Đất nước Việt Nam trải qua bao nhiêu năm khói bom, lửa đạn, lắm vinh quang, hào hùng; song cũng đầy mất mát, thương đau Và dẫu biết rằng văn học luôn là tấm gương phản chiếu hiện thực, nhưng do đặc đi. bài tiểu luận cuối kì văn học việt nam hiện đại bài tiểu luận cuối kì văn học việt nam hiện đại bài tiểu luận cuối kì văn học việt nam hiện đại bài tiểu luận cuối kì văn học việt nam hiện đại
Trang 1Đất nước Việt Nam trải qua bao nhiêu năm khói bom, lửa đạn, lắm vinh quang, hào hùng; song cũng đầy mất mát, thương đau Và dẫu biết rằng văn học luôn là tấm gương phản chiếu hiện thực, nhưng
do đặc điểm của hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ (những năm 1945 đến năm 1975) mà nội dung phản ánh đã không được trọn vẹn, đủ đầy Tính chất ngợi ca, tuyên truyền, cổ động đã chi phối toàn bộ quá trình sáng tác của các cây bút suốt cả một thời gian dài khi ấy
Tuy nhiên, nằm trong dòng chảy chung của bầu không khí thời kỳ kháng chiến đó, có một số nhà thơ
đã tự mình vượt ra khỏi “quỹ đạo” như đã qui định để tìm ra một lối đi riêng Và lạ kỳ thay, trong bước đường tìm tòi đầy gian nan, dũng cảm ấy, họ đã gặp được nhau, cùng nhau để lại cho hậu thế những bài thơ bất hủ Đó là trường hợp của nhà thơ Hữu Loan với bài thơ “Màu tím hoa sim”, “ Bài thơ về hạnh phúc” của Dương Hương Ly
Dương Hương Ly là bút danh của nhà thơ Bùi Minh Quốc Cuộc đời nhà thơ Bùi Minh Quốc gắn liền với huyền thoại về sự hy sinh của văn nghệ sĩ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ Thơ của Bùi Minh Quốc thường viết về "người mẹ già" Việt Nam nhiều năm cuốc đất đào hầm nuôi giấu cán bộ, như các bài "Đất quê ta mênh mông", "Mẹ ngẩn ngơ đi…", "Mẹ đi chọn mặt gửi vàng", "Không, mẹ ơi", "Một thoáng phố phường" Sau năm 1975, Bùi Minh Quốc có nhiều bài thơ mang tư tưởng phê phán, điển hình như bài "Cay đắng thay" mà ông cho rằng "Cái guồng máy nhục mạ con người / Mang bộ mặt hiền lành của người cuốc đất / Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt / Lại đúc nên chính cỗ máy này" Tuy nhiên bài thơ nổi tiếng nhất của Bùi Minh Quốc có lẽ là “Bài thơ về hạnh phúc” một thi phẩm được sáng tác năm 1969 trong những năm kháng chiến chống Mỹ vô cùng ác liệt Bài thơ là một bài ca bi tráng về sự hy sinh cao cả và đẹp đẽ vì lý tưởng của người nghệ sỹ, chiến sỹ trong chiến tranh cách mạng Cũng là tiếng lòng của nhà thơ với người vợ đã hy sinh của mình-nhà thơ liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý Nói về tình yêu giữa hai người, họ gặp nhau rồi yêu nhau năm 1961 Năm
1966, hai người cưới nhau Năm 1967, nhà thơ Bùi Minh Quốc xung phong vào chiến trường miền Nam, công tác tại Ban Văn nghệ Khu V, nổi tiếng với tập thơ “Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ” với bút danh Dương Hương Ly Tháng 4-1968, nhà văn - nhà báo Dương Thị Xuân Quý cũng xung phong vào chiến trường miền Nam, công tác cùng cơ quan với nhà thơ Bùi Minh Quốc Đầu năm 1969, Dương Thị Xuân Quý về Duy Xuyên sống, chiến đấu cùng anh em du kích địa phương để tìm hiểu thực tế viết văn Ngày 8-3-1969, chị đã anh dũng hy sinh trong một trận chống càn, khi tuổi đời mới vừa 28
Viết cho vợ mình nhà thơ đã viết:
Trang 2Thôi em nằm lại Với đất lành Duy Xuyên Trên mồ em có mùa xuân ở mãi Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên Tác phẩm mở đầu bằng những dòng thơ giản dị, chân thành chính là lời nói của người chồng đối với linh hồn người vợ đã khuất Giọng điệu thơ trầm lắng, nghẹn ngào trong sự chia li đầy đau đớn Nỗi đau như đi vào trong tâm khảm khi phải chấp nhận một sự thật xót lòng là người vợ cũng là người đồng chí, đồng đội, người tri kỉ của mình không còn nữa Cũng như bao người lính đã gửi mình trong lòng đất, em cũng nằm lại nơi mảnh đất chiến trường khi tuổi đời đương xuân Sắc xanh nguyên của bầu trời chiến trường như bất tử hóa tuổi trẻ của em trong sự hy sinh Chân thành đến nhói lòng, nỗi đau người vợ hy sinh được nhà thơ diễn tả sâu sắc, khi ẩn sâu khiến anh không thể nói bằng lời Sự mất mát quá lớn lao ấy được so sánh như mất nửa cuộc đời Nhưng đớn đau càng hun nên sức mạnh chiến đấu Người đọc không chỉ bắt gặp ở đây hình ảnh của một nhà thơ giàu cảm xúc mà còn thấy sáng lên hình ảnh một người chiến sĩ trong tư thế chủ động đối diện với quân thù Nỗi đau của toàn dân tộc đã khiến anh và em ra trận, nỗi đau của riêng anh khi mất em đã hòa quyện vào nhau, khiến anh “tỉnh táo”, vững tay súng tiêu diệt kẻ thù
“Bài thơ về hạnh phúc” được tác giả chia thành ba đoạn Nếu như đoạn đầu tiên thể hiện nỗi đau của nhà thơ khi người vợ đã mất thì đoạn hai là đoạn hồi tưởng về em trong quá khứ anh hùng Chính ở đoạn này, tư tưởng chính của bài thơ được đề cập đến
Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi vẫn chưa ra Cho đến ngày cất bước đi xa
Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt
“Hạnh phúc là gì?” nó có thể là cái rất xa xôi cũng có thể ở ngay trong những điều bình dị nhất Mục đích con người luôn hướng tới và cố gắng tạo dựng trong cuộc đời cũng chính vì hai chữ giản đơn đó thôi Sự lúng túng của anh và em được giải quyết, khi hai người “cất bước” theo tiếng gọi của miền
Trang 3Nam Hạnh phúc chỉ “ngộ” ra khi được cống hiến cho cộng đồng, cho dân tộc, khi cái Tôi biết hòa vào cái Ta chung
Thời gian từ hiện tại đau thương đã bắt dẫn hồn người trở về với quá khứ, khi em vẫn còn sống Hình ảnh của em hiện lên rõ nét ở mỗi giai đoạn của cuộc chiến tranh
Nhớ chăng em, cái mùa mưa đói quay đói quắt Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng
Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt Bao dốc cao em cần cù đã vượt Quá khứ hiện về trong những tháng ngày anh và em ở rừng, vượt dốc Hình ảnh của em được khắc họa chân thực, sinh động trong không gian của mùa mưa rừng, của sự thiếu thốn kham khổ: em xanh gầy, môi tái ngắt Nổi bật nơi ngôn từ là hình ảnh một người phụ nữ kiên cường, giàu sức chịu đựng
hy sinh Khó khăn, gian khổ là vậy, song câu thơ vẫn gợi lên sự ấm áp từ những chuyện hai người đồng cam cộng khổ, gắn bó giữa vợ chồng đã xua tan bao gian truân giữa chiến trường Hạnh phúc đến đây đã được định nghĩa cụ thể, đó là khi “em viết” mà cảm xúc ùa về, trong mưa lũ, đớn đau Được viết, được sáng tạo chính là khát khao muôn đời của người nghệ sĩ Không được viết hay không viết được đồng nghĩa với sự thất bại của nhà văn Cảm xúc trong em là cảm xúc của cá nhân người nghệ sĩ, nhưng dường như nó bắt nhập với ngàn vạn trái tim “như ngọc sáng ngời”
