biệt và giá trị độc lập với hợp đồng chính
Trang 7“ 2 Trong trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận thì bên mua có một trong các quyền sau đây:
a) Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại;
b) Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu;
c) Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
- Khoản 2 Điều 437 BLDS 2015 quy định:
“2 Trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận thì bên mua có một trong các quyền sau đây:
a) Nhận phần đã giao và định thời hạn để bên bán giao tiếp phần còn thiếu;
b) Nhận phần đã giao và yêu cầu bồi thường thiệt hại;
c) Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc vi phạm làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.”
B
ài 2: Trường hợp đại diện không hợp lệ
Câu 1: Trong Quyết định số 10, đoạn nào cho thấy người xác lập hợp đồng với Ngân hàng không được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)?
Trong Quyết định số 10/2013/KDTM-GĐT, đoạn cho thấy người xác lập hợp đồng vớiNgân hàng không được Vinaconex ủy quyền (không có thẩm quyền đại diện để xác lập)là: “Theo tài liệu do Công ty xây dựng số II Nghệ An xuất trình thì ngày 26/3/2001, Công
ty xây dựng số II có Công văn số 263 CV/XD2.TCKT quy định về việc vay vốn tín dụngcủa các đơn vị trực thuộc và ngày 06/4/2001, Công ty xây dựng số II Nghệ An có Côngvăn số 064CV/XDII.TCKT gửi Chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An trong đó cónội dung “đề nghị Ngân hàng Công thương Nghệ An không cho các Xí nghiệp thuộcCông ty xây dựng số II Nghệ An vay vốn khi chưa có bảo lãnh vay vốn của Công ty kể
từ ngày 06/4/2001 ” và “Các văn bản của Công ty liên quan tới vay vốn tại Ngân hàngCông thương Nghệ An ban hành trước ngày 06/4/2001 đều bãi bỏ”, nhưng ngày14/5/2001 Ngân hàng vẫn ký Hợp đồng tín dụng số 01/HĐTD cho Xí nghiệp xây dựng 4vay tiền.”
Câu 2: Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngân hàng về hợp đồng trên không?
- Trong vụ việc trên, theo Tòa giám đốc thẩm, Vinaconex có chịu trách nhiệm với Ngânhàng về hợp đồng trên
- Toàn án buộc Công ty cổ phần xây dựng 16-Vinaconex phải trả khoản nợ gốc và lãi choNgân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Trang 8Câu 3: Cho biết suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm.
- Khoản 3 Điều 92 BLDS 2005: Xí nghiệp số 4 là đơn vị trực thuộc của Công ty xâydựng số II Nghệ An Vì vậy, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng củapháp nhân nên việc Xí nghiệp 4 mà đại diện là ông Tâm - giám đốc Xí nghiệp kí hợpđồng với Ngân hàng với mục đích để đầu tư mua máy móc thiết bị nâng cao năng lực thicông là hợp lí
- Khoản 5 Điều 92 BLDS 2005 thì Công ty xây dựng số II có các quyền, nghĩa vụ phátsinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh xác lập, thực hiện tức là có quyền quyết định chochi nhánh số 4 vay hoặc không vay nhưng trong bản án thì Công thi xây dựng số II Nghệ
An đã có quyết định số 02/QĐ-CT ngày 9/2/2001 về việc phê duyệt dự án và đề nghị của
Xí nghiệp số 4 Tiếp đến ngày 25/2/2001, Tổng Công ty xây dựng số II Nghệ An có vănbản số 23 CV/TCT thông báo cho chi nhánh Ngân hàng Công thương Nghệ An biết việccông ty đồng ý cho Xí nghiệp xây dựng 4 trực tiếp vay vốn tai chi nhánh Ngân hàngCông thương Nghệ An nên Công ty xây dựng số II phải chịu trách nhiệm là hợp lí
- Với Điều 144 BLDS 2005 thì ông Tâm là người đại diện xác lập giao dịch vì lợi ích củacông ty để nâng cấp năng lực thi công nên nên hướng giải quyết của Tòa là hợp lí
- Theo Điều 145 BLDS 2005 thì ông Tâm là người đại diện không hợp lệ nhưng trongquá trình vay vốn thì đã được sự đồng ý của công ty xây dựng số II Bản án cũng khôngđưa ra rõ ràng là ông Tâm có nhận được công văn phản đối của ông Thuận hay khôngnhưng ngày 14/05/2001 ngân hàng kí hợp đồng tín dụng cho xí nghiệp 4 vay tiền, thờiđiểm này ông Tâm là đại diện không hợp lệ Nhưng xét trong 3 trường hợp ta có:
+ Trường hợp 1: Nếu ông Tâm và ngân hàng đều không nhận được công văn phản đối thìquyết định của Tòa là hợp lí
+ Trường hợp 2: Nếu xét ông Tâm là người nhận được công văn phản đối từ cấp trênnhưng vẫn kí hợp đồng với ngân hàng mà ngân hàng không biết thì ông Tâm và ông Toànphải chịu trách nhiệm
+ Trường hợp 3: Nếu cả hai bên cùng biết về công văn phản đối mà vẫn xác lập thì đạidiện chi nhánh số 4 và ngân hàng liên đới giải quyết
Câu 4: Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phản đối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đại diện) thì phải xử lý như thế nào trên cơ sở BLDS 2015? Vì sao?
