VĂN HỌC SO SÁNH | BỘ CÂU HỎI 2 ĐIỂM Câu 1 Trình bày khái niệm văn học so sánh? Câu 2 Phân biệt Văn học so sánh và so sánh văn học? Câu 3 Nêu các điều kiện hình thành của Văn học so sánh? Câu 4 Trình bày mục đích cơ bản của Văn học so sánh? Câu 5 Trình bày phạm vi nghiên cứu của VĂN HỌC SO SÁNH? BỘ CÂU HỎI 3 ĐIỂM Câu 6 Trình bày đặc điểm trường phái VĂN HỌC SO SÁNH Pháp? Câu 7 Trình bày đặc điểm trường phái VĂN HỌC SO SÁNH Hoa Kỳ Câu 8 Trình bày các nguyên tắc phương pháp luận của VĂN HỌC SO SÁNH.
Trang 1VĂN HỌC SO SÁNH
|
BỘ CÂU HỎI 2 ĐIỂM
Câu 1: Trình bày khái niệm văn học so sánh?
Câu 2: Phân biệt Văn học so sánh và so sánh văn học?
Câu 3: Nêu các điều kiện hình thành của Văn học so sánh?
Câu 4: Trình bày mục đích cơ bản của Văn học so sánh?
Câu 5: Trình bày phạm vi nghiên cứu của VĂN HỌC SO SÁNH?
BỘ CÂU HỎI 3 ĐIỂM
Câu 6: Trình bày đặc điểm trường phái VĂN HỌC SO SÁNH Pháp?
Câu 7: Trình bày đặc điểm trường phái VĂN HỌC SO SÁNH Hoa Kỳ:
Câu 8: Trình bày các nguyên tắc phương pháp luận của VĂN HỌC SO SÁNH
Câu 9: Trình điểm của bày đặc loại hình nghiên cứu ảnh hưởng trong VĂN HỌC SO SÁNH
Câu 10: Trình bày đặc điểm của loại hình nghiên cứu song hành:16
BỘ CÂU HỎI 5 ĐIỂM
Câu 11: Phân tích, so sánh cái chết của Sita trong sử thi “Ramayana” (Ấn Độ) với cái chết của Vũ Nương trong “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ
Câu 12: Phân tích, so sánh bi kịch của Chí Phèo với bị kịch của AQ (AQ chính truyện)
Câu 13: Phân tích, so sánh cốt truyện và chủ đề trong “Huyền thoại phố phường” của Nguyễn Huy Thiệp với “Con đầm pích” của Puskin
Câu 14: Phân tích, so sánh nhân vật trong “Huyền thoại phổ phường” của Nguyễn Huy thiệp với nhân vật trong “Con đầm pich” của Puskin
Câu 15: Phân tích, so sánh nhân vật Thúy Kiều trong “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du với Thúy Kiều trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân
Trang 2Câu 1: Trình bày khái niệm văn học so sánh
* Từ ngữ, thuật ngữ:
- Thuật ngữ “văn học so sánh” trong Tiếng Việt được dịch từ tiếng Pháp “litterature Comparee” và từ thuật ngữ tiếng Anh “Comparee litterature” Thuật ngữ “văn học so sánh” xuất hiện vào đầu năm 1816 ở Pháp trong giáo trình Văn học so sánh của Noel và Laplace, nhưng người làm cho nó trở thành thông dụng là Villemain với Đại cương văn học Pháp (1827) và Ampere với Bài giảng văn học thơ ca (1832)
- Trong tiếng Pháp và tiếng Anh, bên cạnh thuật ngữ “văn học so sánh” còn có các thuật ngữ khác, chính xác hơn nhưng phức tạp hơn, chẳng hạn: “lịch sử các nền văn học được so sánh”, “lịch sử so sánh các nền văn học” Trong tiếng Đức có thuật ngữ “lịch sử văn học so sánh” Trong tiếng Nga còn có thuật ngữ
“nghiên cứu văn học so sánh”
Tuy nhiên, từ nửa sau thế kỉ XIX trở lại nay, thuật ngữ “litterature comparee” trong tiếng Pháp và
“comparative literature” trong tiếng Anh đã được dùng phổ biến Trong tiếng Việt nó thường được dịch
là “văn học so sánh”
Nói văn học so sánh thì không nên hiểu đó là một nền văn học được so sánh, mà phải hiểu là một bộ môn khoa học có chức năng so sánh một nền văn học này với một hay nhiều nền văn họckhác, hoặc so sánh văn học với các lĩnh vực biểu hiện khác của con người
Nói theo một cách khác, Văn học so sánh là so sánh văn học của một nước này với một nước khác, hoặc nhiều nước khác, là so sánh văn học với các lĩnh vực biểu hiện khác của nhân loại
Câu 2: Phân biệt Văn học so sánh và so sánh văn học?
