1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận Luật sở hữu trí tuệ

21 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tiểu luận Luật sở hữu trí tuệ
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 45,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 2 1 Cơ sở lý luận về quyền tác giả 2 1 1 Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả 2 1 2 Khái quát về tác phẩm 6 1 3 Chủ thể của quyền tác giả 7 2 Điều kiện bảo hộ quyền tá.

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 2

1 Cơ sở lý luận về quyền tác giả 2

1.1 Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả 2

1.2 Khái quát về tác phẩm 6

1.3 Chủ thể của quyền tác giả 7

2 Điều kiện bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) 8

2.1 Bảo hộ quyền tác giả 8

2.2 Điều kiện bảo hộ quyền tác giả 10

3.Những bất cập và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền tác giả 13

4.Một số kiến nghị đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về chế định bảo hộ quyền tác giả 16

C KẾT LUẬN 18

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 2

A. MỞ ĐẦU

Trong thời đại hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giảnói riêng đang được coi là những biện pháp hữu hiệu nhất giúp bảo vệ quyền lợichính đáng cho các tác giả, chủ sở hữu tác phẩm khỏi các hành vi xâm phạmcủa kẻ xấu; tác động mạnh mẽ để phát huy sự sáng tạo của mỗi cá nhân, tổchức, doanh nghiệp nhằm cho ra đời nhiều tác phẩm trí tuệ mới, góp phầnkhông nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế và phát huy các giá trị văn hóa,tinh thần của đất nước Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước

ta, cùng với công cuộc hội nhập không ngừng với các nước trên thế giới, ngàycàng xuất hiện nhiều các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung,quyền tác giả nói riêng với thủ đoạn hết sức tinh vi và xảo quyệt Chính vì vậy,hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền tác giả luôn được đánh giácao và quan tâm thực hiện Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin lựa chọn đề tài

nghiên cứu: “Điều kiện bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) – Những bất cập và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật”

Trang 3

B NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận về quyền tác giả

1.1 Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả

1.1.1 Khái niệm quyền tác giả

Ở Việt Nam, quyền tác giả là phạm vi những quyền mà pháp luật thừanhận và bảo hộ đối với tác giả có tác phẩm Điều 18 Luật SHTT1 năm 2005 (sửa

đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản” Ta có thể hiểu quyền tác

giả theo hai hướng:

Thứ nhất, về phương diện khách quan: Quyền tác giả là tổng hợp các quy

phạm pháp luật về quyền tác giả nhằm xác nhận và bảo vệ quyền tác giả, củachủ sở hữu quyền tác giả, xác định nghĩa vụ của các chủ thể trong việc sáng tạo

và sử dụng các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Quy định trình tự thựchiện và bảo vệ các quyền đó khi có hành vi xâm phạm

Thứ hai, về phương diện chủ quan: Quyền tác giả là quyền dân sự cụ thể

của chủ thể với tư cách là tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tácphẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học và quyền khởi kiện khi quyềncủa mình bị xâm phạm

Ngoài ra, ở một phương diện khác, quyền tác giả còn được hiểu là quan hệpháp luật dân sự Đó là quan hệ xã hội giữa tác giả cũng như chủ sở hữu quyềntác giả với các chủ thể khác thông qua tác phẩm, dưới sự tác động của quy

1 Sở hữu trí tuệ

Trang 4

phạm pháp luật, quan hệ đó được xác định Quan hệ pháp luật về quyền tác giả

là quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối với các chủ thể của quyền được xác định

và các chủ thể khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền đó

1.1.2 Đặc điểm của quyền tác giả

Quyền tác giả là một quyền bộ phận trong quyền sở hữu trí tuệ nên nómang những đặc điểm chung của quyền sở hữu trí tuệ như: tính vô hình của đốitượng; được bảo hộ trong thời hạn nhất định Ngoài những đặc điểm chung đó,quyền tác giả còn có những đặc điểm riêng biệt:

