TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN BÀI TẬP LỚN Môn học DẠY HỌC CÁC CHUYÊN ĐỀ ĐỊNH HƢỚNG NGHỀ NGHIỆP Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Đề tài HƢỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 10 TẬP NGHIÊN CỨU MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN (TRUYỀN THUYẾT) Hà Nội, 2021 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 3 I Đề cƣơng 3 1 Mở đầu 3 1 1 Lý do chọn đề tài 3 1 2 Mục đích nghiên cứu 3 1 3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4 1 4 Phƣơng pháp nghiên cứu 4 2 Nội dung 4 2 1 Khái niệm truyền thuyết 4 2 2 Đặc điểm truyền thuyết 4 2 3 Nhân vật anh hùng 5.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
BÀI TẬP LỚN Môn học: DẠY HỌC CÁC CHUYÊN ĐỀ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Đề tài: HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 10 TẬP NGHIÊN CỨU MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN (TRUYỀN THUYẾT)
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
I Đề cương 3
1 Mở đầu 3
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
2 Nội dung 4
2.1 Khái niệm truyền thuyết 4
2.2 Đặc điểm truyền thuyết 4
2.3 Nhân vật anh hùng 5
2.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật anh hùng trong truyền thuyết qua “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”, “Thánh Gióng” và “Sự tích hồ Gươm” 5
2.4.1 Thần thánh hóa nhân vật 6
2.4.2 Sử dụng yếu tố thần kì 6
2.4.3 Ngôn ngữ nhân vật 6
2.4.4 Hành động nhân vật 7
3 Kết luận 7
II Một số nội dung nghiên cứu 7
III Trình bày một khía cạnh của vấn đề 10
PHẦN KẾT LUẬN 15
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 41
PHẦN MỞ ĐẦU
Đổi mới giáo dục luôn là nhiệm vụ cơ bản và cần thiết Mở rộng, giao lưu kiến thức ngày càng nhiều buộc chúng ta phải đổi mới mọi thứ Theo nghị quyết 29_BCH TW Đảng đã đề ra hướng đổi mới và cụ thể là đổi mới môn Ngữ văn
THPT theo hướng phát triển năng lực: “hướng tới mục tiêu là giúp cho học sinh
có thể làm được gì sau khi học chứ không phải xác định học sinh cần học những
gì để có kiến thức toàn diện” Theo CT GDPT Ngữ Văn 32/2018/TT – BGDĐT:
“Ngữ văn là môn học mang tính công cụ, thẩm mỹ và nhân văn” Là cầu nối
giúp học sinh học được các môn Hình thành cảm xúc, tình cảm, lối sống, cách ứng xử, kỹ năng Có thể nói, Ngữ văn là môn học quan trọng vì vậy việc đổi mới
là vô cùng thiết thực Yêu cầu trong việc xây dựng môn Ngữ văn THPT theo hướng mới: ngoài các kỹ năng cơ bản (đọc - viết - nói - nghe) giáo viên cần thiết
kế, xây dựng bài giảng theo hướng mở Không quy định phải thuộc lòng nội dung học mà chỉ cần học sinh nắm bắt các kiến thức cơ bản được quy định Tiếp thu, sáng tạo những gì vốn có của môn học
Bên cạnh việc dạy theo hướng đọc, viết, nói, nghe thì ở chuyên đề học tập cũng được đổi mới Bổ sung kiến thức về văn học, ngôn ngữ Từ hiểu biết đã có các em vận dụng vào thực tế Chuyên đề học tập môn Ngữ văn ở THPT có yêu cầu:
Với học sinh lớp 10, giúp học sinh nhớ, hiểu được kiến thức trọng tâm; vận dụng được để đọc hiểu, viết và giới thiệu nhân vật văn học Xác định được yêu cầu, cách thức nghiên cứu một vài vấn đề văn học hoặc thể loại văn học Hiểu, biết về cách thức đóng vai, biểu diễn, sân khấu hóa tác phẩm văn học Một
số chuyên đề lớp 10: Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học dân gian; Sân khấu hóa tác phẩm văn học; Đọc, viết và giới thiệu một tập thơ, một truyện ngắn hoặc một tiểu thuyết
Học sinh lớp 11, các em biết yêu cầu và cách thức nghiên cứu một vấn đề văn học Trung đại Việt Nam, viết một báo cáo nghiên cứu Nhận biết, đánh giá
Trang 52
và vận dụng được các yếu tố mới của ngôn ngữ Biết cách đọc, viết bài giới thiệu, thuyết trình về một tác giả văn học lớn Vận dụng hiểu biết từ chuyên đề
để đọc hiểu và viết về văn học Trung đại hoặc về tác giả văn học Một số chuyên đề: Đọc, viết và giới thiệu về một tác giả văn học; Tìm hiểu ngôn ngữ trong đời sống xã hội hiện đại; Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề Văn học trung đại Việt Nam
Với lớp 12, biết cách thức, yêu cầu nghiên cứu một vấn đề, viết một báo cáo nghiên cứu Biết thuyết trình một vấn đề của văn học hiện đại hậu hiện đại Nêu được ý tưởng và cách thức chuyển thể một tác phẩm văn học Nhận biết được phong cách sáng tác của một trường phải trào lưu văn học Vận dụng từ chuyên đề tìm hiểu phong cách sáng tác của một trường phái văn học khác Các chuyên đề: Tìm hiểu phong cách sáng tác của một trường phái văn học cổ điển, hiện thực, lãng mạn; Tìm hiểu về một tác phẩm nghệ thuật chuyển thể từ văn học; Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học hiện đại và hậu hiện đại
Từ những yêu cầu đổi mới của môn Ngữ Văn, cũng như các yêu cầu về chuyên đề định hướng dạy học môn Ngữ Văn ở THPT, chuyên đề này chúng tôi hướng học sinh lớp 10 biết cách tập nghiên cứu một vấn đề văn học dân gian, cụ
thể là truyền thuyết trong: Nghệ thuật xây dựng nhân vật anh hùng trong truyền
thuyết qua “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”, “Thánh Gióng” và “Sự tích hồ Gươm”
Trang 63
PHẦN NỘI DUNG
I Đề cương
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT ANH HÙNG TRONG TRUYỀN THUYẾT QUA “TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY”, “THÁNH GIÓNG” VÀ “SỰ TÍCH HỒ GƯƠM”
1 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Văn học dân gian ra đời sớm, qua truyền miệng mà được lưu truyền rộng
rãi Có thể thấy mỗi truyền thuyết dân gian đều gắn liền với “cái lõi lịch sử”
Mỗi nhân vật anh hùng mang theo sứ mệnh riêng Tác phẩm truyền thuyết đều sáng tạo nên nhân vật anh hùng riêng biệt, mỗi nhân vật mang cho mình những
vẻ đẹp riêng Truyền thuyết đã tái hiện, khắc họa nhân vật anh hùng trở thành biểu tượng, hình mẫu lý tưởng cho cái đẹp Những hình tượng anh hùng đã xuất hiện trong các sáng tác sau
Vậy nên, đề tài này mang tính cấp bách đối với học sinh lớp 10 Là cơ sở
để học sinh tự nghiên cứu tiếp chuyên sâu ở các chuyên đề khác Giúp có kiến thức về lịch sử, những bài học, những anh hùng đóng góp sức mình cho đất nước Từ đó, củng cố và tu dưỡng năng lực cho các em
1.2 Mục đích nghiên cứu
Biết được cách thức, các yêu cầu nghiên cứu vấn đề văn học dân gian Vận dụng để đọc hiểu, giới thiệu, đóng vai nhân vật văn học
Vận dụng kiến thức đọc hiểu vào việc đọc hiểu chuyên đề, cụ thể: Nghệ