So sánh văn học thuộc cấp độ tập hợp phương
pháp trong hệ thống phân cấp phương pháp luận VHSS là chuyên ngành nghiên cứu có phương phápluận chuyên biệt trong hệ thống đó
So sánh văn học là tài sản chung của tất cả các bộ VHSS là bộ môn có vị trí độc lập tương đối trong hệ
Trang 3môn trong ngành nghiên cứu văn học thống các bộ môn của ngành nghiên cứu văn học
So sánh văn học không phải là của riêng Văn học so
sánh VHSS không phải chỉ sử sụng duy nhất một phươngpháp là so sánh văn học mà nó có quyền sử dụng
không hạn chế bất cứ phương pháp nào trong cấp
độ tập hợp các phương pháp
Câu 3: Nêu các điều kiện hình thành của Văn học so sánh?
Văn học so sánh ra đời tương đối muộn Vì văn học thế giới đã có sự giao lưu rất lâu đời Nhưng để nhận ra được mối quan hệ đó phải có điều kiện nhất định Có ít nhất 2 điều kiện sau đây:
• Điều kiện kinh tế - văn hóa- xã hội:
+ Thế kỉ XVIII-XIX, CNTB phát triển mạnh ở phương Tây, sự trao lưu kinh tế, văn hóa (trong đó có văn họcđược thực hiện trên phạm vi quốc tế
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), Mac và Ang-ghen viết: “Thay cho tình trạng cô lập trướckia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụthuộc phổ biến giữa các dân tộc Mà sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế, những thành quả hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc Tính chất hẹp hòi và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa, và từ những nền văn học dân tộc và địa phương muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở một nền văn học toàn thế giới”
+ Chủ trương phát triển văn học thế giới của thi hào Đức Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832):
Ngày 31/ 1/ 1827, trong một cuộc trò chuyện với Johann Peter Eckermann (1792-1854), ông nhấn mạnh: “Ở thời đại chúng ta, văn học dân tộc không có ý nghĩa gì nhiều: bây giờ là thời đại của văn học thế giới và mỗi chúng ta cần phải góp phần làm cho thời đại đó hình thành càng sớm càng tốt”
Khái niệm văn học thế giới ở đây chỉ nền văn học được hình thành trên sự giao lưu văn hóa quốc
tế, đề cập đến những giá trị tốt đẹp chung của con người
Ngày 15/7/1827, trong cuộc trò chuyện khác với Johann PeteEckermann, khi bàn về Thomas Carlyle, nhà văn Anh nghiên cứu văn học Đức, Goethe viết: " ngày nay, với các mối quan hệ chặt chẽ giữa người Pháp, người Anh và người Đức, chúng ta đã có thể chỉnh lí lẫn nhau Đây là lợi ích lớn mà văn học thế giới đem lại, ích lợi này trong tương lai sẽ càng lớn hơn nữa Carlyle đã mô tả cuộc đời Schiller, đã đánh giá ông đúng đến nỗi không một người Đức nào có thể dễ dàng làm được như ông Ngược lại, đến lượt chúng ta, chúng ta cũng hiểu rõ Shakespeare và Byron, và có lẽ chúng ta biết đánh giá đúng mức hơn so với chính bản thân người Anh”
Khái niệm “văn học thế giới” ở đây có nghĩa “nghiên cứu văn | học quốc tế”, là việc trao đổi nghiên cứu văn học giữa các nước với nhau
• Điều kiện học thuật:
Trang 4+ Từ đầu TK XIX, sự phát triển cực thịnh của khoa học lịch sử tạo điều kiện cho sự phát triển nở rộ của các bộ môn lịch sử văn học
+ Phương pháp so sánh được áp dụng ngày càng chuyên sâu trong nhiều ngành khoa học (Lịch sử ngôn ngữ học so sánh, lịch sử folklore so sánh )
Câu 4: Trình bày mục đích cơ bản của Văn học so sánh?
Văn học so sánh hướng đến 2 mục tiêu cơ bản:
• Khẳng định tính đặc thù của các nền văn học dân tộc
• Xác định tính khái quát của văn học nhân loại
Lưu ý:
+ Trong VĂN HỌC SO SÁNH, việc phân biệt cái dân tộc và cái quốc tề là cần thiết, nhưng không phải mục đích tự thân Điều chủ yếu là phải phát hiện ra sự vận động của cái đặc thù trong mối quan hệ với cáiđặc thù khác để dẫn đến xu hướng trở thành cái chung
+ Cái đặc thù dân tộc là một phạm trù lịch sử Tính động của dân tộc có khả năng đồng hóa mọi cái mới tiến bộ, phù hợp vào cái logic thời của bản thân
+ Tính đặc thù dân tộc của văn học được xem xét trên cả phương diện nội dung và hình thức Có nhiều tiêu chí để xác định tính chất này: địa lí, chủng người, khí hậu, thiên nhiên, môi trường sống, quan điểm triết học, quan hệ giao tiếp, gia đình, tình bạn, tình yêu, nhân cách
+ Xét trên quan điểm toàn cầu và lâu dài thì tính quốc tế có tầm quan trọng hàng đầu Tính quốc tế thống nhất và bền vững sẽ đảm bảo cho tính dân tộc tồn tại lâu bền Cái quốc tế khi đã được cái dân tộc đồng hóa sẽ biến thành cái dân tộc (cái dân tộc hiện đại)
+ Cái chung của thế giới cũng không phải cái ngoại lai, lập dị, bất cập VĂN HỌC SO SÁNH phải phát hiện, khuyến khích các yếu tố dân tộc tiến bộ, hướng đến chỗ tiếp xúc với cái dân tộc tiến bộ khác để tạo điều kiện thuận lợi cho cái quốc tế tiến bộ được hình thành và phát triển
Câu 5: Trình bày phạm vi nghiên cứu của VĂN HỌC SO SÁNH?
