Pháp luật Việt Nam quy định khá chi tiết, đầy đủ về các loại hình doanh nghiệp mà chủ sở hữu, người có ý định kinh doanh có thể tìm hiểu và đưa ra quyết định.. Đây có thể coi là loại hìn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN LUẬT THƯƠNG MẠI
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
SV thực hiện : Nguyễn Thái An – 2011610002
Phạm Hồng Anh - 2014610015 Trần Mỹ Lệ - 2014610054 Đinh Thu Thảo - 2011610030 Nguyễn Mai Trang – 2011610034
GV hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Lan
Hà Nội – 05/2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Tình hình nghiên cứu 2
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
6 Kết cấu của tiểu luận 3
NỘI DUNG 4
I ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN 4
1 Khái niệm doanh nghiệp tư nhân 4
2 Chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân 4
3 Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân 6
4 Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân 8
5 Trách nhiệm tài sản vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân 9
6 Tổ chức, quản lý doanh nghiệp tư nhân 11
II ƢU – NHƢỢC ĐIỂM CỦA LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN VÀ SO SÁNH VỚI QUY ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA KHÁC 12
1 Ưu – nhược điểm của loại hình doanh nghiệp tư nhân 12
2 So sánh với quy định trong pháp luật một số quốc gia khác 13
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân NXB : Nhà xuất bản
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
Trang 41
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhằm phát triển kinh tế - xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước ta đã và đang có những chính sách thúc đẩy, khuyến khích hoạt động thương mại đi kèm với những chương trình, kế hoạch tạo điều kiện, hỗ trợ thành lập, duy trì các doanh nghiệp Doanh nghiệp với tư cách là chủ thể tiến hành hoạt động thương mại là lực lượng quan trọng trong công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước, đưa nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế nông nghiệp, lạc hậu từ giữa thế kỉ trước phát triển nhảy vọt trở thành nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ đang phát triển với nhiều tiềm năng hiện nay Hiến pháp 2013 ghi nhận quyền tự do kinh doanh và cho phép các chủ thể kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm, tạo ra hành lang pháp
lý khuyến khích tối đa sự đầu tư và phát triển hoạt động kinh doanh
Để thành lập doanh nghiệp hoạt động thương mại, một trong những yếu tố quan trọng cần xem xét đó là lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào Pháp luật Việt Nam quy định khá chi tiết, đầy đủ về các loại hình doanh nghiệp mà chủ sở hữu, người có ý định kinh doanh có thể tìm hiểu và đưa ra quyết định Trong số những loại hình doanh nghiệp đó, doanh nghiệp tư nhân (sau đây viết tắt là DNTN) mang trong mình những đặc điểm riêng biệt, cùng với những ưu và nhược điểm từ đặc điểm đó Đây có thể coi
là loại hình doanh nghiệp giản đơn với số lượng quy phạm pháp luật điều chỉnh ít hơn
so với các loại hình doanh nghiệp khác và những điều kiện, yêu cầu để thành lập DNTN cũng được coi là không quá phức tạp, phù hợp với lực lượng start-up với quy
mô vừa và nhỏ, vừa khuyến khích các cá nhân mạnh dạn thành lập doanh nghiệp, vừa tạo môi trường pháp lý thân thiện và dân chủ cho hoạt động kinh doanh, thương mại của các chủ thể đó Với mong muốn tìm hiểu rõ về loại hình doanh nghiệp này, Nhóm
12 chúng em lựa chọn đề tài “Địa vị pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu và học hỏi Chúng em xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thị Lan đã đồng hành và giảng dạy chúng em bộ môn Luật thương mại cũng như cô đã hướng dẫn tận tình để chúng em có thể hoàn thiện bài tiểu luận này
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của DNTN, bao gồm các quy định về thành viên, vốn, tư cách pháp nhân, trách nhiệm pháp lý về tài sản và mô hình cơ cấu tổ chức Từ đó, phân tích, đánh giá nhằm phát hiện ra những thuận lợi, ưu điểm cũng như những bất cập, hạn chế của loại hình doanh nghiệp này so với các loại hình doanh nghiệp khác
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 52
Thứ nhất, khái quát chung về DNTN, khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của DNTN
Thứ hai, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý của DNTN
Thứ ba, đặt trong mối tương quan với loại hình doanh nghiệp khác để nhận dạng