Tiếp tục dòng hổi tưởng, nhà thơ trở về quãng thời gian ngày mở màn chiến dịch Đông Xuân Tham gia cuộc chiến đầy ác liệt, em lên đường đầy bom lửa khói đạn với nụ cười tươi tắn Những kỷ niệm ở thôn Sáu Bình Dương hẵng còn mới Sau cuộc càn quét của giặc cuộc sống vẫn diễn ra như vốn có của nó, em bé vẫn đi học, chiến hào lại mở thêm, vườn khoai ruộng lúa vẫn tràn sắc xanh tươi tốt, chỉ khác là thêm dày những chiến công qua lời kể của mẹ già Em đến và chứng kiến bao chuyện ấy, để rồi trong khoảnh khắc:
Trong một góc vườn cháy khét lửa Na-pan
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc
Và em gọi đó là hạnh phúc…
Trang 4Hai hình ảnh góc vườn cháy khét lửa Na-pan và nhành hoa cúc thêm vào hai hệ thống hình ảnh đối lập nhau ở những câu thơ trên, tạo thành một chỉnh thể liên kết chặt chẽ trong cấu tứ câu thơ Trong không gian của cái chết, vẫn phát hiện được sự sống đang tồn tại Trong chốn tưởng như tan hoang nhất, đen tối nhất, em vẫn thấy cái đẹp hiện hình ngạo nghễ, kiêu sang Đó chính là một “nốt nhấn” để một lần nữa em hiểu thêm về hạnh phúc Để rồi tự nguyện góp sức mình cho Tổ quốc, nhân dân, cả anh và em đã hào hứng nhập cuộc với tinh thần của toàn dân tộc
Như trời biếc gặp mưa xuân, như chim én say trời
Em mải mê đi, đi giữa bao người Không còn chân dung cụ thể về em như đoạn đầu, em đã là hóa bao người cùng góp công, góp sức cho đất nước Hành trình nhân vật trữ tình đi cũng chính là hành trình tìm về với nguồn cội thiêng liêng, để gắn bó sâu sắc hơn với nhân dân Câu thơ mộc mạc đã vượt thoát khỏi nghĩa cụ thể, mang tính tượng trưng cao Đến đây, hạnh phúc đã được định nghĩa ở ba mức khác nhau theo cấp độ tăng tiến Từ hạnh phúc của một người nghệ sĩ khi tìm được cảm xúc sáng tạo trong chiến trường đến hạnh phúc khi em hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân và phát hiện ra sức sống mãnh liệt của con người trong chiến tranh đạn lửa, đến hạnh phúc khi được hy sinh vì ngày mai, tương lai của dân tộc là một quá trình thể hiện sự giao hòa bền chặt tự nguyện và thiêng liêng của cá nhân với cả cộng đồng, với
cả công cuộc vĩ đại của đất nước Em hạnh phúc khi được hy sinh cho tươi sáng buổi mai, vì vậy, khi
em ra đi, chẳng để lại gì Chỉ có ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi Nụ cười của em chan chứa bao niềm vui, lấp lánh bao hạnh phúc
Em đã ra đi với mắt cười thanh thản Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai Bởi biết mình có mặt ở tương lai
Những vần thơ giản dị, mộc mạc, chân thành, đã cho người đọc cảm nhận đầy xúc động về hai chữ
“hạnh phúc” thiêng liêng Những câu thơ tự do với độ dài ngắn khác nhau, hình ảnh thơ vừa chân thực vừa mang tính biểu tượng cao đã cuốn độc giả vào trường cảm xúc của nhân vật trữ tình anh trước sự hy sinh của em, từ đó cho thấy rõ sự biến đổi trong quá trình hòa nhập giữa cá nhân với dân tộc, đất nước Tác phẩm đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến đấu, hiểu được không khí của một thời Bài thơ là nỗi niềm riêng của thi sĩ song đã gợi được những vấn đề chung, tình cảnh chung, cảm xúc chung của biết bao thế hệ
