1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

tiểu luận CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM Đề tài Tìm hiểu về hình thức tín ngưỡng của người Việt Nam

15 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu về hình thức tín ngưỡng của người Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Chuyên ngành Cơ sở Văn Hóa
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 156,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu về hình thức tín ngưỡng của người Việt Nam. MÔN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM Đề tài: Tìm hiểu về hình thức tín ngưỡng của người Việt Nam.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

BÀI TIỂU LUẬN THI GIỮA HỌC KÌ II MÔN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM

Đề tài: Tìm hiểu về hình thức tín ngưỡng của người

Việt Nam.

Họ và tên: Trần Thị Phương Liên

MSSV: 3121150075

Lớp: DGT1211

Năm học: 2021-2022

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 1

NỘI DUNG 2

Chương 1: TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰC 2

1.1 Thờ sinh thực khí 2

1.2 Thờ hành vi giao phối 3

1.3 Vai trò của tín ngưỡng phồn thực 5

Chương 2: TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI TỰ NHIÊN 6

2.1 Thờ Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước 6

2.2 Thờ động vật và thực vật 7

Chương 3: TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI CON NGƯỜI 8

3.1 Thờ hồn vía 8

3.2 Thờ cúng tổ tiên 9

3.3 Thờ thổ Công 9

3.4 Thờ thần làng 10

3.5 Thờ Vua Tổ 10

KẾT LUẬN 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên

Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gần gũi với

họ Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Tìm hiểu về hình thức tín ngưỡng của người Việt Nam” làm

đề tài tiểu luận của tôi

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về các hình thức tín ngưỡng để hiểu rõ hơn về các tin

ngưỡng của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay, biết được tín ngưỡng nào phản ánh cận nét triết lí âm dương từ đối tượng thờ cúng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về các hình thức tín ngưỡng tôn giáo, triết lí âm dương

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào tài liệu và tham khảo từ các nguồn trên Internet

Trang 4

NỘI DUNG Chương 1: TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰC

Ngay từ đầu, duy trì và phát triển sự sống đã là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người Đối với văn hóa nông nghiệp, hai việc này lại càng bội phần hệ trọng

Để duy trì cuộc sống, cần cho mùa màng tươi tốt Để phát triển sự sống, cần cho con người sinh sôi Hai hình thức sản xuất lúa gạo (để duy trì cuộc sống) và sản xuất con người (để kế lục dòng giống) này có bản chất giống nhau, đó là sự kết hợp của hai yếu tố khác loại (đất và trời, mẹ và cha)

Từ một thực tiễn đó, tư duy cư dân nông nghiệp Nam Á đã phát triển theo hai hướng: Những trí tuệ sắc sảo đi tìm quy luật khách quan để lí giải hiện thực, kết

quả là tìm được “triết lí âm dương” Còn những người có trình độ hạn chế thì

nhìn thấy ở hiện thực một sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà sùng bái nó như thần

thánh, kết quả là xuất hiện tín ngưỡng phồn thực (phần = nhiều, thực = nãy nở).

Triết lí âm dương và tín ngưỡng phồn thực chỉ là hai mặt của một vấn đề Ở Việt

Nam, tín ngưỡng phồn thực từng tồn tại suốt chiều dài lịch sử với hai dạng biểu hiện: thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối

1.1 Thờ sinh thực khí

Việc thờ cơ quan sinh dục nam nữ được gọi là thờ sinh thực khí (sinh = dễ, thực = nảy nở, khí = công cụ) Đây là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực,

nó phổ biến ở các nền văn hóa nông nghiệp

Tượng đá, hình nam nữ với bộ phận sinh dục phóng to có niên đại hàng nghìn năm trước Công nguyên được tìm thấy ở Văn Điển (Hà Nội), ở thung lũng Sa Pa (Lào Cai) Ở nhà mồ Tây Nguyên xưa nay tượng người với bộ phận sinh dục