ưu điểm, thuận lợi cũng như bất cập, hạn chế khi lựa chọn loại hình DNTN
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về địa vị pháp lý của DNTN
- Ưu và nhược điểm của DNTN
- Một số quy định về vấn đề tương tự của các nước khác trên thế giới, dưới góc
độ so sánh với pháp luật Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nhằm xem xét, đánh giá vấn đề trong thực tiễn, bài tiểu luận này tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành mà cụ thể là Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Thương mại 2005
Về phạm vi không gian, bài tiểu luận này tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam Trong trường hợp đặt dưới góc độ so sánh với pháp luật nước ngoài, phạm vi về không gian có thể được mở rộng sang các quốc gia được so sánh
4 Tình hình nghiên cứu
Nhận thức rõ về tầm quan trọng của các loại hình doanh nghiệp cũng như xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn giải quyết những vấn đề liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu, học giả đã cho ra mắt nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này Có thể xếp các công trình nghiên cứu đó vào ba nhóm lớn như sau:
- Nhóm luận văn, luận án:
Rất nhiều các công trình nghiên cứu đề tài này như: Pháp luật về doanh nghiệp tư
nhân ở Việt Nam hiện nay (Trần Văn Đông, luận văn thạc sĩ, 2020), Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam (Phùng Đức Dũng, luận văn thạc sĩ, 2018), Pháp luật về doanh nghiệp tư nhân và thực tiễn thực hiện tại thành phố Hà Nội (Lê Việt Đức, luận văn thạc sĩ, 2020),…
- Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo:
Các công trình tiêu biểu như: Giáo trình Luật thương mại Việt Nam tập 1
(Trường Đại học Luật Hà Nội, 2020, NXB Tư pháp, Hà Nội), Pháp luật về doanh nghiệp – Các vấn đề pháp lý cơ bản (Trương Nhật Quang, 2020, NXB Dân trí, Hà Nội), Luật Doanh nghiệp Việt Nam – Tình huống – Dẫn giải – Bình luận (Phạm Hoài
Trang 63
Huấn, 2019, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội),… Trong các cuốn sách này,
DNTN được trình bày và phân tích như một loại hình doanh nghiệp trong số các loại hình doanh nghiệp được quy định
- Nhóm bài viết trên báo, tạp chí:
Một số bài viết tiêu biểu như: Các điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2020 về
doanh nghiệp tư nhân (Nguyễn Tấn Hoàng Hải, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, 2021 – Số 1, trang 10-18), Phát triển loại hình doanh nghiệp phù hợp để thúc đẩy kinh tế tư nhân tại Việt Nam (Nguyễn Vinh Hưng, 2018, Tạp chí Quản lý nhà nước, 2018 - Số 1, trang 72-75), Quy chế pháp lý về doanh nghiệp tư nhân theo Luật Doanh nghiệp 2020 (Nguyễn Thanh Lý, Tạp chí Nghề luật, 2021 - Số 2, trang 64-72),…
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ thương mại
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thu thập và xử lý thông tin, phân tích tài liệu, các phương pháp khái quát, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê,…
6 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung của tiểu luận gồm:
Mục I: Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân
Mục II: Ưu - nhược điểm của loại hình doanh nghiệp tư nhân và so sánh với quy định trong pháp luật một số quốc gia khác
Trang 74
NỘI DUNG
I ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƢ NHÂN
1 Khái niệm doanh nghiệp tƣ nhân
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nước ta chủ trương chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Lúc này, kinh tế tư nhân mới lần đầu tiên được thừa nhận trong đời sống pháp lý và kinh doanh tại Việt Nam Tiếp nối những văn bản có giá trị đi trước, Luật Doanh nghiệp 2020 tiếp tục ghi nhận sự tồn tại tích cực, lâu dài và bình đẳng của kinh tế tư nhân nói chung và DNTN nói riêng, cụ thể quy định tại Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020:
1 Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
2 Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào
3 Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh
4 Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần
Như vậy, DNTN là một trong năm loại hình doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận và cũng giống như những loại hình doanh nghiệp khác, DNTN là tổ chức có tên riêng được nhà nước thừa nhận thông qua thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp Mục đích của DNTN là tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc tiến hành hoạt động thương mại một cách thường xuyên, liên tục, có tính chất nghề nghiệp Đặc trưng tiêu biểu nhất của DNTN là do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của doanh nghiệp