Thứ nhất, đối tượng của quyền tác giả luôn mang tính sáng tạo, được bảo

hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật

Đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoahọc Tác phẩm là thành quả lao động sáng tạo của tác giả được thể hiện dướihình thức nhất định Mọi cá nhân đều có quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật,khoa học và khi cá nhân tạo ra tác phẩm trí tuệ, không phụ thuộc vào giá trị nộidung và nghệ thuật đều có quyền tác giả đối với tác phẩm Tác phẩm phải do tácgiả trực tiếp thực hiện lao động trí tuệ của mình mà không phải sao chép từ tácphẩm của người khác Tác phẩm sẽ được nhiều người biết đến, sử dụng nếu cónội dung phong phú, hình thức thể hiện sáng tạo được kết hợp bởi giá trị nghệthuật, khoa học và kinh nghiệm nghề nghiệp của tác giả

Thứ hai, quyền tác giả thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm

Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi nóđược tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dungsáng tạo tác phẩm Quyền tác giả chỉ được giới hạn trong phạm vi thể hiện cụthể của tác phẩm Những ý tưởng chỉ có trong suy nghĩ của tác giả mà chưađược thể hiện ra bên ngoài thì sẽ không được công nhận và bảo hộ

Thứ ba, hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động

Trang 5

Quyền tác giả được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tácgiả, không phụ thuộc vào thể thức, thủ tục nào Từ thời điểm tạo ra tác phẩm,tác giả được bảo hộ về mặt pháp lý và có các quyền của người sáng tạo màkhông phụ thuộc thủ tục đăng ký Quyền tác giả được phát sinh mặc nhiên và nóthể hiện dưới hình thức khách quan mà người khác có thể nhận biết được Nhưvậy, việc đăng ký quyền tác giả không phải căn cứ phát sinh quyền tác giả màchỉ là chứng cứ chứng minh khi có tranh chấp xảy ra.

Thứ tư, quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối

Đối với tác phẩm đã được công bố, phổ biến và tác phẩm không bị cấm saochụp thì cá nhân, tổ chức được phép sử dụng tác phẩm của người khác nếu việc

sử dụng đó không nhằm mục đích kinh doanh, ảnh hưởng đến việc sử dụng,khai thác bình thường của tác phẩm, không xâm hại đến các quyền, lợi ích hợppháp của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

1.1.3 Ý nghĩa quyền tác giả

Một là, bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ quyền lợi của người sáng tạo tri

thức, ngăn cấm người khác thương mại hóa tri thức của họ, chống lại sự lạmdụng, khai thác và sưu tầm làm tổn hại đến giá trị đích thực của tác phẩm

Hai là, ngoài việc công nhận về nguồn gốc sáng tạo tạo ra tác phẩm, bảo

hộ quyền tác giả còn là sự bù đắp xứng đáng cho tác giả vì những sức sáng tạo

họ đã bỏ ra Việc bảo hộ này làm tăng sự chắc chắn và ổn định về mặt pháp lí vàmang lại lợi ích không chỉ cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mà cho cảnhững người sử dụng tác phẩm đó

Ba là, việc bảo hộ quyền tác giả góp phần thúc đẩy văn hóa các dân tộc có

sự giao lưu, trao đổi một cách hiệu quả hơn trên thị trường toàn cầu nhưng vẫngiữ được nét riêng và đặc trưng của mỗi quốc gia, từng bước đưa các quốc giakém phát triển và đang phát triển thoát khỏi cảnh nghèo và lệ thuộc, do đó đây

Trang 6

được coi là một công cụ tiềm năng trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giớicủa các quốc gia trên thế giới.

1.1.4 Các nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả

Nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả là tư tưởng chỉ đạo cho các chủ thể khivận dụng các quy phạm pháp luật về quyền tác giả, đặc biệt là đối với việc ápdụng các quy định về quyền tác giả của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khigiải quyết tranh chấp

 Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do sáng tạo cá nhân

Đây là nguyên tắc dựa trên tinh thần của khoản 2 Điều 62 Hiến pháp năm

2013: “Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học

và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” Nhà nước đã tạo thế chủ động và tự do sáng tạo cá nhân,

điều này được ghi nhận trong Hiến pháp, đồng thời cũng phải tuân thủ những

nguyên tắc chung của luật dân sự, đặc biệt là nguyên tắc “Tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận” Với quy định trên đây thì quyền tự do sáng tạo của cá nhân

luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện, khuyến khích tự do sáng tạo, cấmcản trở, hạn chế quyền tự do sáng tạo của cá nhân Pháp luật bảo đảm cho ngườisáng tạo tự do chọn đề tài, hình thức, đặt tên tác phẩm, đứng tên tác giả…