Trang 5Bài thơ “Màu tím hoa sim” được Hữu Loan viết vào năm 1949 viết về người thật, việc thật nên trang thơ là một trời tâm trạng của nhân vật Từ những ngày quen nhau tình yêu thầm lặng, thiết tha, êm đềm và giản dị như tình anh em Rồi đến phút giây hân hoan, vui sướng trong ngày hợp hôn Và biết bao âu lo, nhớ thương trong tháng ngày xa cách và rồi khoảnh khắc bàng hoàng khi nhận tin người vợ
ở hậu phương đã mãi mãi ra đi Những xúc cảm đối lập, trái chiều tiếp nối như diễn tả tâm trạng bất định khi vừa lên thiên đường đã phải xuống địa ngục Cuộc đời, tình yêu, hạnh phúc phút chốc vụt khỏi tầm tay, còn rớt rơi lại một cành hoa tím ghi dấu một thời Bài thơ là tiếng khóc, là thương đau nhưng không bi lụy vì nước mắt của tình yêu tan vỡ đã vẽ thành một loài hoa Hoa sim trong thực tại bước vào trang thơ và trở thành một biểu tượng tình yêu Vẻ đẹp riêng biệt của loài hoa dại này đến từ cái mỏng manh như tình yêu ngắn ngủi, đến từ cái màu tím làm xao xuyến lòng người và đến từ một sức sống mãnh liệt khi nó bất chấp cảnh hoang vu của núi rừng, khô cằn của sỏi đá, khắc nghiệt của thời tiết để sinh sôi sảy nở Bài thơ diễn tả những cung bậc tình cảm tăng dần tới đỉnh điểm nỗi đau khi trái tim vỡ òa ngàn mảnh gửi trong từng cánh sim tím ngát trong chiều hoang biền biệt Màu hoa sim trở thành sắc màu thời gian, sắc màu thương nhớ Dư âm của tình yêu, của cái đẹp và của niềm đau xót tràn trề suốt bài thơ tạo nên một sắc tím thủy chung, u buồn; bạt ngàn núi đồi, trùng trùng tiếc nuối…
Ra đời khi mảnh khăn tang còn trĩu nặng, khi nước mắt chưa khô nên lời thơ bật ra từ trái tim nát tan rất chân thành, rất thực và điều làm thổn thức tâm hồn người đọc cũng chính từ điều rất thực đó Nhịp điệu câu chữ trong tác phẩm gắn chặt với cảm xúc của nhân vật trữ tình Thể thơ tự do tạo ra một hiệu quả thẩm mỹ trong việc bộc lộ tâm trạng
Màu tím hoa sim hay không chỉ bởi những xúc cảm chân thành mà còn đến từ sự gắn kết hài hòa tính
tự sự, tính kịch và tính nhạc Trước tiên bài thơ là một câu chuyện tình của một người lính kể về tình duyên của mình trên chặng đường hành quân Đối tượng tự sự được giới thiệu ngắn gọn mà đây đủ : tôi và nàng, hoàn cảnh, tình cảm :
Nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng
Có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh Tôi người Vệ quốc quân
Trang 6Xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Câu chuyện của những anh lính san sẻ cho nhau trong rừng hoang sương muối, trong phút giây chờ giặc tới không chỉ nối kết tình đồng đội hay mong ước vợi bớt cô đơn mà còn như lời trối trăn cho chút yêu thương để lại cõi đời khi không biết ngày mai ai còn, ai mất Đó là những gì riêng tư sâu kín nhất, chân thành nhất Tính chất tự sự của bài thơ được thể hiện qua những sự kiện quan trọng mang dấu ấn đậm nét theo trình tự Đó cũng là cách kể của những ai khi mất mát người thân Ta đã từng bắt gặp lối kể này trong tác phẩm Khóc Dương Khuê của tác giả Tam Nguyên Những sự kiện tái hiện trong kí ức lần lượt hiển hiện trên trang thơ vừa bộc lộ tâm trạng buồn đau trước sự mất mát không
gì bù đắp nổi vừa là những kỷ niệm đẹp đến tàn nhẫn của quá khứ khoét sâu vào mất mát hiện tại Với Hữu Loan, quá khứ là màu áo tím dịu dàng, là mái tóc xanh người thiếu nữ, là nụ cười xinh xinh rạng ngời hạnh phúc và còn là vết bùn đất hành quân trên đôi giày người lính trẻ