Trang 5

phóng to thường xuyên có mặt Ở Phú Thọ, Hà Tĩnh và nhiều nơi khác có tục thờ

cúng nổ (nõn) nường (nõ = cái nêm, tượng trưng cho sinh thực khí nam; nường =

nang, mo nang, tượng trưng cho sinh thực khí nữ) Ở hội làng Đông Kị (Bắc Ninh)

có tục rước sinh thực khí (bằng gỗ), tan hội chúng được đem đốt và tro chia cho mọi người mang rắc ra ngoài ruộng – hành động này như một ma thuật truyền sinh cho mùa màng Ở nhiều địa phương thuộc Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Tây trước đây vào dịp hội làng, người ta rước tới 18 bộ sinh thực khí và khi đám rước kết thúc, mọi người tranh cướp nhau vì tin rằng chúng sẽ đem lại may mắn, no đủ cho cả năm

Việc thờ sinh thực khí còn thể hiện ở việc thờ các loại cột đá (tự nhiên hoặc được tạc ra) và các loại hốc (hốc cây, hốc đá, kẽ nứt trên đá) Ở chùa Dạm (Bắc Ninh) có một cột đá hình sinh thực khí nam có chạm nổi hình rồng thời Lí Ngư phủ ở Sở điểm Hòn Đỏ (Khánh Hòa) thờ một kẽ nứt lớn trên một tảng đá mà dân gian gọi là Lỗ Lường (âm đọc chệch đi của tên gọi sinh thực khí nữ), vị nữ thần này được ngư dân gọi là Bà Lưỡng

1.2 Thờ hành vi giao phối

Bên cạnh việc thờ sinh thực khí (=yếu tố) giống như nhiều dân tộc nông nghiệp khác, cư dân trồng lúa nước với lối tư duy coi trọng quan hệ còn có tục thờ hành vi giao phối, tạo nên một dạng tín ngưỡng phồn thực độc đáo, đặc biệt phổ biến ở khu vực Đông Nam Á

Trên nắp thạp đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái, khoảng 500 năm trCN), xung quanh hình mặt trời là tượng 4 đôi nam nữ đang giao phối Ở các nhà

mồ Tây Nguyên hiện vẫn dựng tượng nam nữ giao phối hồn nhiên với bộ phận sinh dục phóng to Không chỉ hình người, mà cả hình động vật giao phổi cũng rất

Trang 6

phổ biến Ở thân thạp Đào Thịnh khắc hình những con thuyền nối đuôi nhau, khiến cho hai con cá sấu – rồng được gắn ở mũi và lái của chúng chạm nhau trong tư thế giao hoan Hình chim, thú, cóc giao phối tìm thấy khắp nơi Nếu lưu ý rằng các tượng trưng cho việc cầu mưa, cầu mùa thì ý nghĩa phồn thực của loại tượng các giao phối lại càng rõ nét

Vào dịp hội đền Hùng, ở vùng đất Tổ lưu truyền điệu múa "tùng dí": thanh niên nam nữ múa từng đôi, cầm trong tay những vật biểu trưng cho sinh thực khi nam và nữ Ở Sở cảm Hòn Đỏ vừa nói, khi nhiều ngày liên tục không đánh được

cá, đích thân người cầm đầu Sở phải tới cầu xin, lạy 3 lạy và cầm vật tượng - trưng cho sinh thực khí nam đâm vào Lỗ Lường 3 lần (lại số 3, số lẻ ưa thích của người phương Nam!) Ở vùng La Sơn, La Cả (Hà Tây) có tục khi rã hội (tan đám), vị bô lão chủ trì đánh 3 hồi trống, 3 hồi chiêng; trong khoảng thời gian đó, đèn đuốc được tắt hết, mọi điều cấm kị được lâm thời huỷ bỏ, thanh niên nam nữ được tự do” Ý nghĩa của tục này là ở chỗ sự hợp thân của nam nữ trên đất cổ được xem như một hành động mang tính ma thuật, có tác dụng kích động thiên nhiên đất trời (giống như việc rắc tro sinh thực khí ra ruộng)

