BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN: ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM ĐỀ BÀI SỐ 4: “Nội dung và những biểu hiện của triết lý Âm – Dương trong đời sống người Việt Nam”... Đ
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
MÔN:
ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ
VIỆT NAM
ĐỀ BÀI SỐ 4:
“Nội dung và những biểu hiện của triết lý
Âm – Dương trong đời sống người Việt Nam”
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 4
I Nội dung của triết lý Âm – Dương 4
1 Nguồn gốc của triết lý Âm – Dương 4
2 Nội dung của triết lý Âm – Dương 4
II Biểu hiện của triết lí Âm Dương trong đời sống người Việt Nam 5
1 Biểu hiện triết lý Âm – Dương trong tính cách người Việt 5
2 Biểu hiện triết lý Âm – Dương trong giao tiếp của người Việt 8
3 Biểu hiện triết lý Âm – Dương các lĩnh vực nghệ thuật 9
4 Biểu hiện triết lý Âm – Dương ở nhu cầu ăn, mặc, ở 11
TỔNG KẾT 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia gốc nông nghiệp với nền văn hoá vô cùng đặc sắc được bảo tồn và phát triển suốt hơn 4000 năm Có khá nhiều cách để đi sâu vào nghiên cứu, khám phá nền văn hoá đồ sộ ấy nhưng cách phổ biến và khoa học hơn cả là nghiên cứu văn hoá theo hai mặt cơ bản là vật chất và tinh thần Trong khuôn khổ bài tập nhóm này, chúng em sẽ tập trung hơn vào tìm hiểu mặt tinh thần của văn hoá Việt Nam biểu hiện ở triết lý Âm – Dương Chủ đề bài tập nhóm của chúng em là: “Nội dung và biểu hiện của triết lý Âm – Dương trong đời sống người Việt Nam”
Âm – Dương là khái niệm để chỉ hai thực thể đối lập ban đầu tạo nên toàn bộ vũ trụ Âm – Dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn nhưng thống nhất với nhau, trong dương có âm và ngược lại Từ xưa đến nay, triết lý Âm – Dương vẫn luôn gắn bó mật thiết, sâu sắc với văn hoá Phương Đông trong đó
có Việt Nam Nó được biểu hiện cụ thể, rõ ràng từ nhiều góc độ, khía cạnh
Từ là cơ sở cho nhân dân ta vận dụng sáng tạo để lí giải các hiện tượng tự nhiên và xã hội, dần dần triết lý ấy đã thâm nhập vào mọi ngóc ngách của cuộc sống Để rồi cho đến tận ngày nay, ta vẫn bắt gặp sự hiện diện của nó trong lời ăn tiếng nói, lối sống, tính cách con người Việt Nam; trong các lĩnh vực nghệ thuật, tín ngưỡng, y học,… Để hiểu chủ đề của bài tập này, nhóm
em sẽ đi sâu tìm hiểu nguồn gốc và những biểu hiện của triết lý Âm – Dương trong tính cách, giao tiếp, lối sống của người Việt Nam và trong một số lĩnh vực nghệ thuật
Trang 4
NỘI DUNG
I Nội dung triết lý Âm – Dương:
1 Nguồn gốc của triết lý Âm Dương:
Để hiểu rõ hơn nguồn gốc của triết lý Âm Dương là gì, chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc tìm hiểu khái niệm Âm – Dương và quan hệ của chúng “Âm” và
“Dương” vốn là hai từ thường xuyên được sử dụng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân Đông Nam Á nói chung và người dân Việt Nam nói riêng Theo ý nghĩa ban đầu, “Âm – Dương” có một khái niệm hẹp hơn chính
là “mẹ – cha”, “đất – trời”, nhưng từ sự đối lập này mà người xưa suy ra được những cặp đối lập phổ biến như “nóng – lạnh”, “đực – cái”, hay “cao – thấp”, và hình thành nên một hệ thống học thuyết gọi là “triết lý Âm – Dương”
Triết lý Âm – Dương bắt nguồn từ vùng nông nghiệp lúa nước Đông Nam
Á thời cổ đại, sau đó lại được tổ tiên người Hán kế thừa và phát triển, trở thành một quan niệm, một tư tưởng học thuật Nhiều tài liệu cho rằng triết lý
Âm – Dương ra đời vào thời kỳ Ân – Thương của Trung Quốc và đến giờ vẫn chưa rõ ai là tác giả học thuyết này (có huyền thoại cho rằng, đó là vua Phục
Hy và Vũ Vương) Sau khi du nhập vào nước ta, dưới sự ảnh hưởng của tiến trình lịch sử, triết lý ấy đã ăn sâu vào máu thịt, hình thành nên tính cách và lối sống của người Việt Nam
2 Nội dung của triết lý Âm Dương:
Quy luật về thành tố:
Quy luật về bản chất của các thành tố trong triết lý Âm – Dương là: Không
có gì hoàn toàn dương, cũng không có gì hoàn toàn âm, trong dương tồn tại âm và trong âm cũng tồn tại dương
Quy luật này cho thấy việc xác định một vật là âm hay dương chỉ là tương đối Ví dụ về âm và dương: đất lạnh nên âm, nhưng càng xuống sâu dưới lòng đất, nhiệt độ càng cao nên dương Do đó, ta dễ dàng xác định được tính Âm – Dương của các cặp đối cực Nhưng đối với những đồ vật đơn lẻ thì khó hơn, để xác định Âm – Dương của một vật thì cần xác định đối tượng so sánh và cơ sở so sánh Chẳng hạn như màu trắng so với màu đỏ
là âm, nhưng so với màu đen là dương Hoặc như đất và nước, xét về độ
Trang 5cứng thì nước là âm còn đất là dương, nhưng về độ linh động thì đất là âm còn nước lại là dương
Quy luật về quan hệ:
Quy luật về quan hệ của các thành tố: Âm – Dương gắn bó mật thiết, vận động và chuyển hoá cho nhau; âm phát triển đến cùng cực thì chuyển thành dương và dương phát triển đến cùng cực thì chuyển thành âm
Ví dụ: Từ nước lạnh (âm), nếu nóng lên đến cực độ sẽ bốc hơi lên trời (mặt trời) Ngược lại, nếu lạnh đến cùng cực thì nước sẽ thành băng (âm) Tất cả các quy luật trên đều được ẩn ý trong biểu tượng Âm – Dương Biểu tượng Âm – Dương với hai nửa đối xứng ôm trọn lấy nhau, và trong mỗi phần đối xứng lại có một chấm tròn màu đối lập Hai nửa đen trắng đối xứng
ôm nhau là chỉ âm và dương, hai chấm tròn màu đối lập bên trong mỗi phần
là chỉ trong âm có dương, trong dương có âm
II Biểu hiện của triết lí Âm – Dương trong đời sống người Việt Nam:
1 Biểu hiện triết lý Âm – Dương trong tính cách người Việt:
“Triết lý Âm – Dương là sản phẩm trừu tượng hoá từ ý niệm và ước mơ của cư dân nông nghiệp về sự sinh sản của hoa màu và con người” Triết lý(1)
này biểu hiện trong tính cách người Việt chủ yếu qua tư duy lưỡng phân lưỡng hợp và triết lý sống quân bình
1.1 Tư duy lưỡng phân lưỡng hợp:
1.1.1 Nguồn gốc của tư duy lưỡng phân lưỡng hợp:
Đối với cư dân gốc nông nghiệp, nhất là nông nghiệp trồng lúa nước, theo thời gian họ nhận ra các yếu tố tự nhiên thường xuyên tác động đến đời sống, sản xuất như mặt trời, mặt đất, nắng, mưa, ngày, đêm, phân cặp một cách tự nhiên, thay nhau hoặc đồng thời tác động qua lại Từ mơ hồ hình dung từng yếu tố vừa hoà hợp vừa xung khắc với nhau, dần dần họ nhìn sự vật, hiện tượng đều có hai mặt, có tính chất hai chiều, hai đặc tính, và hình thành tư duy lưỡng phân lưỡng hợp, sau này khái quát thành những biểu tượng
1.1.2 Thế nào là tư duy lưỡng phân lưỡng hợp?
Tư duy lưỡng phân lưỡng hợp là loại tư duy khi xem xét một sự vật, hiện tượng nào đó phải xem xét cả hai mặt của sự vật hiện tượng – mặt trái, mặt phải; mặt trước, mặt sau Tư duy lưỡng hợp biểu hiện trong hầu hết các lĩnh
1 Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr.56.
