1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận Luật thương mại

17 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 40,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân 2 1 1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân 2 1 2 Nội dung pháp luật về doanh nghiệp tư nhân 4 II Vai trò của doanh nghiệp tư nhân đối với n.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân 2

1.1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân 2

1.2 Nội dung pháp luật về doanh nghiệp tư nhân 4

II Vai trò của doanh nghiệp tư nhân đối với nền kinh tế nước ta 10

III Kiến nghị đề xuất 12

KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một tế bào kinh tế, là một đơn vị độc lập tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam được đánh giá là một trong các hình thức kinh tế năng động và linh hoạt nhất trong các hình thức kinh tế tồn tại ở nước ta hiện nay Luật Doanh nghiệp 2014 đã có nhiều điểm mới, sửa đổi bổ sung những điều khoản từ Luật Doanh nghiệp 1990, 1999 và 2005, từ đó góp phần làm giảm đi các rào cản về mặt thủ tục đối với các doanh nghiệp tư nhân Hệ thống doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia nói chung và sự tăng trưởng GDP hằng năm của cả nước nói riêng; cùng với quá trình hội nhập

và yêu cầu cấp thiết là phải nhanh chóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, doanh nghiệp tư nhân ngày càng chiếm một vị trí không thể thiếu trong quá trình thúc đẩy nền kinh tế của cả nước phát triển Sản lượng doanh nghiệp của hệ thống doanh nghiệp tư nhân tăng trưởng mạnh qua các năm và chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng sản lượng công nghiệp Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tư nhân cũng tuyển một lượng lớn lao động nhân công và giúp giải quyết tình trạng thất nghiệp hiện nay Để tìm hiểu rõ hơn về các vấn đề xoay quanh doanh ngiệp tư nhân và vai trò của nó đối với nền kinh tế Việt Nam, em xin lựa

chọn đề tài nghiên cứu: “Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân (DNTN)? Vai trò của doanh nghiệp tư nhân đối với nền kinh tế nước ta”.

Trang 3

NỘI DUNG

I Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

1.1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp và doanh nghiệp tư nhân

Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Doanh nghiệp

là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.

Khoản 1 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Doanh nghiệp

tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”.

1.1.2 Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

a Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ

Trong doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân duy nhất làm chủ sở hữu, nguồn vốn của doanh nghiệp chủ yếu xuất phát từ tải sản của một cá nhân duy nhất Phần vốn này sẽ do chủ doanh nghiệp tự khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh và được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán của doanh nghiệp Theo đó,

cá nhân chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ đưa vào kinh doanh một số vốn nhất định trong khối tài sản thuộc sở hữu của cá nhân mình và về nguyên tắc, tài sản đưa vào kinh doanh đó là tài sản của doanh nghiệp tư nhân Chính vì điều này có thể thấy ranh giới giữa phần tài sản và vốn đưa vào kinh doanh và phần tài sản còn lại của chủ doanh nghiệp không có sự phân biệt rõ ràng

Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất, vì vậy cá nhân chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp có quyền định đoạt đối với tài sản doanh nghiệp cũng như có toàn quyền quyết định việc tổ chức quản lý doanh nghiệp để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả nhất Chủ doanh nghiệp

có thể tự mình quản lý hoặc thuê người quản lý doanh nghiệp của mình nhưng

về cơ bản, người chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật và các bên thứ ba

Trang 4

đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn là chủ doanh nghiệp tư nhân

Do doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ sở hữu nên vấn đề phân chia lợi nhuận không khó để giải quyết mà toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thuộc về một mình chủ doanh nghiệp, sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với Nhà nước và các bên thứ ba Đây tuy là một

ưu điểm khi kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp một chủ song việc một cá nhân duy nhất có quyền hưởng lợi nhuận cũng có nghĩa cá nhân duy nhất đó sẽ

có nghĩa vụ chịu mỏi rủi ro trong kinh doanh mà không thể yêu cầu người khác gánh đỡ những rủi ro này

b Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân và là loại hình doanh nghiệp duy nhất không có tư cách pháp nhân Việc không có tư cách pháp nhân cũng khiến doanh nghiệp tư nhân gặp phải một số khó khăn nhất định và bị hạn chế ít nhiều trong hoạt động thương mại dưới sự điều chỉnh của pháp luật hiện hành Một ví dụ cụ thể về khó khăn mà doanh nghiệp tư nhân gặp phải đó là: Hiện nay, trong lĩnh vực tín dụng Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 (Thông tư 39) quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Theo đó tại tại Khoản 5 điều 2 Thông tư quy định tổ chức tín dụng chỉ được cho chủ doanh nghiệp tư nhân vay vốn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp tư nhân, tổ chức tín dụng không được trực tiếp ký kết hợp đồng với doanh nghiệp tư nhân Như vậy theo thông tư này thì doanh nghiệp tư nhân không phải là chủ thể tham gia ký kết các hợp đồng tín dụng, điều này đã khẳng định doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, vì vậy doanh nghiệp tư nhân không thể nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập

c Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp tư nhân

Trang 5

Đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, do tính chất độc lập về tài sản của doanh nghiệp không có nên chủ doanh nghiệp tư nhân – người chịu trách nhiệm duy nhất trước mọi rủi ro của doanh nghiệp sẽ phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn Chủ doanh nghiệp tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong phạm vi phần vốn đầu tư đã đăng kí với cơ quan đăng kí kinh doanh mà phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình trong trường hợp phần vốn đầu tư đã đăng kí không đủ để trang trải các khoản

nợ của doanh nghiệp tư nhân Vì vậy, bên cạnh những hạn chế do không có tư cách pháp nhân, doanh nghiệp tư nhân còn phải chịu một số hạn chế khác như:

“Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào 1 ”,

“Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh 2 ”, “Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua vổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần 3 ”

1.2 Nội dung pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

1.2.1 Quy chế pháp lý về hình thành và chấm dứt hoạt động của Doanh

nghiệp tư nhân

a Đăng kí kinh doanh doanh nghiệp tư nhân

 Điều kiện đăng kí kinh doanh

- Điều kiện về chủ thể

Xuất phát từ việc doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân duy nhất làm chủ,

cá nhân này chính là người trực tiếp thành lập và quản lý doanh nghiệp tư nhân, cho nên điều kiện để trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân cũng chính là các điều kiện được quy định tại Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Theo đó, một số

cá nhân sau đây không thể trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân:

1 Khoản 2 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014

2 Khoản 3 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014

3 Khoản 4 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 6

+ Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; + Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

+ Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân…

+ Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

+ Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc

bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;

+ Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh…

+ Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản

- Điều kiện về vốn

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, để thành lập một doanh nghiệp tư nhân, chủ đầu tư không phải đáp ứng điều kiện bắt buộc về một số vốn tối thiểu phải có nếu doanh nghiệp không đăng kí kinh doanh trong những ngành nghề thuộc danh mục phải có vốn pháp định Tuy nhiên, đã là đăng kí để thực hiện hoạt động kinh doanh thì phải có vốn Vốn ban đầu của doanh nghiệp

tư nhân sẽ do chủ doanh nghiệp tư nhân tự khai và chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn ban đầu này

- Các điều kiện khác

Thứ nhất, điều kiện về ngành nghề kinh doanh

Điều 33 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Như vậy, chủ đầu tư

có thể lựa chọn bất cứ ngành nghề nào nằm ngoài nhóm ngành nghề bị cấm kinh doanh, đặc biệt đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì việc chọn

Trang 7

ngành nghề kinh doanh được coi là hợp pháp khi chủ đầu tư đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật liên quan đến ngành nghề đó

Thứ hai, điều kiện về tên doanh nghiệp

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 38 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Tên riêng của doanh nghiệp được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng việt, các chữ F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu, bao gồm hai thành tố theo thứ tự: Loại hình doanh nghiệp và tên riêng Như vậy, với quy định này, tên của tất cả các doanh nghiệp tư nhân đều phải kèm theo cụm từ “doanh nghiệp tư nhân”,

“DNTN”, hoặc “doanh nghiệp TN” Ngoài ra, pháp luật còn nêu ra một số

trường hợp cấm trong khi lựa chọn tên cho doanh nghiệp như: “Đặt tên trùng hoặc tên gầy nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký được quy định tại Điều 42 của Luật này 4 ”, “Sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó 5 ”, “Sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc 6 ”.

Ngoài ra, pháp luật cũng cho phép các doanh nghiệp được dịch tên doanh nghiệp sang tiếng nước ngoài hoặc viết tắt, tuy nhiên trong mọi trường hợp vẫn phải thể hiện đầy đủ tên doanh nghiệp bằng Tiếng Việt trên biển hiệu của doanh nghiệp

1.2.2 Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp tư nhân

 Giải thể doanh nghiệp tư nhân

Theo Điều 201 Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp tư nhân giải thể theo các trường hợp sau đây:

4 Khoản 1 Điều 39 Luật Doanh nghiệp năm 2014

5 Khoản 2 Điều 39 Luật doanh nghiệp năm 2014

6 Khoản 3 Điều 39 Luật doanh nghiệp năm 2014

Trang 8

Thứ nhất, theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân Đây là trường

hợp giải thể tự nguyện, phụ thuộc vào ý chí và sự lựa chọn rộng rãi của chủ doanh nghiệp tư nhân

Thứ hai, bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Giấy chứng nhận

đăng ký kinh doanh chính là loại giấy tờ quan trọng nhất của doanh nghiệp, nó chứng tỏ Nhà nước công nhận doanh nghiệp tư nhân là một chủ thể kinh doanh

và có thẩm quyền kinh tế Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có nghĩa là Nhà nước rút lại sự công nhận tư cách chủ thể kinh doanh đối với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp tư nhân sẽ không còn thẩm quyền kinh

tế, không còn được tiến hành các hoạt động kinh doanh, mục đích của việc thành lập doanh nghiệp không có cơ hội để thực hiện nữa Vì vậy, sự tồn tại cảu doanh nghiệp này sẽ không còn ý nghĩa nữa

 Phá sản doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn Tại khoản

1 Điều 110 Luật phá sản năm 2014 quy định: “Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản quy định tại các điều 105, 106, 107 của Luật này

không miễn trừ nghĩa vụ về tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên

hợp danh của công ty hợp danh đối với chủ nợ chưa được thanh toán nợ, trừ trường hợp người tham gia thủ tục phá sản có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Vì vậy, khi doanh nghiệp tư nhân lâm vào tình trạng phá sản, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn sẽ phải thanh toán các khoản nợ theo quy định của pháp luật phá sản cho đến hết tài sản hiện có của chủ doanh nghiệp

1.2.3 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp tư nhân

a Quyền của doanh nghiệp tư nhân

 Doanh nghiệp tư nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp

Đây là quyền cơ bản nhất của doanh nghiệp tư nhân do doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ duy nhất Tài sản của doanh nghiệp tư nhân chính là tài sản

Trang 9

của cá nhân chủ doanh nghiệp nên tài sản của doanh nghiệp khó tách bạch với tài sản dân sự của chủ doanh nghiệp tư nhân Thêm vào đó, vốn của doanh nghiệp tư nhân là do chủ doanh nghiệp tư nhân tự khai và chủ doanh nghiệp có quyền tự tăng giảm vốn đầu tư mà không phải khai bảo với cơ quan đăng kí kinh doanh, trừ trường hợp giảm vốn đầu tư xuống dưới mức đã đăng kí Như vậy, về nguyên tắc, doanh nghiệp tư nhân sẽ có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản của doanh nghiệp

 Doanh nghiệp tư nhân có quyền chủ động lựa chọn ngành nghề, địa bàn đầu tư, hình thức đầu tư, chủ động mở rộng quy mô và ngành nghề kinh doanh đồng thời, doanh nghiệp tư nhân có quyền chủ động tìm kiếm thị trường khách hàng và kí kết hợp đồng

Xuất phát từ nguyên tắc tự do kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân sau khi được thừa nhận về mặt pháp lí sẽ trở thành chủ thể kinh doanh độc lập, có quyền kinh doanh đúng với ngành nghề đã đăng kí

Doanh nghiệp tư nhân có quyền từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định của bất kì cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào, trừ những khoản tự nguyện đóng góp vì mục đích nhân đạo và công ích; ngoài ra, còn có quyền khiếu nại, tố cáo và trực tiếp hoặc thông qua người đại diện để tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật

Bên cạnh có các quyền của một doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân còn

có các quyền đặc thù khiến nó trở thành một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, cụ thể:

Thứ nhất, quyền cho thuê doanh nghiệp tư nhân

Điều 186 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình nhưng phải thống báo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến Cơ quan đăng kí kinh doanh, cơ quan thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hợp đồng cho thuê có hiệu lực thi hành Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở

Trang 10

hữu doanh nghiệp Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu và người thuê đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định, trong hợp đồng cho thuê” Theo đó, mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp tư nhân và người thuê

doanh nghiệp tư nhân là mối quan hệ thiết lập trên cơ sở hợp đồng cho thuê Trong mọi trường hợp, trong thời gian cho thuê, trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn tồn tại đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp

Thứ hai, quyền bán doanh nghiệp tư nhân

Điều 187 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định:

“1 Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác

2 Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác

3 Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động

4 Người mua doanh nghiệp phải đăng kí thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật này.”

Như vậy, Việc bán toàn bộ doanh nghiệp tư nhân được hiểu là việc chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp tư nhân cho người khác, bao gồm việc bán các tài sản và các giá trị khác của doanh nghiệp tư nhân (không giới hạn ở những giá trị hữu hình) Tuy nhiên, bán doanh nghiệp tư nhân không có nghĩa là sau khi hoàn tất thủ tục mua bán, bên mua có thể sử dụng tư cách pháp lý của doanh nghiệp tư nhân đã mua để tiến hành các hoạt động kinh doanh Bên mua phải đăng ký kinh doanh lại để hoạt động kinh doanh trên cơ sở doanh nghiệp tư nhân đã mua, nói cách khác việc bán doanh nghiệp tư nhân thực chất chỉ là chuyển nhượng các tài sản của doanh nghiệp mà không chuyển nhượng tư cách pháp lý Chỉ khi người mua tiến hành đăng ký lại cho doanh nghiệp tư nhân với

Ngày đăng: 15/09/2022, 15:31

w