Từ thời xa xưa, chày và cối – bộ công cụ thiết thân của người nông nghiệp

Đông Nam Á – đã là những vật tượng trưng cho sinh thực khí nam nữ, còn việc giã gạo tượng trưng cho hành động giao phối Không phải ngẫu nhiên mà trong vô vàn cách tách vỏ trấu khỏi hạt gạo, người Đông Nam Á đã chọn cách này; trên các trống đồng khắc nhiều những hình nam nữ Không thấy mối liên hệ giữa việc giã gạo với tín ngưỡng phồn thực, sẽ không hiểu được tục “giã cối đón dâu": nhà trai bày chày cối trước cổng, khi dâu về đến nơi thì người nhà trai cầm chày mà giã không vào cối mấy tiếng - đó là nghi lễ cầu chúc cho đôi vợ chồng trẻ được đông con nhiều cháu

Trang 7

1.3 Vai trò của tín ngưỡng phồn thực

Vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sống của người Việt cổ lớn tới mức chiếc trống đồng – biểu tượng sử mạnh và quyền lực của người xưa - đồng thời cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực: Trước hết, hình dáng trống đồng được phát triển từ chiếc cối giã gạo Thứ hai, cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống được khắc trên chính các trống đồng và còn được bảo lưu ở người Mường hiện nay là mô phỏng động tác giã gạo – động tác giao phối Thứ ba, trên tâm mặt trống là hình mặt trời với tia sáng biểu trưng cho sinh thực khí nam, và giữa các tia sáng là một hình lá với khe ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ Thứ tư, xung quanh mặt trống thường gắn tượng các con cóc ý thức của người Việt là “cậu ông trời", mang theo mưa, khiến cho mùa màng tốt tươi, cũng là một dạng biểu trưng của tín ngưỡng phồn thực Cuối cùng, tiếng trống đồng rền vang mô phỏng âm thanh của tiếng sấm – cùng mang ý nghĩa trên Ngay cả những hiện tượng tưởng chừng rất xa xôi như chùa Một Cột vuông (âm) đặt trên một cột tròn (dương), cột tròn lại đặt trong cái hồ vuông (âm), hồ vuông này xưa nằm trên đảo trong hồ Linh Chiều hình tròn (dương); tháp Bử (dương) bên cạnh đài Nghiên (âm) ở cổng đền Ngọc Sơn cửa sổ tròn (dương) trên gác Khuê Văn soi mình xuống hồ vuông Thiên Quang Tỉnh (âm) trong Văn Miếu – tất cả đều liên quan tới tín ngưỡng phồn thực Cũng không phải ngẫu nhiên mà tại các nơi thờ cúng ta thường thấy có cái mô đặt bên trải và cái chuông đặt bên kia, bên phải: cái mõ làm bằng gỗ (hành Mộc) đặt ở bên trái (phương đông) là dương, cái chuông làm bằng đồng (hành Kim) đặt ở bên phải (phương tây) là âm Tiếng

mõ trầm phải hòa với tiếng chuông thanh - cuộc sống vĩnh hằng chỉ có được khi

âm dương hòa hợp! Tín ngưỡng phồn thực đối khi thâm nhập vào cả chốn cung đình: Theo Việt sử thông giám cương mục, trong yến tiệc do vua Trần Thái Tông

Trang 8

đãi quần thần năm 1252, đứng chỉ huy hiệu lệnh uống rượu là một người đầu đội

mo nang, tay cầm dùi đục !