Phạm vi nghiên cứu của văn học so sánh:
• Nghiên cứu văn học, văn hóa xuyên quốc gia:
Trang 5- VĂN HỌC SO SÁNH phá vỡ ranh giới thời gian, không gian để nghiên cứu mối quan hệ và sự giao lưu văn học, ngôn ngữ, văn hóa các dân tộc khác nhau trên thế giới.
- VĂN HỌC SO SÁNH lúc đầu chỉ chú ý so sánh 2 hiện tượng văn học thuộc hai quốc gia trở lên (chủ yếu giới hạn ở các nước Châu Âu) Về sau, phạm vi của nó được mở rộng ra nhiều hiện tượng thuộc các bối cảnh văn học, văn hóa rất khác nhau và chú ý đến tương quan đa chiều phức tạp giữa chúng (sự tương tác, sự ảnh hưởng, lưu truyền, các mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp )
• Nghiên cứu so sánh liên ngành
- Nghiên cứu so sánh liên ngành đặt mvaans để so sánh hai lĩnh vực, hai loại hình nghệ thuật, văn hóa khác nhau trở lên Nghiên cứu liên ngành là sự mở rộng VĂN HỌC SO SÁNH, tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học với các loại hình văn hóa- nghệ thuật khác dưới điều kiện duy trì tính chủ thể của văn học Đây là hướng nghiên cứu mới, xuất | hiện tương đối muộn, bắt đầu từ những năm 1960 do học giả người Mĩ H Remak (1916- 2009 ) đề xuất Theo Remak, VĂN HỌC SO SÁNH phải là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực hoạt động sáng tạo khác nhau của loài người
Remak viết:
“VĂN HỌC SO SÁNH nghiên cứu văn học vượt qua phạm vi một nước, đồng thời nghiên cứu quan hệ văn học với những lĩnh vực tri thức và tín ngưỡng khác (nghệ thuật, triết học, lịch sử, các KHXH, tôn giáo ) Tóm lại, nó so sánh văn học của một nước với văn học của một nước hay nhiều nước khác,
so sánh văn học với các lĩnh vực biểu đạt khác của con người”
- Phạm vi khảo sát của nghiên cứu so sánh liên ngành bao gồm 2 nội dung cơ bản:
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác
• Văn học và hội họa
• Văn học và âm nhạc
• Văn học và điện ảnh
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với xã hội khác
• Văn học và tôn giáo
Trang 6-> Xu hướng so sánh đa lĩnh vực trong VĂN HỌC SO SÁNH là một xu hướng phổ biến hiện nay Mục đích của nó là đặt văn học vào bối cảnh lịch sử, văn hóa rộng lớn, thông qua việc khảo sát mối liên hệ và tác động của văn học đối với các loại hình văn hóa khác để làm rõ bản chất của văn học và giúp người nghiêncứu nhận thức được đường hướng phát triển của nó.
Câu 6: Trình bày đặc điểm trường phái VĂN HỌC SO SÁNH Pháp?
- Trường phái Pháp là trường phái văn học so sánh xuất hiện sớm nhất Đại diện chủ chốt là Fernand Baldensperger (1871- 1958), P.V Tieghem (1871- 1948), J.M Carre (1887-1958), M.F Guyard (1921-)
- Trường phái Pháp chủ trương nghiên cứu ảnh hưởng, chú trọng liên hệ thực tế và phương pháp thực chứng, tôn trọng sự thực (miêu tả, ghi chép, điều tra, chú giải, đối chiếu, chỉnh lí ), phản đốiquan niệm coi VĂN HỌC SO SÁNH là việc so sánh giữa các nền văn học không có ảnh hưởng.+ Fernand Baldensperger (1871- 1958): Nghiên cứu hệ thống về ảnh hưởng của văn học nước ngoài đối với văn học Pháp
+ P.V Tieghem (1871- 1948): Trình bày tư tưởng của trường phái Pháp về mặt lí luận: tính chất, phương pháp, phạm vi PV Tieghem cho đối tượng của VĂN HỌC SO SÁNH là “nghiên cứu quan hệ tương hỗ của tác phẩm các nước một cách bản chất” (Bàn về VĂN HỌC SO SÁNH, 1931)
+ J.M Carre (1887- 1958): “VĂN HỌC SO SÁNH là một nhánh của văn học sử: nó nghiên cứu mối liên hệ tinh thần mang tính quốc tế, nghiên cứu mối liên hệ thực tế giữa Bairon và Puskin, Scot và Vigny nghiêncứu mối liên hệ thực tế trên các phương diện tác phẩm,linh cảm, thậm chí cả cuộc sống giữa các nhà văncủa những nền văn học khác nhau”
+ M.F Guyard (1921-) kế thừa tư tưởng của Tieghem, coi VĂN HỌC SO SÁNH là lịch sử quan hệ giữa văn học quốc tế VĂN HỌC So SÁNH không phải là so sánh văn học Nó là nghiên cứu quan hệ, và do thế, chỗ không có quan hệ sẽ không thuộc lĩnh vực VĂN HỌC SO SÁNH
- Tư duy lý luận và phương pháp luận của các nhà VĂN HỌC So SÁNH Pháp có đóng góp quan trọng vào lịch sử VĂN HỌC SO SÁNH thế giới Tuy nhiên, trường phái Pháp bị phê phán ở chốc quá nhấn mạnh vào các quan hệ trực tiếp (do đó hạn chế việc nghiên cứu vào phạm vi văn hóa Tây u); câu nệ vào thực chứng, nhấn mạnh vào mối liên hệ và khảo chứng thực tế nên bỏ qua sự phân tích mĩ học của tác phẩm; khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc nước lớn (vd: Ransard tại Tây Ban Nha, Corneille tại Italia )
Câu 7: Trình bày đặc điểm trường phái VĂN HỌC SO SÁNH Hoa Kỳ:
- Phản ứng với trường phái Pháp Phê phán những hạn chế của trường phái Pháp, đề ra những nguyên tắc mới cho nghiên cứu VĂN HỌC SO SÁNH Điều này còn có cơ sở từ tưởng của phê bình mới (lấy tác phẩm làm trung tâm)
Trang 7- Trường phái Hoa Kỳ đề ra nguyên tắc “không nợ”, thể hiện nghiên cứu bình đẳng siên không gian Ngoài nghiên cứu ảnh hưởng còn nghiên cứu cái giống nhau, khác nhau giữa các hiện tượng văn học không có quan hệ trực tiếp và dưới điều kiện không gian, thời gian giống nhau để từ đó tìm ra quy luật
cơ bản của văn học Mở rộng đối tượng và phạm vi so sánh: nghiên cứu quan hệ giữa văn học với các lĩnh vực tri thức khác, làm cho VĂN HỌC SO SÁNH trở thành bộ môn có tính tổng hợp (đưa văn hóa vào VĂN HỌC SO SÁNH), so sánh trên cả 3 phương diện: lí luận văn học, lịch sử văn học và phê bình văn học.+ Remak và Owen chủ trương “nghiên cứu song hành” và “nghiên cứu siêu ngành”
+ Aldridge cho VĂN HỌC SO SÁNH là “khám phá sự cùng loại và đối sánh các tác phẩm, là sự nghiên cứu tính tương tự của các tác phẩm không có bất cứ mối liên hệ nào trên các phương diện thể loại, kết cấu, tình điệu, quan niệm”
+ Remak viết: “VĂN HỌC SO SÁNH là nghiên cứu văn học vượt ra ngoài phạm vi một nước và nghiên cứumới quan hệ giữa văn học với tri thức khác và lĩnh vực tín ngưỡng, bao gồm nghệ thuật (như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc), triết học, lịch sử, KHXH (như kinh tế, chính trị, xã hội học), KHTN, tôn giáo Tóm lại, VĂN HỌC SO SÁNH là so sánh văn học của một nước này với một nước khác, hoặc nhiều nước khác, là so sánh văn học với lĩnh vực biểu hiện khác của nhân loại”
- VĂN HỌC SO SÁNH Hoa Kỳ ra đời đáp ứng được những nhu cầu mới của nghiên cứu văn học Sự phê phán của trường phái Hoa Kỳ là mạnh mẽ song lí luận lại chưa đủ tỉ mỉ Việc mở rộng đối tượng nghiên cứu có chỗ tràn lan, nguy cơ làm triệt tiêu đặc thù của bộ môn
Câu 8: Trình bày các nguyên tắc phương pháp luận của VĂN HỌC SO SÁNH:
• Nguyên tắc chính danh:
Cần phân biệt các thuật ngữ “VĂN HỌC SO SÁNH” và “SO SÁNH VĂN HỌC” Sự phân biệt này là tiền đề tiên quyết để khẳng định vị trí chính thức của bộ môn và các nguyên tắc phương pháp luận của nó
• Nguyên tắc so sánh liên văn học:
Một công trình nghiên cứu chỉ mang tính chất của VĂN HỌC SO SANH khi nó so sánh các hiện tượng giữahai nền văn học dân tộc trở lên
• Nguyên tắc khách quan, phi định kiến:
| Nguyên tắc này đòi hỏi người nghiên cứu khi so sánh phải căn cứ vào thực tiễn chứ không xuất phát từ định kiến để rồi ra sức chứng minh cho định kiến đó
• Nguyên tắc so sánh cùng loại khi phân hạng thứ bậc:
Trong VĂN HỌC SO SÁNH, việc phân hạng chỉ diễn ra trong cùng một hệ thống VĂN HỌC SO SÁNH khôngchấp nhận phân hạng thứ bậc chung chung giữa các nền văn học
Trang 8• Nguyên tắc so sánh tổng hợp và liên ngành:
Trong VĂN HỌC SO SÁNH, cần quán triệt quan điểm tổng hợp và liên ngành Tổng hợp là phương thức nghiên cứu văn học trên nhiều cấp độ, nhiều mặt khác nhau theo một nhận thức khoa học và quan điểmPPL thống nhất, còn liên ngành là sự kết hợp các PP nghiên cứu để tiếp cận đối tượng từ nhiều góc độ
• Nguyên tắc so sánh vì lợi ích quốc tế:
VĂN HỌC SO SÁNH đặt nhiện vụ cơ bản là xác định tính khái quát của văn học nhân loại và tính đặc thù của văn học dân tộc nhưng mục tiêu lí tưởng của nó là phải khẳng định cái chung trong mối quan hệ tương tác giữa các cái riêng Cho dù có khẳng định tính đặc thù dân tộc thì cũng không được tuyệt đối hóa mục tiêu này mà quan trọng là phải phát hiện và khuyến khích các yếu tố dân tộc tiến bộ, hướng nó tiếp xúc với cái dân tộc tiến bộ khác để tạo thuận lợi cho cái quốc tế tiến bộ hình thành và phát triển
• Nguyên tắc tôn trọng đặc thù của văn học:
Trong VĂN HỌC SO SÁNH, có thể so sánh văn học với các loại hình văn hóa- nghệ thuật khác song phải duy trì tính chủ thể của văn học Có như thế thì việc so sánh mới đảm bảo nằm trong phạm vi của VĂN HỌC SO SÁNH mà không lấn sang/ trở thành văn hóa học so sánh hay nghệ thuật học so sánh
Câu 9: Trình điểm của bày đặc loại hình nghiên cứu ảnh hưởng trong VĂN HỌC
SO SÁNH:
1 Khái niệm
Nghiên cứu ảnh hưởng nghiên cứu các mối quan hệ trực tiếp) là | việc dùng phương pháp lịch
sử để xử lí các mối liên hệ thực tế tồn tại giữa các nền văn học dân tộc khác nhau, căn cứ của nó là sự giao lưu tiếp xúc lẫn nhau giữa các nền văn học dân tộc
Hướng nghiên cứu này nhấn mạnh đến thực chứng và các mối liên hệ thực tế, phàm các suy luận hoặc phán đoán thiếu căn cứ thực tế đều không thuộc phạm trù nghiên cứu này
Nghiên cứu ảnh hưởng là loại hình nghiên cứu có sức thuyết phục, cũng là phương pháp xuất hiện sớm nhất Đóng góp trong loại hình nghiên cứu này là các nhà nghiên cứu người Pháp
2 Điều kiện nảy sinh ảnh hưởng:
+ Vật gây ảnh hưởng: vật gây ảnh hưởng phải có sức lan tỏa, sự phù hợp hoặc tính chất dẫn đầu
Trang 9• Điều kiện nội tại của cá nhân người chịu ảnh hưởng (Tư tưởng, cá tính, khí chất, hứng thú của nhà văn với một hiện tượng văn học cụ thể nào đó)
• Ảnh hưởng về kĩ thuật viết văn
• Sự vay mượn về đề tài, chủ đề
• Ảnh hưởng về quan niệm
4 Các loại hình nghiên cứu ảnh hưởng:
+ Nghiên cứu nhà văn- nhà văn: Lỗ Tấn và Googon, Vũ Trọng Phụng và Zola, Maiakopxki- Tran
Baudelaire
+ Tác phẩm - tác phẩm: Truyện Kiều (Nguyễn Du)- Kim Vân Kiểu truyện (Thanh Tâm Tài Nhân), Con đầm pích (Puskin)Huyền thoại phố phường Nguyễn Huy Thiệp), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài)- Cái trống thiếc (Gunter Grass)
+ Nhóm tác phẩm: Văn học hiện thực Việt Nam 1930- 1945 (Nam Cao, Vũ Trọng Phụng)
+ Nhóm nhà văn- nhóm nhà văn: nhóm thơ Bình Định (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên )- nhóm thơ tượng trưng Pháp (Bauderlaire, Verlaine )
+ Nhà văn- nền văn học: Đào Tiềm trong thi ca Việt Nam, Pauxtopxki, Lỗ Tấn, Gorki, Andersen, Huygo, Banzac ở Việt Nam
+ Nhà văn- trào lưu văn học: Xuân Diệu với chủ nghĩa tượng trưng, Bích Khê- thơ tượng trưng Pháp, Ngô Tất Tố- văn học hiện thực của Pháp (Banzac, Stantal)
+ Thể loại văn học- thể loại văn học: thơ cổ điển Việt Namthơ cổ điển Trung Quốc, truyện đường rừng của Thế Lữtruyện quái dị của Hoffmann
+ Nền văn học- nền văn học: văn học La Mã- văn học Hi Lạp, văn học Việt Nam- văn học Trung Quốc
Trang 10+ Trào lưu- Trào lưu: văn học hiện thực Việt Nam- văn học hiện thực Pháp, thơ lãng mạn Việt Nam- thơ lãng mạn Pháp, thơ mới Việt Nam- thơ lãng mạn Pháp
5 Hạn chế của nghiên cứu ảnh hưởng:
Nghiên cứu ảnh hưởng do các học giả Pháp sáng lập Khuynh hướng nghiên cứu này còn được gọi là nghiên cứu thực chứng liên quốc gia Nghiên cứu ảnh hưởng trên thực tế đã làm phong phú thêm di sản văn học nhân loại bởi tinh thần thực chứng khoa học, lí luận tỉ mỉ và tác phong nghiên cứu cẩn trọng Tuynhiên nghiên cứu ảnh hưởng cũng có những hạn chế cụ thể:
+ Do quá thiên về mối liên hệ thực tế, chú trọng nguồn gốc và ảnh hưởng, đặt trọng tâm nghiên cứu vào phát hiện và khảo sát tư liệu nên bỏ qua tính chỉnh thể thẩm mĩ của tác phẩm, cá tính sáng tạo của nhà văn, ít nhiều làm cản trở sự cảm nhận tác phẩm
+ Do nhấn mạnh vào thực chứng nên phạm vi nghiên cứu hạn chế (chủ yếu nghiên cứu văn học Châu u)
và việc tổng kết các quy luật của văn học gặp những trở ngại khó khắc phục
Câu 10: Trình bày đặc điểm của loại hình nghiên cứu song hành:
1 Khái niệm:
Nghiên cứu song hành (Parallel study/ Parallelism) là việc nghiên cứu 2 hiện tượng hoặc 2 nền văn học khác nhau trở lên mà giữa chúng không có mối liên hệ ảnh hưởng trực tiếp Nghiên cứu song song có thể quan sát văn học các nước khác nhau từ nhiều góc độ, phương diện Do đó, nó có phạm vi nghiên cứu rất rộng Nghiên cứu song song chú trọng tính văn học của đối tượng, chú trọng so sánh chủ đề, thể loại, hình tượng nhân vật, phong cách Đây là hướng nghiên cứu được các nhà so sánh luận Hoa Kỳ đề xuất
2 Cơ sở của hướng nghiên cứu song hành:
Cơ sở nghiên cứu song hành là tính phổ quát và tính đặc thù của văn hóa, văn học
-Loài người có hình thức sinh mệnh giống nhau (sinh- lão- bệnh- tử,ngũ quan, tam- sinh lí ) Do đó, việcthể nghiệm cõi nhân sinh đều có những tình cảm tương tự, tương đồng (yêu/ghét, sướng/khổ,
hợp/tan, ) Bản thể văn học và các hình thức tồn tại của nó trong các nền văn học dân tộc cũng có nhiều nét tương đồng (thể loại,chủ đề, các thủ pháp nghệ thuật,con đường phát triển, ) Những đặc điểm này làm thành cái siêu cá thể, siêu lịch sử của văn học
- Tuy có những tương đồng loại hình, song các hình thức thể nghiêm trạng thái nhân sinh và thủ pháp trong văn học lại được thực hiện trong truyền thống văn hóa, lịch sử đặc thù của mỗi dân tộc Do đó, trong các hình thức tồn tại và phát triển của văn học, sự khác biệt của các hiện tượng văn học ở mỗi quốc gia là một tất yếu
Trang 11Nghiên cứu so sánh song hành giúp chúng ta phát hiện những hiện tượng tương đồng của nhân loại cũng như phát hiện những nét đặc sắc có tính chất dân tộc, văn hóa vùng Tùy theo mục đích nghiên cứu
cụ thể mà nhà nghiên cứu cần nhấn mạnh đến cái chung hay cái đặc thù
3 Một số lĩnh vực nghiên cứu
- Nghiên cứu tác giả: Herder- Diderot, Novales- Chataubriand, Sechxpia- Thang Hiển Tổ, Gớt- Đỗ Phủ
- Nghiên cứu tác phẩm: Vua Lia (Shakespeare) và Lão Gorio (Balzac), Romeo và Juliet (Shakespeare) và Lương Sơn Bá- Chúc Anh Đài (truyền thuyết Trung Quốc), Truyện Kiều (Nguyễn Du)- Truyện Xuân Hy (Khuyết danh- Hàn Quốc), Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) và Nỗi chàng Vecte (Goethe)
-Bút pháp nghệ thuật:
Kỹ thuật dòng ý thức trong Ulyses (Jame Joyce), Đi tìm thời gian đã mất (Marcel Proust) và m thanh và cuồng nộ (Faulkner)
-Thể loại: Truyện ngắn Sekhop với truyện ngắn 0,Herry (Kết cấu và | bố cục)
-Cảnh tượng, hình ảnh, chi tiết: Cảnh giông tố trong vở kịch Giông tố của Ostrovsky với cảnh giông tố trong Đồi gió hú (E Bronti), con hổ trong kịch của B.Brech với con báo trong Tuyết trên đỉnh núi
Calimanaro của E.Hemingue, hình ảnh mặt trăng, thiên nhiên, núi trong tác phẩm của các dân tộc khác nhau, so snahs lễ hội, tính dục, tập tính, tín ngưỡng trong các tác phẩm của các dân tộc khác nhau.-Quá trình văn học:
So sánh thơ Trung Quốc hiện đại với thơ Việt Nam hiện đại
So sánh trào lưu văn học phi lí của pháp và của Anh
4 Hạn chế của nghiên cứu song hành
Nghiên cứu song hành mở rộng không gian nghiên cứu của văn học so sánh Khuynh hướng này một mặtchú ý nghiên cứu sâu sắc các đặc tính thẩm mĩ của văn học, mặt khác có khả năng cung cấp những khái quát phổ biến về các quy luật phát triển của văn học Tuy nhiên, khuynh hướng nghiên cứu này cũng có những hạn chế cụ thể sau:
- Lí luân chưa đủ tỉ mỉ và sự thuyết phục cần thiết
- Việc tuyển lựa đối tượng thiếu hạn định nghiêm ngặt nên có nguy cơ làm phai nhạt đặc trưng của bộ môn
Câu 11: Phân tích, so sánh cái chết của Sita trong sử thi “Ramayana” (Ấn Độ) với cái chết của Vũ Nương trong “Người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ Bài làm
Trang 12Văn học so sánh là một bộ môn nghiên cứu văn học vượt ra phạm vị một nước Bộ môn VĂN HỌC SO SÁNH ra đời mang lại giá trị rất lớn trong việc hoàn thiện nhân thực sự hiểu biết của con ngưO
99 thấy cái nhìn tổng quan về văn học thế giới, cũng như nét đặc thù của văn học dân tộc Để hiểu rõ hơn về vấn đề này sau đây chúng ta đi vào xem xét một trường hợp cụ thể đó là so sánh cái chết của Slà COI6°4 thi “Ramayana” của Ấn Độ với cái chết của Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm của hai nền văn học, hai dân tộc và ý nghĩa của bộ môn VĂN HỌC SO SÁNH
“Ramayana” là bộ sử thi nổi tiếng của Ấn Độ, có sức ảnh hưởng sâu rộng, lâu bền trong văn học, văn hóa không chỉ của riêng dân tộc Ấn mà còn của nhiều nước ĐNÁ Tác phẩm được hoàn thành vào khoảng thế kỉ III TCN, là câu chuyện về những kì tích của hoàng tử Rama Sita chính là vợ của chàng hoàng tử này
“Chuyện người con gái Nam Xương” là tác phẩm được rút từ tập “Truyền kì mạn lục” của Nguyễn DữTác phẩm được viết vào khoảng thế kỉ XVI kể về người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết hay còn gọi
là Vũ Nương người ở huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nam
Hai tác phẩm của hai nền văn học, văn hóa khác nhau nhưng không hoàn toàn khác biệt Giữa hai tác phẩm này có những điểm tương đồng nhất định xung quanh cái chết của Sita và Vũ Nương
Nói về Sita và Vũ Nương, bạn đọc sau khi đọc hai tác phẩm này hẳn đều dành tình cảm yêu mến cho hai nhân vật này bởi họ lag những người phụ nữ mang trong mình phẩm chất đáng quý: chung thủy với chồng, làm tròn bổn phận của người vợ, người con, có lòng dũng cảm và tâm hồn thanh cao Nàng Sita có sắc đẹp tuyệt thế, nàng vì chồng mà không quản gian lao Chồng nàng bị vua cha bắt đi đầy trong rừng suốt 14 năm gian khổ nhưng nàng quyết chí theo chồng và nhất mực thủy chung dù trong bất cứ hoàn cảnh nào Nàng Vũ Nương thì đẹp người đẹp nết “lại thêm tự dụng tốt đẹp”, chồng đi lính 3 năm, nàng ở nhà chăm nom mẹ già, nuôi nấng con nhỏ, lo tang ma chu đáo khi mẹ chồng mất, không để xảy
ra bất cứ điều tiếng gì Hai người phụ nữ đẹp và phẩm chất đáng quý như vậy mà cuộc đời lại nhiều đau thương
Cả Sita và Vũ Nương đều phải tìm đến cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của mình trước mối nghi oan của chồng Rama- chong của Sita đã cố gắng cứu nàng thoát khỏi vòng tay của quỷ vương Ravana nhưng sau đó chàng lại ngờ vực sự trong trắng của Sita trong quãng thời gian nàng bị quỷ Ravanagiam giữ trong tay hắn Cũng giống như vậy, Trương Sinh- chồng của Vũ Nương sau khi từ chiến trận trở
về đoàn tụ với gia đình lại vì lời nói ngây ngô của đứa trẻ mà xua đuổi, dồn Vũ Nương đến con đường cùng
Cái chết của Sita và Vũ Nương đều vì danh dự, phẩm hanh của người phụ nữ Cái chết để chứng minh sự trong sạch, trinh bạch từ thể xác đến tâm hồn trong tình yêu của họ đối với chồng lí giải cho điều này có thể là do cả hai quốc gia Việt Nam và Ấn Độ đều nằm ở phương Đông, chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Đông cho nên quan niệm có phần giống nhau, đều coi trọng trinh tiết, sự thủy chung, phẩm giá của người phụ nữ Chính vì thế cho nên để chứng minh cho sự trong sáng của mình hai nàng
đã tìm đến cái chết Họ bị chính những người họ yêu thương nhất nghi ngờ điều mà họ tôn thờ, giữ gìn
Trang 13nên họ đã khôn màng đến tính mạng để chứng minh cho tấm lòng trinh bạch Chính dũng cảm đó đã hóagiải mối oan khuất cho cả Sita và Vũ Nương.
Hai tác phẩm thuộc hai nền văn học khác nhau, hai dân tộc với hai nền văn hóa khác nhau nên không thể
có sự giống nhau hoàn toàn Cái chết của Sita và Vũ Nương bên cạnh những điểm tương đồng nêu trên còn có những khác biệt nhất định
Thứ nhất, về xuất thân và nguyên nhân cái chết Sita co xuất thân thần thánh, nàng là con của thần đất nhưng nàng lại mang vẻ đẹp của một người phụ nữ trần thế, có một trái tim biết yêu say đắm và một tâm hồn trong trắng vô ngần Khác với Sita, Vũ Nương không xuất thân cao quý, nàng sinh ra trong một gia đình nông dân đầy lam lũ Tuy vậy, ở nàng vẫn toát lên vẻ đẹp nhan sắc và đức hạnh, nàng có một tâm hồn đầy nghị lực và dũng cảm để bảo vệ tiết hạnh của mình
Nguyên nhân cái chết của hai nàng suy cho cùng đều bắt nguồn từ sự nghi oan của chồng nhưng
ở từng người lại có điểm khác biệt Sita bị Ravana bắt đem về đảo Lanka và giam giữ ở đó Đến khi Rama vượt gian khổ cứu được nàng thì lúc ấy Rama lại không tin nàng có thể giữ mình trước một tên quỷ háo sắc: “Thấy nàng yêu kiều xinh đẹp, lại có được nàng trong nhà hắn, Ravana đâu có chịu được lâu” Còn
về Vũ Nương thì đứa con ngây thơ đã trở thành nút thắt khiến Trương Sinh nghi ngờ nàng Nếu có Trương Sinh ở nhà thì nàng đâu cần trỏ bóng mình trên vách để dỗ con đó là “cha”, nếu như vậy thì Vũ Nương đã không bị đẩy đến chỗ bị kịch
Thứ hai là hoàn cảnh và cách chọn cái chết
Sita xuất thân thần thánh, lại là vợ của một hoàng tử Ở địa vị đó, | nàng phải chứng minh tình yêu, tâm hồn trong trắng của mình trước tất cả mọi người để xóa đi sự ngờ vực của Rama và để xứng đáng với địa
vị của cả hai người Sita trước khi bước vào ngọn lửa nàng kiêu hãnh nói: “Nếu con trước sau một lòng một dạ với Rama thì cúi xin thần hết cách bảo vệ con, Rama đã coi một người phụ nữ trinh tiết như một
kẻ gian dối, nhưng nếu con trong trắng xin thần Anhị phù hộ cho con” Lời cầu xin của nàng dường như cũng cà lời khẳng định về phẩm hạnh của mình
Vũ Nương xuất thân bình dân, là vợ của một người bình dân Sau khi hết lời phân trần mà chồng nàng vẫn không tin nàng đã tìm đến cái chết để chứng minh đức hạnh của mình Cái chết ấy chỉ cần chứng minh cho một mình chồng nàng là Trương Sinh hiểu mà thôi, nàng cũng không thể sai bảo một ai đựng giàn hỏa thiêu cho mình mà chỉ tự trầm mình xuống sông tự vẫn Lời cầu khấn của nàng cũng là lời của một kẻ bạc mệnh, “nếu trắng trong xin làm ngọc mị nương, cỏ ngu mĩ, nếu gian dối xin làm mồi cho cá tôm, cho diều quạ, xin chịu mọi người phỉ nhổ”
Mỗi người mang trong mình một nỗi oan khuất riêng Hơn nữa, do thân phận, địa vị của hai nàng cũng khác nhau lại thêm phong tục tập quán, quan niệm của hai quốc gia khác nhau đã dẫn đến cách chọn cái chết của hai nàng có sự khác biệt
Thứ ba là kết quả và sự minh oan Cả hai người đều có tâm hồn trong trắng, đáng trân trọng bởi vậy họ không bị dòng nước hay ngọn lửa vô tình vùi dập mà ngược lại còn được trả lại sự sống Ở đây, sự khác biệt cũng được thể hiện rõ Sita được thần lửa bảo vệ, không xâm phạm đến nàng, thậm chí trong ngọn