Trang 9- Nếu hoàn cảnh tương tự như trong Quyết định số 10 nhưng chỉ phía Ngân hàng phảnđối hợp đồng (yêu cầu hủy bỏ hợp đồng do người đại diện Vinaconex không có quyền đạidiện) thì căn cứ vào điều 142 BLDS 2015 xử lý theo 2 trường hợp:
+ Theo khoản 1 điều 142 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự do người không có quyền đạidiện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện,trừ một trong các trường hợp sau đây:
a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;
b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;
c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thểbiết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đạidiện
=> Nếu công ty Vinaconex đã công nhận giao dịch hoặc biết mà không phản đối trongmột thời hạn hợp lý hoặc có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc khôngthể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyềnđại diện thì công ty Vinaconex phải chịu trách nhiệm và bồi thường cho ngân hàng
+ Theo khoản 2 BLDS 2015: “Trường hợp giao dịch dân sự do người không có quyền đạidiện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diệnthì người không có quyền đại diện vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịchvới mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyềnđại diện mà vẫn giao dịch.”
=> Nếu công ty Vinaconex không công nhận hoặc phản đối giao dịch thì người đại diệncủa Vinaconex mà không có quyền đại diện phải có trách nhiệm bồi thường cho ngânhàng
Bài 3: Hình thức sở hữu tài sản
Tóm tắt Quyết định số 377/2008/DS-GDT:
Nguyên đơn: Bà Cao Thị Xê
Bị đơn: - Chị Vũ Thị Thu Hương
- Anh Nguyễn Quốc Chính
Nội dung tranh chấp: Bà Xê khởi kiện yêu cầu tòa án chia di sản do ông Lưu để lại(cụ thể là căn nhà số 150/6A trên diện tích đất 101m2) theo di chúc Chị Xê cho rằngcăn nhà là tài sản riêng của ông Lưu, bà Xê lấy ông Lưu là bất hợp pháp nên khôngđồng ý yêu cầu của bà Xê Còn bà Thẩm (mẹ chị Hương) khẳng định căn nhà là tài
Trang 10sản chung của bà và ông Lưu nên đề nghị giải quyết theo pháp luật để hưởng di sảncùng chị Hương.
Quyết định của tòa án: Tòa án đã giải quyết theo hướng công nhận di chúc của ôngLưu là hợp pháp, bà Xê được hưởng toàn bộ căn nhà Đồng thời chia cho bà Thẩm2/3 kỷ phần thừa kế vì bà Thẩm là vợ hợp pháp, có công nuôi dưỡng con chung vàkhông còn khả năng lao động
Câu 1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về hình thức sở hữu tài sản.
- BLDS 2015 quy định 3 hình thức sở hữu (Sở hữu toàn dân; Sở hữu chung; Sở hữuchung) thay vì 6 hình thức sở hữu như BLDS 2005 (Sở hữu nhà nước; Sở hữu tập thể; Sởhữu tư nhân; Sở hữu chung; Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; Sở hữucủa tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp)
- Sở hữu toàn dân:
+ Tại điều 206 BLDS 2005 và điều 203 BLDS 2015: thay quyền của “doanh nghiệp, hộgia đình, tổ hợp tác” thành “quyền của pháp nhân”
Câu 2: Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt có được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với bà Thẩm không? Đoạn nào của Quyết định số 377 (sau đây viết gọn là Quyết định 377) cho câu trả lời?
Trang 11- Căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt không được ông Lưu tạo lập trong thời kỳ hônnhân với bà Thẩm.
- Quyết định số 377 có ghi rõ: “căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lậptrong thời kì hôn nhân giữa ông và bà Thẩm,nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vàomiền Nam công tác và căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông, bà Thẩmkhông có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhànày.’’
Câu 3: Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà hay sở hữu riêng của ông Lưu ? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?
- Theo bà Thẩm, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của vợ chồng bà
- Căn cứ vào lời khai của bà Thẩm trong quyết định số 377: “Bà Thẩm cho rằng căn nhà
số 150/6A Lý Thường Kiệt trên diện tích 101m2 đất là tài sản chung của vợ chồng bà nênkhông nhất trí theo yêu cầu của bà Xê.”
Câu 4: Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu chung của ông Lưu, bà Thẩm hay thuộc sở hữu riêng của ông Lưu? Đoạn nào của Quyết định 377 cho câu trả lời?
- Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, căn nhà trên thuộc sở hữu riêng của ông Lưu
- Quyết định 377 có ghi rõ: “căn nhà số 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lậptrong thời kì hôn nhân giữa ông và bà Thẩm, nhưng từ năm 1975 ông Lưu đã chuyển vào
miền Nam công tác và căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu nhập của ông, bà Thẩm
không có đóng góp về kinh tế cũng như công sức để cùng ông Lưu tạo lập ra căn nhànày.’’
Câu 5: Anh/chị có suy nghĩ gì về giải pháp trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao?
- Hướng giải quyết trên của tòa án là họp tình hợp lí vì:
+ Căn cứ vào Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì: “Tài sản chung của vợ chồnggồm tài sản do vợ, chồng tại ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh,hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hônnhân ”
+ Căn nhà 150/6A Lý Thường Kiệt được ông Lưu tạo lập bằng nguồn thu nhập riêng khi
đã chuyển vào miền Nam Bà Thẩm hoàn toàn không có đóng góp cũng như chưa từngvào miền Nam để thăm ông Lưu
=> Căn nhà thuộc quyền sở hữu của riêng ông Lưu là hợp lí
Trang 12Câu 6: Nếu căn nhà trên là tài sản chung của ông Lưu, bà Thẩm thì ông Lưu có thể di chúc định đoạt toàn bộ căn nhà này không? Nêu căn cứ pháp lý khi trả lời.
Bài 4: Diện thừa kế
Câu 1: Bà Thẩm, chị Hương và bà Xê có thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu không ? Vì sao?
Câu trả lời:
- Căn cứ theo điểm a, khoản 1 điều 651, BLDS 2015: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ,chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.”
- Chỉ có bà Thẩm và chị Hương thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu.Vì:
+ Bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu, chị Hương là con gái của ông Lưu và bà Thẩm + Quan hệ hôn nhân giữa ông Lưu và bà Xê là vi phạm pháp luật
Câu 2: Nếu ông Lưu kết hôn với bà Xê vào cuối năm 1976 thì câu trả lời cho câu hỏi trên có khác không? Vì sao?
=>> Vì ông Lưu kết hôn và bà Xê là ở miền Nam trước ngày 25/3/1977 nên bà Xêthuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Lưu
Trang 13Câu 3: Trong vụ việc này, chị Hương có được chia di sản của ông Lưu không? Vì sao?
Trong vụ việc này, chị Hương không được chia di sản của ông Lưu.Vì:
+ Di chúc của ông Lưu được công nhận là di chúc hợp pháp nên bà Xê được hưởng toàn
bộ di sản của ông Lưu và bà Thẩm được thừa kế 2/3 kỷ phần thừa kế theo pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc
+ Căn cứ theo khoản 1 điều, 644 BLDS 2015 về Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:” Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần
di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”
=>> Chị Hương đã thành niên và có khả năng lao động nên không được hưởng phần di sản theo quy định của pháp luật
Câu 4: Theo pháp luật hiện hành ở thời điểm nào người thừa kế có quyền sở hữu đối với tài sản là di sản do người quá cố để lại Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo pháp luật hiện hành tại thời điểm được chia theo di chúc hoặc pháp luật và ngườithừa kế là:
+ Người được người để lại di sản định đoạt theo di chúc
+ Người thừa kế theo pháp luật theo quy định tại Điều 676 BLDS 2005
Điều 614 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” Quy định này cho thấy, kể
từ thời điểm mở thừa kế, những người hưởng thừa kế có quyền hưởng di sản của ngườichết để lại, thời điểm này những người thừa kế chưa có quyền sở hữu đối với di sản thừa
kế dù về nguyên tắc họ có quyền yêu cầu chia di sản bất cứ lúc nào kể từ thời điểm mởthừa kế Quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản được diễn ra ở hai thờiđiểm khác nhau trong quá trình thực hiện các bước của quan hệ pháp luật thừa kế Quyềnhưởng di sản là căn cứ, tiền đề cho việc thực hiện quyền hưởng di sản
Câu 5: Trong quyết định số 08 theo nội dung của bản án ở thời điểm nào người thừa
kế có quyền sở hữu nhà và đất có quyền tranh chấp? Vì sao?