2 Chủ sở hữu của doanh nghiệp tƣ nhân
2.1 Số lượng và điều kiện của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân
DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ sở hữu DNTN do một cá nhân Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, thành lập và làm chủ được coi là DNTN thuộc sở hữu của một người chủ đó Tất cả các cá nhân đều có quyền thành lập doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng theo nguyên tắc tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm1
và theo tinh thần của Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020: “Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này” Như vậy, chủ sở hữu DNTN phải đáp ứng 2 điều kiện:
Thứ nhất, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Chủ thể thành lập DNTN phải đủ
18 tuổi trở lên và không bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự, không thuộc
1 Điều 33 Hiến pháp Việt Nam 2013
Trang 85
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Đây là điều kiện thiết yếu cho phép thương nhân xác lập và thực hiện các hành vi thương mại và chịu trách nhiệm với những hoạt động của mình
Thứ hai, chủ thể thành lập DNTN không thuộc vào các trường hợp quy định từ Điểm a đến Điểm e Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 về trường hợp cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam, chẳng hạn như cán
bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam;…
Ngoài ra, chủ thể thành lập DNTN còn phải đáp ứng tiêu chí trong một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện Theo quy định tại Khoản 5 Điều 4 Nghị định 96/2016/NĐ-CP quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì chủ DNTN là người đại diện theo pháp luật có nghĩa là người chịu trách nhiệm về anh ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh và phải không thuộc các trường hợp tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định này, chẳng hạn như không thuộc trường hợp
đã bị khởi tố hình sự hay có tiền án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia,…
Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DNTN Chủ DNTN không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng và đối tác, kể cả chủ nợ do pháp luật quy định bởi lẽ toàn bộ tài sản của chủ DNTN đã được mang ra để đảm bảo cho mọi hoạt động kinh doanh của DNTN, không thể tiếp tục đảm bảo cho hộ kinh doanh hay công ty hợp danh khác Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể đối tượng được phép thành lập DNTN mà chỉ sử dụng biện pháp loại trừ những trường hợp không được phép và cũng không cấm người nước ngoài thành lập DNTN Do đó, người nước ngoài nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam thì có thể được phép thành lập DNTN Trên thực tế, hầu như không tồn tại DNTN do người nước ngoài thành lập Trên thực tế, đa số DNTN có quy mô từ nhỏ đến trung bình Điều này dễ hiểu bởi DNTN chỉ có một chủ sở hữu nắm quyền kiểm soát toàn bộ doanh nghiệp So sánh với các loại hình công ty khác, một chủ sở hữu là cá nhân là đặc trưng riêng biệt chỉ có
ở DNTN Trong khi đó, chủ sở hữu công ty TNHH có thể là cá nhân hoặc tổ chức (một
cá nhân/tổ chức đối với công ty TNHH một thành viên và hai cá nhân/tổ chức trở lên đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên1); công ty cổ phần có tối thiểu ba chủ sở hữu (cổ đông)2 và công ty hợp danh có ít nhất 2 thành viên hợp danh3
1 Khoản 1 Điều 74 và Khoản 1 Điều 46 Luật Doanh nghiệp 2020
2 Điểm b Khoản 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2020
3 Điểm a Khoản 1 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020
Trang 96
Trong trường hợp chủ DNTN chết thì người thừa kế là chủ DNTN, nếu giữa những người thừa kế không thỏa thuận được thì đăng kí chuyển đổi thành công ty hoặc giải thể DNTN đó; còn trong trường hợp không có người thừa kế hợp pháp thì tài sản của chủ DNTN được xử lý theo quy định của pháp luật dân sự1
2.2 Quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân
Pháp luật ghi nhận rất nhiều quyền của chủ DNTN như quyền tự do kinh doanh; tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động; quyền tạm ngừng hoạt động kinh doanh; quyền giải thể hay tham gia tố tụng,… Trong đó, nổi bật nhất là hai quyền:
Một là, chủ DNTN có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa
vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
Hai là, chủ DNTN có quyền bán, cho thuê doanh nghiệp – đây là quyền năng thể hiện rõ nét sự định đoạt cao về số phận pháp lý doanh nghiệp của chủ DNTN so với các chủ sở hữu công ty Quy định về cho thuê và bán DNTN được ghi nhận tại Điều
191 và 192 Luật Doanh nghiệp 2020 Bên cạnh đó, chủ DNTN cũng có thể chuyển đổi DNTN thành công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo Điều 205 Luật Doanh nghiệp 2020
Về nghĩa vụ, chủ DNTN cũng phải đáp ứng đủ điều kiện về chủ thể cũng như điều kiện kinh doanh trong một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện; tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính; kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa
vụ tài chính, thực hiện nghĩa vụ theo Bộ luật lao động, Luật Doanh nghiệp và các luật khác có liên quan… Một vấn đề đáng quan tâm đó là thuế thu nhập của DNTN và thuế thu nhập cá nhân của chủ DNTN Theo đó, DNTN phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bởi DNTN là doanh nghiệp thuộc đối tượng chịu thuế Còn chủ DNTN với tư cách cá nhân sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với các khoản thu nhập khác ngoài thu nhập tại DNTN theo quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân
3 Vốn đầu tƣ của chủ doanh nghiệp tƣ nhân
3.1 Đặc điểm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân
Với bản chất là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ đầu tư nên toàn bộ vốn
để thành lập DNTN là của một cá nhân (chủ sở hữu DNTN) Vốn đầu tư chính là vốn đăng kí kinh doanh của chủ doanh nghiệp, do chủ doanh nghiệp tự đăng kí Theo đó, chủ DNTN có nghĩa vụ đăng kí chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản2 Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt
1 Khoản 2, 3 Điều 193 Luật Doanh nghiệp 2020
2 Khoản 1 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2020
Trang 107
động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật1 Trong quá trình hoạt động, chủ DNTN có quyền thay đổi vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư của chủ DNTN phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ DNTN chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh2 Như vậy, trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp chỉ phải khai báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh trong trường hợp giảm vốn xuống dưới mức đã đăng
kí Không có giới hạn nào giữa phần vốn và tài sản đưa vào kinh doanh của DNTN và phần còn lại thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp
Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của DNTN không tách biệt với tài sản của chủ sở hữu DNTN đó Do vậy, nếu như những người góp vốn thành lập công ty phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty thì chủ DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản của cá nhân sang cho doanh nghiệp Như vậy, DNTN không có tài sản độc lập mà tài sản của DNTN vẫn là tài sản thuộc quyền
sở hữu của chủ DNTN đó Toàn bộ lợi nhuận của DNTN đều thuộc chủ sở hữu duy nhất của DNTN
Một vấn đề được quan tâm là tài sản chủ DNTN đưa vào hoạt động kinh doanh
có bao gồm kinh nghiệm, chất xám quy đổi thành tiền hay không Câu trả lời là không căn cứ vào Khoản 1 Điều 189 thì vốn đầu tư của chủ DNTN phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ, vàng, tài sản khác Quyền sở hữu trí tuệ là quyền tài sản tức là tài sản khác được công nhận là vốn nhưng tri thức, kinh nghiệm thông thường không được coi là vốn bởi rất khó để định giá
Do tính chất chỉ có một chủ sở hữu duy nhất nắm toàn quyền quyết định nên DNTN không cần thiết phải có Điều lệ và hồ sơ đăng kí thành lập DNTN cũng không bao gồm Điều lệ3 Luật Doanh nghiệp 2020 cũng giải thích vốn điều lệ chỉ áp dụng với công ty TNHH, công ty hợp danh và công ty cổ phần Do đó, DNTN không có vốn điều lệ nhưng về bản chất, vốn đầu tư của chủ DNTN tương tự với vốn điều lệ của công ty
Chủ DNTN cũng cần quan tâm đến quy định pháp luật về vốn pháp định Vốn pháp định không phân biệt theo loại hình doanh nghiệp mà chỉ quy định cho một số ngành nghề nhất định Nó là mức vốn tối thiểu mà chủ sở hữu phải có để thành lập doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề quy định mức vốn
1 Khoản 2 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2020
2 Khoản 3 Điều 189 Luật Doanh nghiệp 2020
3 Điều 21 Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp