BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ MÔN VĂN HIẾN VIỆT NAM TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG TÍN NGƯỠNG VÀ PHONG TỤC CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ TRUYỀN TP HCM, THÁNG 062020 BỘ GIÁO DỤ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 1
3 Mục đích nghiên cứu 1
4 Nội dung nghiên cứu 1
5 Phương pháp nghiên cứu 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 3
1.1 Những vấn đề cơ bản của triết lý âm dương 3
1.1.1 Triết lý âm dương là gì ? 3
1.1.2 Biểu hiện của triết lý âm dương 3
1.1.3 Nguồn gốc của triết lý âm dương 3
1.1.4 Biểu tượng của triết lý âm dương 3
1.1.5 Hai quy luật cơ bản của triết lý âm dương 4
1.1.6 Hai hướng phát triển của triết lý âm dương 5
1.1.7 Các ứng dụng của triết lý âm dương trong văn hóa cổ truyền Việt Nam 6
1.2 Các khái niệm về tín ngưỡng và phong tục 6
1.2.1 Tín ngưỡng 6
1.2.2 Phong tục 7
CHƯƠNG 2: TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ TRUYỀN 8
2.1 Tín ngưỡng phồn thực 8
2.1.1 Nguồn gốc 8
2.2.2 Biểu hiện 8
2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên 9
2.2.1 Nguồn gốc 9
2.2.2 Biểu hiện 10
2.3 Tín ngưỡng sùng bái con người 11
2.3.1 Nguồn gốc 11
2.3.2 Biểu hiện 11
CHƯƠNG 3: TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG PHONG TỤC CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ TRUYỀN 13
3.1 Phong tục hôn nhân 13
Trang 43.1.1 Nguồn gốc 13
3.1.2 Biểu hiện 13
3.2 Phong tục tang ma 14
3.2.1 Nguồn gốc 14
3.2.2 Biểu hiện 14
3.3 Trong phong tục lễ Tết và lễ hội 15
3.3.1 Nguồn gốc 15
3.3.2 Biểu hiện 15
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
PHỤ LỤC: MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 19
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dựa trên hệ thống đề tài đã được Tiến sĩ Đoàn Trọng Thiều đặt ra cho phần tiểu luận kết thúc môn Văn Hiến Việt Nam, tôi đã chọn lựa đề tài: “Triết lý âm dương trong tín ngưỡng và phong tục của người Việt cổ truyền” để tiến hành làm tiểu luận phân tích Bởi vì tôi nhận thấy sự sâu sắc và phổ quát của triết lý âm dương và ứng dụng của triết lý âm dương là rất sâu rộng đặc biệt là trong tín ngưỡng và phong tục của người Việt cổ truyền
2 Tình hình nghiên cứu
Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này như:
- Lưu Hoàng Chương, Triết lý âm dương trong văn hóa dân gian người Việt, Học
viện chính trị quốc gia – Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh
- Lê Văn Quán (2002), Âm dương ngũ hành với đời sống con người, NXB Văn hóa
Dân tộc
Các tác giả đã chỉ ra được bản chất và những ứng dụng cơ bản nhất của triết lý âm dương trong đời sống người Việt cổ truyền nhưng là sự khái quát trong tất cả lĩnh vực của đời sống, không cụ thể trong tín ngưỡng và phong tục của người Việt cổ truyền
3 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu triết lý âm dương trong văn hóa tín ngưỡng và phong tục của người Việt cổ truyền sẽ tạo ra được nguồn tư liệu quý giá về nét văn hóa đặc sắc trong văn hóa tín ngưỡng và phong tục của người Việt cổ truyền, giúp các thế hệ mai sau hiểu hơn về văn hóa dân tộc và ứng dụng được vào trong cuộc sống ngày nay
4 Nội dung nghiên cứu
Đối tương nghiên cứu là về triết lý âm dương, sự vận dụng triết lý âm dương của người Việt cổ truyền trong văn hóa tín ngưỡng và phong tục
Phạm vi nghiên cứu là người Việt cổ truyền ở thời xa xưa tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như:
Trang 6- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu và tổng hợp nhiều nguồn tư liệu
khác nhau như các sách và giáo trình về tín ngưỡng và phong tục của người Việt cổ truyền
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tổng hợp các nguồn thông tin có được và
phân tích tổng hợp để có thể làm thành bản báo cáo, đưa ra kết luận và công bố đề tài
Trang 7CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Những vấn đề cơ bản của triết lý âm dương
1.1.1 Triết lý âm dương là gì ?
Triết lý giải thích vũ trụ dựa trên hai yếu tố âm và dương được gọi là triết lý âm dương
1.1.2 Biểu hiện của triết lý âm dương
Vũ trụ mà chúng ta đang sống được xem là một khối âm dương Xét về mặt ngữ nghĩa thì Vũ có nghĩa là không gian, Trụ là thời gian Vậy vũ trụ này là một khối bao gồm không gian và thời gian và là một khối âm dương
Nếu xem vũ trụ này là một khối âm dương lớn nhất thì tất cả những sự vật bên trong
vũ trụ được xem là những khối âm dương khác nhau và nhỏ hơn Những khối âm dương này có quy luật vận động nội tại, giữa các khối âm dương luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau không ngừng, chính vì lý do này đã tạo ra sự phát triển và vận động không ngừng của khối âm dương lớn nhất là vũ trụ Bên trong các khối âm dương này luôn có sự thống nhất lẫn đối lập trong các mặt âm dương với nhau
1.1.3 Nguồn gốc của triết lý âm dương
Xuất phát từ cuộc sống nông nghiệp định canh, định cư và từ lối tư duy tổng hợp
biện chứng của người phương Nam (Ở đây chỉ vùng nam Trung Hoa, từ sông Dương
Tử trở xuống và vùng Việt Nam)
Cư dân phương Nam sinh sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước nên sự quan tâm của họ là sự sinh sôi, nảy nở của hoa màu Sinh sản của con người thì do hai yếu tố là
“cha”, “mẹ” ; “nữ”, “nam”, còn sự sinh sôi của hoa màu là do “đất”, “trời” Từ quan niệm về hai cặp đối lập “mẹ-cha”, “trời-đất” đã giúp con người nhận ra thêm vô số cặp đối lặp khác Từ vô số những cặp đối lập ấy đã tạo nên sự khái quát hóa đầu tiên về triết lí âm dương Ví dụ như, cặp đối lập “ngày”, “đêm” thì “ngày” nóng nên thuộc dương, “đêm” lạnh nên thuộc âm Mùa đông thì “lạnh” nên thuộc âm, mùa hè thì
“nóng” nên thuộc dương,…
1.1.4 Biểu tượng của triết lý âm dương
Người Việt cổ truyền cũng suy ra từ cặp đối lập “mẹ-cha” với người mẹ là giống
“cái” có khả năng sinh sản, khi sinh con thì người con sẽ gắn bó với mẹ thì về mặt chữ
Trang 8số thì có thể xem là 2 tức số “chẵn”, người cha là giống “đực” không có khả năng sinh sản như giống “cái” nên về mặt chữ số xem là 1 tức số “lẽ” Từ lối suy nghĩ đó đã hình thành nên biểu tượng âm dương trong văn hóa người Việt cổ truyền với:
- Âm: Hai vạch ngắn, hình vuông
1.1.5 Hai quy luật cơ bản của triết lý âm dương
Qua những phần nội dung trên, chúng ta đã có những hiểu biết cơ bản về triết lý âm
dương, nhưng việc xác định tính âm / dương của một sự vật hoàn toàn không hề đơn giản Ví dụ như con người chúng ta là âm hay dương ? Mặt đất là âm hay dương ? Đối với những câu hỏi như thế chúng ta hoàn toàn có thể trả lời theo hai cách đều hợp
lý Chính vì lý do đó, người Việt đã tìm ra những đặc điểm để có thể xác định một cách rõ ràng tính âm / dương của một sự vật trong vũ trụ Những đặc điểm đó đã được tổng hợp thành hai quy luật cơ bản: Quy luật về thành tố và quy luật về quan hệ
a Quy luật thành tố:
Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong dương có âm,
trong âm có dương Ví dụ: Trong cái nắng luôn tiềm ẩn cái mưa (Hơi nước bốc lến
đến một thời điểm nhất định sẽ tạo ra mưa.) Từ quy luật này cho chúng ta thấy được rằng việc xác định bản chất âm dương của một sự vật chỉ mang tính chất tương đối, khi chúng ta khẳng định một vật là âm hay dương thì khẳng định đó chỉ đúng trong một thời điểm nhất định mà thôi Chính từ quy luật này, người Việt cổ truyền đã suy ra
Trang 9hai hệ quả để có thể giúp con người xác định bản chất âm / dương của một sự vật trở nên dễ dàng và chính xác hơn
- Muốn xác định được tính chất âm dương của một vật trước hết phải xác định được đối tượng so sánh Ví dụ: Màu trắng khi so với màu đen thì là dương, nhưng khi đem
màu trắng so với màu đỏ thì là âm Từ hệ quả này chúng ta thấy được rằng muốn xác định được tính chất âm / dương của một sự vật thì cần thiết phải có một sự vật khác để làm đối tượng so sánh, không thể xem xét tính chất âm / dương của sự vật một cách đơn lẻ, phiến diện
- Muốn so sánh được thì phải xác định được cơ sở so sánh Ví dụ: Nước so độ cứng
với đất thì là âm nhưng so về tính uyển chuyển lại là dương Từ hệ quả này chúng ta cũng thấy được rằng sau khi đã chọn được đối tượng để so sánh thì cần phải có một cơ
sở so sánh rõ ràng, nếu không xác định được cơ sở so sánh thì chúng ta sẽ không đánh giá được bản chất âm dương của sự vật một cách đúng đắn
b Quy luật quan hệ:
Âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa cho nhau: Âm cực sinh
dương và dương cực sinh âm Ví dụ: Hết ngày sẽ chuyển sang đêm và hết đêm lại
chuyển sang ngày Hết mưa rồi lại nắng, nắng rồi lại mưa Từ quy luật quan hệ này chúng ta cũng nhận ra rằng tính chất âm / dương hoàn toàn không phải hai thành phần tách rời nhau mà gắn bó mật thiết với nhau và chuyển hóa lẫn nhau Chúng ta không thể đóng đinh một tính chất âm hoặc dương cho một sự vật bởi vì sự vật sẽ luôn phát triển và vận động không ngừng đến khi đạt đến cực đại thì sẽ có sự chuyển hóa
1.1.6 Hai hướng phát triển của triết lý âm dương
Triết lý âm dương qua thời gian đã được người Việt cổ truyền phát triển thành hai
hướng khác nhau đó là: Ngũ hành và Bát quái
Mô hình ngũ hành: Tam tài sinh ngũ hành (Mô hình theo số lượng thành tố lẽ) Từ
hỗn mang sinh ra âm dương, âm dương sinh ra tam tài (Thiên, Địa, Nhân), tam tài sinh
ra ngũ hành (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ) và từ ngũ hành sẽ sinh ra vạn vật trong vũ trụ Từ hai cặp đối lập âm dương Thiên – Nhân và Địa – Nhân đã tạo ra những khái
Trang 10quát đầu tiên về tam tài và từ hai cặp tam tài Thủy – Hỏa – Thổ và Kim – Mộc – Thổ
đã tạo ra những triết lý về ngũ hành
Mô hình bát quái: Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh
bát quái, bát quái biến hóa khôn lường (Mô hình theo số lượng thành tố chẵn)
1.1.7 Các ứng dụng của triết lý âm dương trong văn hóa cổ truyền Việt Nam
Ở Việt Nam triết lý âm dương đã tác động đến nhận thức của người Việt rất rõ nét
thông qua lối tư duy lưỡng phân lưỡng hợp Ở hầu hết quốc gia trên thế giới thì vật tổ của các nước thường là một con vật cụ thể (chim ưng, đại bàng, bò, heo) thì ở Việt Nam vật tổ lại là một cặp Tiên – Rồng
Mọi thứ thường đi theo từng cặp: đồng Cô – đồng Cậu, ông Đồng – bà Cốt, khi làm mọi việc thì đều tìm sự hài hòa âm dương, đề cập đến cha thì phải nói ngay đến mẹ, đề cập đến đất, núi thì nghĩ ngay đến nước Nói đến tổ quốc thì dùng ngay cặp từ đất – nước, non – nước
Biểu tượng âm dương thì được dùng vô cùng nhiều: Bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất, bánh dày hình tròn tượng trưng cho trời Có vuông tức có tròn nên mới
có nhiều ca dao, tục ngữ như: “Mẹ tròn con vuông”, “Ba vuông bảy tròn”
Người Việt cổ vẫn nhận thức rất rõ về hai quy luật của triết lý âm dương khi nhận ra rằng: “Trong cái rủi có cái may”, “Sướng lắm khổ nhiều”, “Yêu nhau lắm, cắn nhau đau” Nhờ có triết lý âm dương nên người Việt đã hình thành được triết lý sống quân bình, luôn tìm cách hài hòa mọi thứ, giữ cân bằng các yếu tố Từ đó giúp người Việt
có thể thích nghi trong mọi hoàn cảnh (lối sống linh hoạt) Là dân tộc sống bằng tương lai (tinh thần lạc quan)
1.2 Các khái niệm về tín ngưỡng và phong tục
1.2.1 Tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống như một phần cấp thấp của tôn giáo
mà con người tin vào để giải thích thế giới và vũ trụ, để mang lại sự thịnh vượng, bình yên và thanh cao hạnh phúc cho bản thân và mọi người
Tín ngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững Đôi khi được hiểu là tôn giáo
Trang 11Tuy nhiên tôn giáo và tín ngưỡng có một số điểm khác biệt như: Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu
viện, thánh đường, học viện có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng như nhà thờ, chùa, thánh đường , nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người Còn tín ngưỡng thì chưa có
hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết Tín ngưỡng
mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian Trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ
1.2.2 Phong tục
Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi
thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất
Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chỉ một dòng
họ, gia tộc Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành nhiều loại Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người, như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão Hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm, hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người
Trang 12CHƯƠNG 2: TRIẾT LÝ ÂM DƯƠNG TRONG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI
VIỆT CỔ TRUYỀN 2.1 Tín ngưỡng phồn thực
2.1.1 Nguồn gốc
Từ cuộc sống định canh, định cư của nền văn hóa nông nghiệp cần phải duy trì và
phát triển sinh sống bằng cách cho con người sinh sôi Duy trì cuộc sống bằng việc tăng năng suất sản xuất lúa gạo từ cặp âm / dương (đất – trời) và việc duy trì nòi giống
từ cặp âm / dương (mẹ - cha) kết hợp với việc những người có trình độ hạn chế có một niềm tin mãnh liệt vào các thế lực siêu nhiên đã tạo nên tín ngưỡng phồn thực (phồn là nhiều, thực là nảy nở)
2.2.2 Biểu hiện
a Thờ các sinh thực khí
Các biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực thông qua việc thờ cơ quan sinh dục nam
và nữ hay còn gọi là thờ sinh thực khí (sinh là sinh sản, thực là nảy nở, khí là công cụ) Đây là biểu hiện cơ bản nhất của tín ngưỡng phồn thực ở một nền văn hóa gốc nông
trưng cho âm dương, các vị thần đại diện cho nam và nữ, đại diện cho sự giao phối, sinh sản hay là âm dương hòa hợp
Việc thờ sinh thực khí còn được biểu hiện thông qua việc thờ các loại cột đá và các loại hốc mô tả bộ phận sinh dục của nam và nữ, xem đó như vật may mắn và mang lại no đủ cho cả năm Khi đến các hội làng sẽ tổ chức lễ rước sinh thực khí và người dân sẽ tranh nhau để mang về nhà Ở chùa Dạm (Bắc Ninh) có một cột đá hình sinh thực khí nam có chạm nổi hình rồng thời nhà Lí (xem hình 2) tượng trưng cho dương, ngư phủ ở Sở đầm Hòn Đỏ (Khánh Hòa) thờ một kẽ nứt trên một tảng
đá và được dân gian gọi là Lỗ Lường (âm đọc chệch đi của sinh thực khí nữ), được dân gian xem như vị nữ thần với tên gọi là Bà Lường tượng trưng cho âm trong triết lý âm dương.(xem hình 3)
Trang 13b Thờ các hành vi giao phối
Người Việt cổ truyền còn thờ các hành vi giao phí bên cạnh việc thờ các sinh
thực khí như ở Sở đầm Hòn Đỏ, khi nhiều ngày không đánh được cá thì người đứng đầu Sở phải đến cầu xin, lạy 3 lạy, và cầm vật tượng trưng cho sinh thực khí nam đâm vào Lỗ Lường 3 lần để cầu cho đánh bắt được nhiều cá Có thể xem đó cũng là một hình thức giúp âm dương hòa hợp và cầu mong may mắn
Trên các trống đồng thời xưa – một vật biểu trưng cho quyền lực cũng được khắc hình ảnh nam nữ giã gạo (cái chày và cái cối được biểu trưng cho sinh thực khí của nam và nữ), hành động biểu trưng hành vi giao phí của nam (dương) và nữ (âm) Ngay cả hình ảnh chiếc cũng được khắc họa từ cái cối và chiếc dùi như cái chày và hành động đánh trống lấy dùi đánh lên mặt trống cũng là biểu hiện của hành vi giao phối
c Các biểu hiện khác
Ngoài ra, còn có những hiện tượng khác như chùa Một Cột (vuông) tượng trưng
cho âm đặt trên một cái cột tròn (dương), cột tròn lại đặt trong một cái hồ vuông (âm); cửa sổ tròn (dương) trên gác Khuê Văn soi mình xuống hồ vuông Thiên Quang Tỉnh (âm) – tất cả đều có một sự liên quan nhất định đến tín ngưỡng phồn thực
Hay trong các nơi thờ cúng thì ta thường thấy cái mõ làm bằng gỗ (Mộc) đặt bên trái (phương Đông) là dương, cái chuông làm bằng đồng (Kim) đặt bên phải
(phương Tây) là âm, tiếng mõ thì trầm, tiếng chuông thì thanh Sự cân bằng chỉ có được khi âm dương hòa hợp
Trong Việt sử thông giám cương mục cũng ghi lại trong yến tiệc do vua Trần Thái Tông thiết đãi quần thần vào năm 1252 thì đứng chỉ huy hiệu lệnh uống rượu
là một người đầu đội mo nang (âm) và tay cầm dùi đục (dương)
2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
2.2.1 Nguồn gốc