Trang 6vực của đời sống xã hội, trong nền văn hoá dân tộc và trong tính cách của người Việt Nam
1.1.3 Triết lý Âm – Dương biểu hiện trong tư duy lưỡng phân lưỡng hợp:
Ở người Việt Nam, tư duy lưỡng phân lưỡng hợp bộc lộ đậm nét qua khuynh hướng cặp đôi ở khắp nơi, từ tư duy đến cách sống, từ các dấu vết cổ xưa đến những thói quen hiện đại (2)
a) Hầu như các dân tộc ngoài khu vực Đông Nam Á đều coi vật tổ là một loài động vật cụ thể, liên quan mật thiết đến đời sống con người; chẳng hạn
bò ở Ấn Độ, mèo ở Ai Cập, sói ở Mông Cổ, ó ở Mỹ Trong khi đó, vật tổ của người Việt lại mang dấu vết của tư duy Âm Dương, là cặp đôi trừu tượng Tiên – Rồng Những khái niệm chịu ảnh hưởng của tư duy ấy cũng xuất hiện trong truyền thuyết của các tộc người thiểu số như người Mường (chim Ây – cái Ứa), người Tày (Báo Luông – Slao Cái), người Thái (nàng Kè – tạo Cặp), b) Ở Việt Nam, cũng do nguyên tắc Âm – Dương hài hoà mà mọi sự vật đều có đôi có cặp, ít khi riêng lẻ: ông Đồng – bà Cốt, đồng Cô – đồng Cậu Khi xin Âm – Dương thì hai đồng tiền phải một ngửa một sấp; ngói Âm – Dương lợp nhà phải viên ngửa viên sấp; khi ghép gỗ thì phải một tấm có gờ lồi ra khớp với tấm kia có rãnh lõm vào Lối tư duy Âm – Dương ấy khiến (3)
người nước ta nói đến cha nghĩ ngay tới mẹ, nói đến vợ nhớ ngay đến chồng:
Ơn cha nặng lắm ai ơi Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.
hay:
Trai nuôi vợ đẻ gầy mòn
Vợ nuôi chồng ốm, béo cùn cối xay.
c) Trong tâm thức của người Việt Nam, dải đất chữ S là một khối Âm – Dương thống nhất: ĐẤT NƯỚC, các vật thể vừa đối chọi, vừa hài hoà, tạo nên dáng hình Tổ quốc Đất và Nước là hai yếu tố xung khắc với nhau, đất dương nước âm; thế nhưng hai loại vật chất này gắn kết tạo cho sự sống sinh sôi Ngoài ra còn có các cặp khái niệm có tính chất tương tự như: Núi – Nước, Non – Nước, Lửa – Nước Trong ngôn ngữ vùng Tây Nguyên, “chư” là núi và
“krong” là sông, “dak” là nước Phần lớn địa danh ở đây đều bắt đầu từ những chữ này: Chư Păh, Chư Pưh, Dak Lak, Dak Pơ Có thời điểm ở Tây Nguyên tồn tại các vương quốc của Vua Lửa (Pơtao Pui) và Vua Nước (Pơtao La) d) Mặc dù triết lý Âm – Dương là yếu tố ngoại sinh, song người Việt đã học hỏi, tiếp thu và có sự vận dụng một cách sáng tạo Ở nước ta, hình ảnh
2 Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr.56-57.
3 Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr.57.
Trang 7ông Tơ – bà Nguyệt đã thay cho ông Tơ Hồng, thần mai mối của Trung Hoa, hay Phật Ông – Phật Bà (Bụt đực – Bụt cái) thay vì chỉ là Phật Ông như ở Ấn Độ, Từ những khái niệm vay mượn đơn độc, người dân xưa đã ghép đôi ghép cặp cho chúng, biến những khái niệm ấy thành của ta, làm nên bản sắc văn hoá dân tộc ta
e) Biểu tượng Âm – Dương với hai nửa đối xứng ôm trọn lấy nhau, và trong mỗi phần đối xứng lại có một chấm tròn màu đối lập dùng phổ biến hiện nay mới được đặt ra từ đầu Công nguyên Tuy nhiên, theo PGS.VS Trần Ngọc Thêm, từ trước đó người Việt đã có một biểu tượng Âm – Dương, đó chính là biểu tượng vuông – tròn Biểu tượng của dương là tròn, biểu tượng của âm là vuông Có vuông có tròn tức là có âm có dương; nói “vuông – tròn” là nói đến sự hoàn thiện Quan niệm này thể hiện rõ nét qua hàng loạt câu thành ngữ, ca dao, trên mặt trống đồng Yên Bồng (Hoà Bình), trống Thôn Mống
(Ninh Bình), trên tiền đồng cổ Việt Nam và trong Truyện Kiều của Nguyễn
Du
Mẹ tròn con vuông.
Ba vuông xứng với bảy tròn
Đời cha vinh hiển, đời con sang giàu.
g) Người Việt Nam còn nhận thức rõ về HAI QUY LUẬT của triết lý Âm
– Dương Những quan niệm dân gian như: “Trong rủi có may, trong dở có hay” là sự diễn đạt cụ thể của quy luật “trong dương có âm” và “trong âm có dương” Và “Sướng lắm khổ nhiều”, “Trèo cao ngã đau” là sự diễn đạt cụ thể của quy luật “Âm – Dương chuyển hóa”
1.2 Triết lý sống quân bình:
1.2.1 Thế nào là triết lý sống quân bình?
Triết lý sống quân bình là coi trọng, đề cao sự hài hoà Âm – Dương trong
cơ thể và sự hài hoà trong giới tự nhiên Trong phần này, chúng em sẽ tập trung vào biểu hiện triết lý sống quân bình trong tính cách người Việt
1.2.2 Triết lý Âm – Dương biểu hiện ở triết lý sống quân bình:
Bằng cách nắm vững các quy luật đồng thời thấm nhuần tư tưởng của triết
lý Âm – Dương, người Việt Nam ta đã đúc kết ra rằng quân bình Âm – Dương vừa cho thấy sự hoàn thiện, viên mãn, tròn đầy (mà “vuông – tròn” là một biểu tượng):
Vái trời cho đặng vuông tròn.
Mẹ tròn con vuông.
vừa được xem như là chuẩn mực nguyên tắc ứng xử:
Đừng ăn quá miệng, đừng diện quá sang.
Trang 8 Năng ăn hay đói, năng nói hay lầm.
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn cố gắng để không làm mất lòng nhau Còn trong việc ở thì luôn tìm cách tạo nên sự hài hòa với môi trường thiên nhiên xung quanh Cũng chính từ triết lý quân bình Âm – Dương này mà người Việt đã xây dựng được lối sống lạc quan, tích cực, luôn hướng về phía trước:
Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.
kết hợp với cách ứng xử linh hoạt và khả năng thích nghi cao trước mọi biến
cố, hoàn cảnh của dân tộc Việt:
Ăn theo thuở, ở theo thì.
Bên cạnh đó, sự cân bằng Âm – Dương không chỉ được áp dụng cho người sống mà còn cho cả người đã khuất Như trong những ngôi mộ cổ ở Lạch Trường (Thanh Hóa), các đồ vật bằng gỗ (dương) sẽ được đặt ở phía bắc (âm) còn đồ gốm (âm) thì sẽ đặt ở hướng nam (dương) Đây chính là cách sắp xếp có dụng ý nhằm tạo ra sự cân bằng Âm – Dương
Chung quy lại, sự vận dụng đúng đắn và sâu sắc các quy luật của triết lý Âm – Dương đã góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc với những chất riêng chỉ người Việt Nam mới có
2 Biểu hiện triết lý Âm – Dương trong giao tiếp của Việt:
2.1 Về ngôn từ:
– Người Việt có thói quen nói đối xứng, trong giao tiếp, điều này thể hiện
rõ nhất qua ngữ vựng, thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Ví dụ: + “Đứng ngồi không yên”: cảm giác bồn chồn lo lắng, hay gọi khác
là một cụm miêu tả về tâm lý lo lắng quá mức, khiến trạng thái điềm tĩnh Âm – Dương mất cân bằng
+ “Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại”: Ý nói kẻ nói đi thì nhẹ như hòn đất, kẻ nói lại thì nặng như chì, tình trạng ấy dễ gây nên chuyện cãi lộn, bất hòa
Không có sự giao tiếp hoàn hảo, lúc nào có một bên sẽ áp đảo và một bên lắng nghe, tùy thuộc vào tính cách và ngôn từ mà họ chọn Có thể nhẹ nhàng, hiền từ, nhưng cũng có chỗ cho sự gắt gỏng, nghĩ logic thay vì theo trái tim – Việt ngữ cấu trúc theo lối song trùng:
+ Song trùng: sự kết nối song hành giữa 2 sự vật hiên tượng không thể tách rời nhau, mang theo đối cực kép, tốt lành và gây hại, lưỡng diện
Trang 9Ví dụ: Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh đặt nhan đề bài thơ là “Sóng”, đó cũng chính là hình tượng ẩn dụ cho tình yêu của người phụ nữ Xuyên suốt bài thơ, mỗi khám phá về sóng cũng là một khám phá về tình yêu Những biểu hiện của tâm trạng trữ tình, mỗi trạng thái tâm hồn lại tìm thấy sự tương hợp với một đặc tính, một biểu hiện nào đó của sóng
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể.
Sóng có nhiều đối cực như tình yêu có nhiều cung bậc, trạng thái và tâm hồn người phụ nữ đang yêu có những mâu thuẫn mà thống nhất
2.2 Về mặt ngữ pháp:
– Về các loại từ: luôn có định nghĩa về đồng nghĩa và trái nghĩa: “tĩnh – động”, “sáng – tối”, “thăng – trầm”, ngôn từ lúc nào cũng đa dạng và phong phú
– Cách phát âm có lúc lên cao, rồi trầm, hay theo nhịp phụ thuộc vào thơ bạn đọc Sự phân biệt càng thấy rõ ngay trong cách phát âm với cấu trúc lưỡng âm theo phát âm trong mẫu giáo và tiểu học
Ví dụ: lương => lờ + ương
ngã => ngờ + ã
3 Biểu hiện triết lý Âm – Dương các lĩnh vực nghệ thuật:
3.1 Trong kiến trúc:
Lối tư duy lưỡng hợp đã tạo cho người Việt Nam một thế giới quan về sự giao hòa, thống nhất giữa hai mặt đối lập, dẫn đến sự ảnh hưởng của triết lý
Âm – Dương trong kiến trúc nước nhà Những công trình kiến trúc của Việt Nam là sự giao thoa, kết hợp giữa kiến trúc mang đặc điểm triết lý Âm – Dương của Trung Hoa và những nét đặc trưng trong nền nông nghiệp lúa nước lâu đời của người Việt như sử dụng tre, nứa, gỗ hay lối kiến trúc để đối phó với thời tiết và khí hậu nhiệt đới gió mùa Những điều trên đã định hình kiến trúc Việt Nam là: “Nhà cao cửa rộng”, tạo ra sự hài hòa giữa kiến trúc và đời sống tâm linh, đồng thời tạo nên nét độc đáo trong bản sắc văn hóa người Việt
a) Biểu hiện triết lý Âm – Dương trong tổ chức không gian cảnh quan:
Trang 10Đối với một quốc gia phương Đông với loại hình văn hóa gốc nông nghiệp, nước là một phần không thể thiếu trong cuộc sống con người Vì lẽ
đó, các công trình kiến trúc của nước ta luôn gắn liền với cảnh quan sông nước Đây chính là sản phẩm của triết lý Âm – Dương, với sự hài hoà giữa độ cao của công trình (dương) và độ sâu của hồ, ao (âm) Ngoài ra sự phản chiếu hình ảnh của công trình trên mặt nước chính là sự đối đãi âm dương, cho thấy
sự phát triển của vạn vật Kiến trúc thể hiện sâu sắc và rõ nét nguyên tắc này
là kiến trúc đình làng – nơi gắn kết của cộng đồng làng xã, nơi quyết định vận mệnh của cả cộng đồng theo tâm linh
Không chỉ có trong việc tổ chức không gian cảnh quan, triết lý Âm – Dương còn thể hiện ở sự giao hòa giữa hai mặt đối lập nhau: các không gian cao – thấp, trên – dưới, trước – sau, phải được thiết kế, phối hợp sao cho thật hài hòa để tạo nên tính nhịp điệu trong không gian của công trình
b) Kết hợp giữa phong thuỷ và quy thức kiến trúc:
b.1 Quy thức kiến trúc là gì?
Quy thức kiến trúc là một trật tự hoặc những quy cách thống nhất về kích thước, tương quan tỉ lệ giữa các chi tiết, thành phần kiến trúc trong một công trình kiến trúc
b.2 Sự kết hợp giữa phong thuỷ và quy thức kiến trúc:
Sự kết hợp giữa phong thuỷ và quy thức kiến trúc là một trong những biểu hiện chính của triết lý Âm – Dương trong nghệ thuật kiến trúc Một ngôi nhà có dương khí hoặc âm khí quá vượng đều không tốt, vì nó có cả mặt lợi
và mặt hại Tốt nhất ngôi nhà cần có sự cân bằng yếu tố Âm – Dương, thiếu chỗ nào phải bù vào chỗ đó
Trong kiến trúc Việt có sản phẩm sáng tạo mang đặc trưng của vùng văn hóa nông nghiệp là kết cấu khung nhà gỗ Trong đó, ngôi nhà được chia thành các gian chứ không phải là phòng, điều này cũng thể hiện tính cộng đồng của người Việt Ngôi nhà sẽ có 4 tới 6 hàng cột, trên cột là xà ngang để liên kết các cột, tạo nên sự vững chãi Bên cạnh đó kẻ, bẩy, hoành, chúng đều có điểm chung là được nối với nhau bởi mộng hoặc chốt Đây chính là yếu tố
Âm – Dương được ứng dụng bởi mộng Mộng được chia làm 2 loại là: mộng
âm và mộng dương Mộng âm là một thanh gỗ lõm, còn mộng dương là một thanh gỗ lồi Ghép mộng đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ của người thợ vì ghép