Chương 2: TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI TỰ NHIÊN

Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người Với người Việt sống bằng nghề lúa nước, thì sự gắn bó với tự nhiên lại càng dài lâu và bền chặt Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực nhận thức là lối tư duy tổng hợp, và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tín ngưỡng đa thần Chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ, và trong tín ngưỡng là tình trạng các nữ thần chiếm ưu thế Và vì cái đích mà người nông nghiệp hướng tới là sự phồn thực, cho nên nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp, mà là các BÀ mẹ, các MẪU Tục thờ Mẫu (đạo Mẫu) đã trở thành một tín ngưỡng Việt Nam điển hình

2.1 Thờ Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước

Trước hết là các Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước - những nữ thần cai quản các hiện tượng tự nhiên thiết thân nhất đối với cuộc sống của người trồng lúa nước Về sau,

do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nên có thêm Ngọc Hoàng, Thổ Công, Hà Bá Tuy nhiên, các bà vẫn song song tồn tại: Bà Trời dưới dạng Mẫu Cửu Trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ ở Huế là Thiên Mụ, Thiên Yana Nhiều nhà, ở góc sân vẫn

có một bàn thờ gọi là bàn thờ Bà Thiên Bà Đất tồn tại dưới tên Mẹ Đất (Địa Mẫu)

Bà Nước tồn tại dưới tên Bà Thủy Ở nhiều vùng, Bà Đất và Bà Nước còn tồn tại dưới dạng thần khu vực như Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Sông, Bà Chúa Lạch Ba bà này còn được thờ chung như một bộ tam tài dưới dạng tín ngưỡng TAM PHỦ cai

Trang 9

quản ba vùng trời - đất - nước: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải (âm đọc chệch đi từ chữ Thủy)

Các bà Mây-Mưa-Sấm-Chớp cai quản những hiện tượng tự nhiên hết sức quan trọng trong cuộc sống của cư dân nông nghiệp lúa nước Đến khi Phật giáo vào Việt Nam, nhóm nữ thần này được nhào nặn thành hệ thống TỨ PHÁP: Pháp Vân (Thần Mây thờ ở chùa Bà Dâu, Pháp Vũ (Thần Mưa) thờ ở chùa Bà Đậu, Pháp Lôi (Thần Sấm) thờ chùa Bà Tướng, Pháp Điện (Thần Chớp) thờ ở chùa Bà Dàn Lòng tin của nhân dân vào hệ thống Tứ Pháp mạnh đến nỗi vào thời Lí, nhiều lần triều đình đã phải rước tượng Pháp Vân về Thăng Long cầu đảo, thậm chí rước theo đoàn quận đi đánh giặc

Người Việt còn thờ các hiện tượng tự nhiên khái quát như không gian và thời

gian Thần không gian được hình dung theo Ngũ hành: Ngũ Hành Nương Nương; rồi có Ngũ Phương chi thần coi sóc các phương trời, Ngũ Đạo chi thần trông coi các ngả đường Theo địa chỉ, người ta thờ thần thời gian là Thập nhị Hành khiển.

Thời gian kéo dài, bảo tồn sự sống vô tận, nên 12 nữ thần này đồng thời có trách

nhiệm coi sóc việc sinh nở – đó là Mười hai Bà Mụ.

2.2 Thờ động vật và thực vật.

Chim, rắn, cá sấu là những loài động vật phổ biến hơn cả ở vùng sông nước Do

vậy, thuộc loại được sùng bái hàng đầu Người Việt có câu: Nhất điểu, nhì xà, tam

ngư, tứ tượng Thiên hướng nghệ thuật của loại hình văn hóa nông nghiệp còn đẩy

các con vật này lên mức biểu trưng: Tiên, Rồng Theo truyền thuyết thì tổ tiên

người Việt thuộc "họ Hồng Bàng" và là "giống Rồng Tiên" (thành ngữ: con Hồng

cháu Lạc; con Rồng cháu Tiên) Hồng Bàng nghĩa là một loài chim nước lớn (chữ

hồng “ghép bởi chữ giang là "sông nước" và chữ điểu là "chim”, bàng là lớn).