 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng, tự định đoạt của các chủ thể Nguyên tắc này được công nhận tại khoản 1 Điều 16 Hiến pháp năm 2013:

“Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Và nội dung của nó tiếp tục được thể hiện trong Bộ luật dân sự năm 2015: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kì lý do nào để phân biệt đối xử; được bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản” (Khoản 1 Điều 3) Nguyên tắc này là

kim chỉ nam định hướng cho tất cả các ngành luật quy định về quyền tác giả nóichung và quyền của người sáng tạo văn học, nghệ thuật nói riêng không phân

Trang 7

biệt độ tuổi, trình độ văn hóa, giới tính… Tác giả hoàn toàn có quyền định đoạtcác quyền của mình có được từ tác phẩm Pháp luật về quyền tác giả luôn bảođảm cho các chủ thể sử dụng, khai thác tác phẩm một cách hiệu quả nhất Bất kểhành vi nào xâm phạm đến quyền tác giả đều bị đưa ra trước pháp luật xử lýmột cách nghiêm minh, nhằm bảo vệ lợi ích cho tác giả, chủ sở hữu quyền tácgiả cũng như đảm bảo chất lượng sản phẩm đến tay người tiêu dung.

 Nguyên tắc bảo đảm không trùng lặp tác phẩm

Do đặc tính vô hình của các đối tượng sở hữu trí tuệ nên quyền chiếm hữuđối tượng này là không có ý nghĩa và nó luôn bị đe dọa đặt trong tình trạng cóthể bị đánh cắp, sao chép bất cứ lúc nào Khi tác phẩm hay công trình khoa học

đã hoàn thành và được công chúng biết đến thì việc sao chép sử dụng thành quảlao động một cách bất hợp pháp lại rất dễ dàng Do vậy, nguy cơ bị xâm phạmrất lớn kéo theo việc xác định thiệt hại rất khó khăn, phức tạp, điều này làm ảnhhưởng đến quyền lợi, thậm chí kìm hãm sự phát triển của người sáng tạo ra cáctác phẩm

Nội dung của nguyên tắc thể hiện qua các ý sau:

Thứ nhất, tác phẩm bảo hộ phải có tính sáng tạo, không phải là cách sắp

xếp diễn đạt đơn thuần, bắt chước cách diễn đạt thể hiện ngôn từ, màu sắckhuôn mẫu của tác phẩm khác

Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải là bản gốc (bản đầu tiên của tác phẩm

do tác giả sáng tạo ra)

Thứ ba, bảo đảm tính toàn vẹn của tác phẩm Trong các quyền nhân thân

của tác giả có quyền bảo vệ tính toàn vẹn của tác phẩm Xâm phạm đến sự toànvẹn của tác phẩm là xâm phạm đến quyền nhân thân của tác giả Không ai cóquyền thay đổi tác phẩm với bất cứ lí do hay mục đích nào mà không có sựđồng ý của tác giả

Trang 8

1.2 Khái quát về tác phẩm

Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung

năm 2009) thì: “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kì phương tiện hay hình thức nào” Như

vậy, sản phẩm lao động trí tuệ để được công nhận là tác phẩm và được bảo hộ

thì phải đáp ứng đủ ba điều kiện: Một là kết quả của hoạt động sáng tạo; hai là

phải được ấn định trên hình thức vật chất hoặc thể hiện thông qua hình thức

nhất định; ba là thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học.

Ngoài ra, để tránh những cách hiểu sai về tác phẩm, pháp luật đã quy định

cụ thể các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tại Điều 14 Luật SHTTnăm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) kết hợp với Công ước Berne về tácphẩm và nghị định số 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhmột số điều của Bộ luật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyềnliên quan Theo đó loại hình được bảo hộ gồm: Tác phẩm văn học, khoa học,sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác; Các bài giảng, bài phát biểu và bàinói khác; Tác phẩm sân khấu; Tác phẩm điện ảnh và tương tự; Tác phẩm nhiếpảnh; Tác phẩm báo chí; Tác phẩm âm nhạc; Tác phẩm kiến trúc; Tác phẩm tạohình, mỹ thuật, ứng dụng; Các bức họa đồ, bản vẽ, sơ đồ, bản đồ; Chương trìnhmáy tính, sưu tập dữ liệu; Tác phẩm phái sinh

1.1.2 Phân loại tác phẩm

Dựa vào lĩnh vực sáng tạo có: tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, tácphẩm khoa học

Dựa vào nguồn gốc hình thành có: tác phẩm gốc, tác phẩm phái sinh (trong

đó có: tác phẩm dịch thuật, tác phẩm phóng tác, tác phẩm cải biên, tác phẩmchuyển thể), tác phẩm tuyển tập, tác phẩm hợp tuyển

Trang 9

1.3 Chủ thể của quyền tác giả

Chủ thể của quyền tác giả được hiểu là các cá nhân, tổ chức có các quyềnnhất định đối với một tác phẩm, bao gồm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả

1.3.1 Tác giả của tác phẩm

Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định cho tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên

quan ở khoản 1 Điều 8 vẫn có quy định về khái niệm tác giả Theo đó, “Tác giả

là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học bao gồm:

a) Cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả;

b) Cá nhân nước ngoài cso tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam;

c) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam;

d) Cá nhân nước ngoài cso tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.”

Nhìn chung, một chủ thể muốn được công nhận là tác giả cần phải đáp ứngđược ba điều kiện:

Thứ nhất, phải là người trực tiếp thực hiện hoạt động sáng tạo để tạo ra tác

phẩm Hoạt động sáng tạo là sự lao động trí tuệ để tạo ra các tác phẩm hay nóicách khác, các tác phẩm phải là kết quả của hoạt động sáng tạo được thể hiệntrên hình thái vật chất, hoặc thể hiện thông qua hình thức nhất định, có tính độclập tương đối, mang tính mới về nội dung, ý tưởng hoặc sự thể hiện tác phẩm.Chủ thể làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khácsáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả

Trang 10

Thứ hai, người tạo ra tác phẩm phải ghi tên thật hoặc bút danh của mình

lên tác phẩm được công bố, sử dụng Đây là một trong các quyền nhân thân củatác giả được quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổsung năm 2009) Cá biệt hóa tác phẩm là một phương thức đơn giản và thườnggặp để ấn định quyền tác giả đối với tác phẩm

Thứ ba, tác giả chỉ được thừa nhận nếu tác phẩm được tạo ra là kết quả của

lao động sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học

1.3.2 Chủ sở hữu quyền tác giả

Chủ sở hữu quyềm tác giả là cá nhân, tổ chức nắm giữ một, một số hoặc toàn

bộ các quyền tài sản liên quan đến tác phẩm được thừa nhận dù họ là người trựctiếp hoặc không trực tiếp tạo ra tác phẩm đó Điều này đã được quy định tạiĐiều 36 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Theo các điều từđiều 37 đến điều 42 thì các tổ chức, cá nhân sau đây được thừa nhận là chủ sởhữu quyền tác giả: tác giả, các đồng tác giả; tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ chotác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả; người thừa kế; người được chuyểngiao quyền và Nhà nước

2 Điều kiện bảo hộ quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

2.1 Bảo hộ quyền tác giả

Cùng với dòng chảy của thời gian, ngành công, kỹ nghệ của nhân loại ngàycàng có những phát triển vượt bậc, đặc biệt là việc phát minh ra nghề in ấn đãgiúp việc sao chép một tác phẩm được dễ dàng hơn Tuy vậy, khi công nghệ in,

ấn mới có những thành tựu thì việc bảo hộ quyền tác giả vẫn chưa thực sự đượcquan tâm, chỉ đến khi xuất hiện tình trạng nhà in ấn này sao chép lại bản in củanhà in ấn khác mà không được sự đồng ý của tác giả, gây ảnh hưởng tới quyềnlợi cũng như uy tín của tác giả thì việc bảo hộ quyền tác giả mới được quan tâmhơn Xuất phát từ chính việc bảo vệ quyền lợi của mình cũng như của tác giả,

Ngày đăng: 15/09/2022, 10:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w