Ngày hợp hôn Nàng không đòi may áo mới Tôi mặc đồ quân nhân Đôi giày đinh
Bết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh Bên anh chồng độc đáo
Cái xinh xinh và độc đáo được đặt trong tương quan với quân nhân, giày đinh, hành quân – Tình yêu nảy nở và chịu thử thách trong thời chinh chiến Các từ ngữ kết hợp lạ lùng báo hiệu những bất trắc,
éo le không thể tránh thoát của con người Bất ngờ sẽ xảy ra, chiến tranh là đồng nghĩa với mất mát, chết chóc, thương đau Theo logic bình thường thì người nơi chiến trận ắt sẽ phải chịu nhiều nguy hiểm Nhưng sự bất ngờ là không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ hậu phương Cái chết ập đến quá nhanh Tính kịch trong bài thơ thể hiện qua nhiều mâu thuẫn, trái ngang Con người
có đủ sức mạnh, niềm tin, nghị lực để vượt qua tất cả nhưng không thể vượt qua định mệnh Cái bi thương hơn cả của con người là những niềm mơ ước giản dị đôi lúc lại trở nên quá xa vời không thể
Trang 7nắm bắt, khi chưa được hạnh phúc thì đã xa rời Như người con gái ấy chờ mong hạnh phúc, khát khao tình yêu và ngày trọng đại nhất một đời nàng cũng không may áo mới; thế mà, người chồng sau
lễ thành hôn phải ra trận; từng đêm trông chồng đã kết thúc bằng nấm mồ tàn lạnh Khi người lính chợt nghe câu ca dao xưa:
“Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu”
Lại thấy càng sót thương hơn bao giờ hết Giờ đây không phải là câu ca tình tứ thủa nào của chàng trai mượn sợi chỉ vá áo để kết duyên tơ hồng nữa mà giờ nó mang một ý khác:
“Áo tôi sứt chỉ đường ta
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu”
Áo sứt chỉ như tình yêu dở dang, như cuộc đời đứt đoạn, như vết thương không được vá, vợ anh mất rồi Nó sẽ là vết thương không thể lành
Nhưng hơn là một bi kịch cá nhân Bài thơ gây xúc động cho người đọc bởi nó chứa đựng bi kịch muôn đời của thân phận làm người Đó là sự đối chọi không khoan nhượng giữa khát vọng và hiện thực; giữa sự sống và cái chết; giữa tình yêu và định mệnh…Mà trong đó bao giờ giai nhân cũng mang một dự cảm chẳng lành về phận số Màu tím người con gái yêu thích như nhuốm màu thiên định :
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa
Một mình đèn khuya Bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo Ngày xưa
Trang 8Một đoạn thơ thật lạ so với toàn bài, bởi Ngày xưa được nhắc đến 3 lần Ngày xưa không chỉ là kí ức chứa đựng thời gian mà còn như khắc họa một vẻ đẹp ngàn đời của người thiếu phụ Hình ảnh đêm khuya ngồi may áo cho chồng xuất hiện trong ca dao, trong thơ Trung đại là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam với phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó, khéo léo và đầy tình yêu thương… nhưng cũng là bao kiếp đời bạc mệnh của ngày xa xưa đó Người con gái hiện lên qua đoạn thơ như một đóa sim rừng dịu hiền, nhỏ nhoi và mong manh
Và từ đó, trên bước đường hành quân, những đồi hoa sim như gợi nhớ về người vợ, như ẩn hiện dáng hình người vợ đã qua đời Viết về đồi sim với nhiều cung bậc khác nhau nhưng chỉ tạo thành một một gam màu duy nhất:
Chiều hành quân Qua những đồi hoa sim Những đồi hoa sim Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim
Tím cả chiều hoang biền biệt…
Chiều tím, hoa tím – tím cả không gian, tím cả hồn người Điệp ngữ “Những đồi hoa sim” vừa có tính tạo hình khi vẽ nên một không gian dài rộng lại vừa là một biểu tượng nghệ thuật mang giá trị thẩm
mỹ cao Bởi, cái hữu hình “Những đồi hoa sim tím” đã biến thành cái vô hình “Tím màu da diết”; màu tím đã trở thành màu biểu trưng cho tình yêu, cho tâm hồn, cho nỗi lòng nhân vật
Là bài thơ mang đầy âm hưởng Cách tổ chức câu chữ trong từng phần và việc phối thanh hài hòa khiến người đọc có thể cảm nhận kết cấu toàn bài như một bản Sonate hoàn chỉnh với khúc dạo đầu bay bổng nhịp nhàng cảm xúc rộn ràng, náo nức của ngày hợp hôn; đoạn giữa là sự phối thanh trái chiều như khúc tráng ca và âm thanh lắng đọng, bi thương trong phút giây câm lặng của hình ảnh người mẹ ngồi bên mộ con đầy bóng tối, đó là những cơn sóng cuộn xé trong lòng thi nhân khi phút giây cuối không được thấy mặt nhau, đó là sự trào dâng trước nghịch cảnh của những người anh khi biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng ; và kết thúc là khúc trầm sâu lắng diết da của tiếng lòng người quân nhân nức nở, nghẹn ngào Tác giả còn sử dụng các từ láy kết hợp với phép nhấn rất hiệu quả Nếu đoạn một là “Tóc nàng xanh xanh”, “cười xinh xinh” thì đoạn 2 là “Ngày xưa”, “màu sim
Trang 9tím” và đoạn ba là “Những đồi hoa sim”, “chiều hoang biền biệt”…Đặc biệt đoạn thơ cuối cách lặp tữ ngữ, cú pháp với tần số cao đã tạo thành một điệp khúc gây ấn tượng mạnh
Cái đẹp của Màu tím hoa sim có được nhờ nó hội tụ được nhiều giá trị Việc kết hợp giữa tự sự và trữ tình, tính thơ, tính nhạc và tính kịch đã biến bài thơ trở thành một tác phẩm rất hay và giá trị Nhưng
có lẽ giá trị hơn, cao đẹp hơn là sắc tím không bao giờ tàn phai, sắc màu của tình yêu, sắc màu chung thủy
So sánh hai tác phẩm về nội dung cả hai tác phẩm không hẹn mà gặp khi đều sáng tác để bày tỏ nỗi lòng về sự ra đi của người vợ Là câu chuyện tự sự về tình yêu thời chiến trinh có hạnh phúc có đau thương, có vui có buồn Nhưng tình yêu thời chiến thường không thể đảm bảo Với bom đạn chiến tranh, khói lửa liên miên thì việc nay sống mai chết sẽ sảy ra bất cứ lúc nào Nhưng sự đau thương mất mát sẽ khéo dài Những nỗi nhớ, những kỉ niệm sẽ gắn vào cảnh vật Càng đáng thương khi họ ra
đi khi còn rất trẻ, người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, người mẹ già bên nấm mộ người con, người ở tuyền tuyến tiễn người ở hậu phương Tuy cùng viết về sự ra đi của người vợ của mình nhưng ở hai tác phẩm cũng có sự khác nhau Trong tác phẩm “Bài thơ về hạnh phúc” người vợ của tác giả ở chiến tuyến, là một người lính, cùng tham gia kháng chiến, hi sinh trong chiến đấu “Những viên đạn quân thù bắn em, trong lòng anh sâu xoáy’’ Còn trong bài thơ “Màu tím hoa sim” nói về người vợ ở hậu phương, không nói rõ về cái chết, người đọc chỉ có thể tự hiểu
Bài thơ đều đã thể hiện một cách chân thực sự đau thương mất mát mà chiến tranh mang lại và có chăng chính bởi đi sâu vào “mặt trái” của cuộc chiến mà đã có một thời, có tác phẩm đã bị “cấm” không được tuyên truyền rộng rãi đối với bạn đọc và người yêu thơ, hay người ta ngại ngần nhắc đến Lớp người say mê và yêu thích những bài thơ như hai tác phẩm trên chỉ được lưu giữ và ghi chép chúng trong cuốn sổ tay cá nhân của mình rồi chuyền tay nhau mà ngậm ngùi chua xót Có hiện tượng