Trang 10

Tiên Rồng là một - cặp đôi (chỉ có dân tư duy theo triết lí âm dương mới có vật tổ

cặp đôi), trong đó Tiên được trừu tượng hóa từ giống chim (cho nên Mẹ Âu Cơ đẻ trứng!), còn Rồng được trừu tượng hóa từ hai loài hò sát rắn và cá sấu có rất nhiều

ở vùng sông nước Đông Nam Á Đó cũng là hai loài vật biểu của phương Nam và phương Đông trong Ngũ hành

Thực vật thì được tôn sùng nhất là cây Lúa; khắp nơi – dù là vùng người Việt

hay vùng các dân tộc – đều có tín ngưỡng thờ Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa Thứ

đến là các loài cây xuất hiện sớm ở vùng này như cây Cau, cây Đa, cây Dâu, quả

Bầu

Chương 3: TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI CON NGƯỜI 3.1 Thờ hồn vía

Trong con người có cái vật chất và cái tinh thần Cái tinh thần trừu tượng, khó nắm bắt, nên người xưa đã thần thánh hóa nó thành khái niệm "linh hồn", và linh hồn trở thành đầu mối của tín ngưỡng Người Việt và một vài dân tộc Đông Nam

Á còn tách linh hồn ra thành hồn và vía Người Việt cho rằng con người có 3 hồn,

nhưng vía thì nam có 7, còn nữ có 9

Chết tức là cơ thể từ trạng thái động trở thành tĩnh, cho nên theo triết lí âm dương thì hồn đi từ cõi Dương (Dương gian, Dương thế) sang cõi Âm (Âm ti, Âm phủ) Đó là một thế giới bên kia Ở vùng nông nghiệp sông nước này thì "thế giới bên kia" cũng là nơi sông nước, ngăn cách chúng ta bằng chín suối (9 - con số lẻ ước lệ biểu thị số nhiều); tới đó phải đi bằng thuyền: Thời Đông Sơn, người chết

Trang 11

được chôn trong những quan tài bằng thân cây đẽo theo hình thuyền Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và suốt miền duyên hải Trung Bộ còn lưu giữ nghi lễ "chèo đưa linh" – hội các bà múa điệu chèo đò và hát những câu tiễn đưa linh hồn người chết về nơi chín suối

3.2 Thờ cúng tổ tiên

Niềm tin rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối, tin rằng tuy ở nơi chín suối, nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho cháu con là cơ

sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Nó có mặt ở nhiều dân tộc Đông Nam Á

và là nét đặc thù của vùng văn hóa này (Đinh Gia Khánh, 1993), nhưng theo quan sát của nhà dân tộc học người Nga G.G Stratanovich (1978) thì nó phổ biến và phát triển hơn cả ở người Việt Ở người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo (nhiều nơi gọi là Đạo Ông Bà); ngay cả những gia đình không tin thần thánh cũng đặt hàn thờ tổ tiên trong nhà

3.3 Thờ thổ Công

Trong gia đình, ngoài thờ tổ tiên, người Việt Nam còn có tục thờ Thổ Công Thổ Công, một dạng của Mẹ Đất, là vị thần trông coi gia cư, định đoạt phúc họa cho một gia đình Sống ở đâu thì có Thổ Công ở đó: Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá Mối quan hệ giữa Thổ Công (địa thần) với ông bà tổ tiên (nhân thần) trong gia đình rất thú vị: Thổ Công định đoạt phúc họa cho cả nhà nên là vị thần quan trọng nhất, nhưng ông bà sinh thành ra ta nên được tôn kính nhất Để không làm mất lòng ai, người Việt Nam xếp cho tổ tiên ngự tại cái bàn thờ tôn kính nhất ở gian giữa, còn Thổ Công thì ở gian bên trái (theo Ngũ hành thì bên trái – phương đông

là nơi quan trọng thứ hai sau trung tâm) Tuy địa vị kém nhân thần nhưng quyền

Ngày đăng: 14/05/2022, 02:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w