Tại quyết định số 08/2013/DS-GĐT những người thừa kế của ông hà có quyền sơ hữu đấttranh chấp sau khi ông Hà chết 12/5/2008
Trang 14Bởi vì sau khi để lại di sản chết thì người thừa kế có quyền và nghĩa vụ đối với di sản đótheo quy định tại Điều 635 BLDS 2005 về người thừa kế
Bài 5: Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Tóm tắt Bản án số 2493/2009/DS-ST ngày 04/09/2009 của Tòa án nhân dân Tp Hồ Chí Minh
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Khót, ông An Văn Tâm
Bị đơn: Ông Nguyễn Tài Nhật
Tranh chấp: Tranh chấp về thừa kế di sản
Lý do: Cụ Khánh và cụ Lầm có hai người con chung là bà Khót và ông Tâm, cụKhánh và cụ Ngọt có một người con chung là ông Nhật Sau khi cụ Khánh mất để lại
di chúc cho ông Tài hưởng toàn bộ di sản Nhưng tại thời điểm mở thừa kế bà Khót đãgià yếu, ông Tâm thương binh 2/4 mất 72% sức lao động vì vậy hai người yêu cầuđược hưởng một phần di sản cụ Khánh để lại
Quyết định của Tòa án: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Khót, ông Tâm vềviệc hưởng di sản của cụ Khánh mỗi người 400.000.000 đồng theo diện những ngườiđược hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Câu 1: Đoạn nào của quyết định cho thấy ông Lưu đã định đoạt bằng di chúc toàn
bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê ?
Đoạn cho thấy ông Lưu đã định đoạt di chúc toàn bộ tài sản của ông Lưu cho bà Xê là:
“Việc ông Lưu lập văn bản để là di chúc ngày 27/7/2002 là thể hiện ý chí của ông Lưu đểlại tài sản của ông cho bà Xê là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật”
Câu 2: Bà Xê, bà Thẩm, chị Hương có thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu không? Vì sao?
Căn cứ vào Điều 669 BLDS 2005 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của dichúc:
“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc hưởng ít hơn hai phần ba suất đó trừ khi
họ là những người từ chối nhận theo quy định tại Điều 642 hoặc là những người không
có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643”
=>Nên bà Xê, bà Thẩm, chị Hương thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vàonội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu
Trang 15Câu 3: Theo tòa án dân sự nhân dân tối cao vì sao bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông Lưu? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời.
Theo tòa án dân sự nhân dân tối cao bà Thẩm được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào
di chúc đối với di sản của ông Lưu vì bà Thẩm là vợ hợp pháp của ông Lưu và không cònkhả năng lao động Đoạn của quyết định cho câu trả lời:
“Tuy nhiên do bà Thẩm đang là vợ hợp pháp của ông Lưu đã già yếu không còn khả nănglao động theo quy định điều 669 blds thì bà thẩm được thừa kế tài sản của ông lưu màkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc của ông Lưu”
Câu 4: Nếu bà Thẩm khỏe mạnh có khả năng lao động thì có được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đối với di sản của ông lưu không? Vì sao?
Nếu bà Thẩm khỏe mạnh có khả năng lao động thì được hưởng thừa kế không phụ thuộcvào nội dung của di chúc đối với di sản của ông lưu vì Căn cứ vào Điều 669 BLDS 2005
về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc:
“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc hưởng ít hơn hai phần ba suất đó trừ khi
họ là những người từ chối nhận theo quy định tại Điều 642 hoặc là những người không
có quyền hưởng di sản theo quy định.”
Câu 5: Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 triệu đồng thì bà thẩm sẽ được hưởng quyền là bao nhiêu?Vì sao?
Nếu di sản của ông Lưu có giá trị 600 triệu đồng thì bà Thẩm sẽ được hưởng quyền là haiphần ba của một suất thừa kế theo pháp luật
Căn cứ vào Điều 669 BLDS 2005 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di
chúc: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc hưởng ít hơn hai phần ba suất đó.”
Câu 6: Nếu bà thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm có được chấp nhận không? Vì sao?
Nếu bà thẩm yêu cầu được chia di sản bằng hiện vật thì yêu cầu của bà Thẩm được chấpnhận Vì khi lúc đầu ông Lưu và bà Thẩm kết hôn tài sản chung của vợ chồng là 1 cănnhà số 150/6a Lý Thường Kiệt diện tích 101m2 thành phố Mỹ Tho mặc dù sau năm 1975ông Lưu đã vào miền Nam công tác và căn nhà được tạo lập bằng nguồn thu của ông Lưu