đó, âu cũng là một điều dễ hiểu Bởi lẽ trong khi cả nước đang gồng mình lên để chiến đấu với kẻ thù mạnh hơn thì tất yếu những bài thơ buồn, uỷ mị như thế sẽ không có lợi cho cuộc chiến tranh cách mạng Song do bài thơ đều nói được những điều đúng đắn, chân thành và sâu lắng nhất trong tận đời sống tâm linh con ngườn nên sau khi cuộc chiến qua đi, chúng đã được trả lại giá trị đích thực Và không chỉ hai tác phẩm trên mà còn một số tác phẩm nữa đã nói lên rằng thơ ca kháng chiến đâu chỉ
có niềm vui Bởi bên cạnh cái “hùng” trong phạm trù thẩm mỹ luôn có cái “bi” song song tồn tại Cái
“bi” chính là ở những đau thương, mất mát; ở hiện thực tàn khốc của cuộc chiến tranh không gì bù đắp nổi Nhưng cái “bi” ấy không phải là cái buồn mơ hồ, luẩn quẩn, bế tắc của các thi nhân trong phong trào thơ mới – mà đó là cái buồn tích cực trong thời kỳ cách mạng Họ hiểu rõ nguyên nhân,
Trang 10nguồn gốc sâu xa, chứ không còn “vô cớ” như “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”
Ở bài thơ Màu tím hoa sim, Hữu Loan không đặt nặng tình đồng chí hay lòng căm thù mà tác giả muốn ngợi ca hạnh phúc con người, thể hiện nỗi đau khôn cùng khi người vợ trẻ đoản mạng, và nói đến bi kịch chua sót khi người yêu không còn bên cạnh Tác phẩm bị coi là mang tình cảm “tiểu tư sản” của thành phần trí thức Là vì lần đầu tiên trong dòng thơ kháng chiến, khi tất cả đều theo dòng chảy ca ngợi động viên cái chất hào hùng anh dũng để phục vụ nhiệm vụ kháng chiến cứu quốc thì “ Màu tím hoa sim” lại nói về bi kịch của chiến tranh Dù là chiến tranh phi nghĩa hay chính nghĩa thì mặt sau của nó mất mát, đau thương Ông có lẽ là thi sĩ cách mạng đầu tiên đã đưa một ánh sáng thực tại vào góc khuất với bài thơ khóc thương vợ Từ khi ra đời bài thơ và tác giả cũng chịu nhiều thăng trầm, vất vả Sau khi được công bố, tác phẩm được sự yêu mến bao nhiêu thì tác giả càng vướng vào bấy nhiêu hệ lụy
Bài thơ về hạnh phúc của Dương Hương Ly đặt tình yêu gắn với tình đồng chí, hòa quyện với lòng căm thù giặc và tình yêu tổ quốc Trong cái buồn chất chứa niềm đau, sự xa xót ấy, vẫn thấy ánh lên niềm tin yêu, hy vọng, sự sống và lòng quyết tâm tiêu diệt kẻ thù Chính sự mất mát đau thương lại tạo nên động lực, hóa thành tinh thần quyết tâm chiến đấu Tình yêu chồng vợ, tình yêu đôi lứa đã hoà chung vào trong tình yêu lớn là yêu quê hương đất nước, của cả một cộng đồng dân tộc Cá nhân và dân tộc gặp nhau trên chiến trường
“Anh bàng hoàng như ngỡ trái tim rơi Như bỗng tắt mất vầng mặt trời hạnh phúc Nhưng em ạ, giây phút này chính lúc Anh thấy lòng anh tỉnh táo lạ thường Nhắm thẳng quân thù, mắt không giọt lệ vương Anh nổ súng.”
Về nghệ thuật cả hai bài thơ đều theo thể tự do Những câu từ mang đầy cảm xúc Sử dụng sự đối lập
và lặp một cách hiệu quả , liên kết với nhau rất chặt chẽ Dòng hồi tưởng từ thực tại về quá khứ rồi trở lại thực tại đã làm dòng cảm xúc rất sâu Cùng với đó là những hình ảnh thơ gần gũi, thân thuộc nhưng cũng chính vì vậy mà gợi lên bao kỉ niệm khắc ghi vào tâm khảm người chồng mất vợ