thuật xây dựng nhân vật anh hùng trong truyền thuyết qua “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”, “Thánh Gióng” và “Sự tích hồ Gươm”
Trang 74
Biết xây dựng hình tượng nhân vật và sân khấu hóa được tác phẩm văn học
Củng cố, rút ra những bài học, tu dưỡng năng lực
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trọng tâm là hướng dẫn học sinh biết cách nghiên cứu một vấn đề văn học
dân gian, cụ thể ở đây là nghiên cứu: Nghệ thuật xây dựng nhân vật anh hùng
trong truyền thuyết qua “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”,
“Thánh Gióng” và “Sự tích hồ Gươm” Làm rõ cách xây dựng một nhân vật
trong tác phẩm truyền thuyết để mở rộng, xây dựng phương án giúp các em lớp
10 học tốt hơn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích - tổng hợp
2 Nội dung
2.1 Khái niệm truyền thuyết
Có ý kiến: “Truyền thuyết là dã sử, gắn liền và phản ánh lịch sử” Nhưng
cách hiểu này chưa thực sự thuyết phục
Lê Chí Quế đưa ra cách hiệu: “Thông qua sự hư cấu, truyền thuyết tái
hiện và phản ánh lịch sử” [6]
Hay hiểu đơn giản: “Truyền thuyết là truyện kể dân gian về nhân vật và
sự kiện lịch sử, theo xu hướng: lịch sử hóa thần thoại và kì ảo hóa lịch sử”
2.2 Đặc điểm truyền thuyết
- Đề tài: là truyện kể về kiện lịch, nhân vật lịch sử
Trang 85
+ Anh hùng văn hóa: Chử Đồng Tử,…
+ Anh hùng chống giặc ngoại xâm: An Dương Vương, Thánh Gióng,… + Anh hùng nông dân khởi nghĩa: Chàng Lía,…
+ Danh nhân văn hóa: Nguyễn Trãi,…
- Chức năng: phản ánh, lý giải lịch sử Lịch sử trong truyền thuyết ít nhiều
bị “khúc xạ”
- Gắn với lễ hội, hư cấu, tưởng tượng
=> Có thể thấy mỗi truyền thuyết dân gian đều gắn liền với “cái lõi lịch
sử”
2.3 Nhân vật anh hùng
Theo Tô Hoài: “Trong một sáng tác, tác giả dùng hết tài năng, tâm huyết
xây dựng, tạo hình nhân vật”
Nhân vật văn học: “là những con người cụ thể được xây dựng trong tác
phẩm, có tên riêng hoặc không tên” [13]
Anh hùng là người có ý chí, dũng cảm chiến thắng cái ác Trong truyền thuyết, nhân vật anh hùng được lý tưởng hóa vì những hành động dũng cảm, phẩm chất tốt đẹp Gắn với địa điểm cụ thể và các sự kiện lịch sử cố định Qua lời truyền miệng của nhân dân, nhân vật này đã có sự sáng tạo, đâu đó vẫn có phần hư cấu và đôi khi còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm linh Người anh hùng hiện lên với lý tưởng, luôn một lòng hướng về đất nước, chống giặc
2.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật anh hùng trong truyền thuyết qua
“Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”, “Thánh Gióng” và
“Sự tích hồ Gươm”
Sự thành công của truyền thuyết là xây dựng được anh hùng lịch sử mang
lý tưởng, bất khuất Sáng tạo trong sử dụng các biện pháp, tác giả đem đến ấn
tượng mạnh cho bạn đọc
Trang 96
2.4.1 Thần thánh hóa nhân vật
- Thánh Gióng: “Vươn vai… mình cao hơn mười trượng”, “bay về trời” [8-tr.20]
- Cái chết của An Dương Vương: sự biết ơn, tấm lòng bao dung và sự bất
tử của An Dương Vương trong lòng người dân
- An Dương Vương và Lê Lợi: có thật trong lịch sử, không được thần thánh hóa, không có sức mạnh nhưng luôn được thần linh giúp đỡ
=> Bởi vậy mới thấy nhân dân ta có trí tưởng tượng lớn lao Luôn muốn anh hùng của mình trở thành thần thánh, có sức mạnh để bảo vệ cộng đồng
2.4.2 Sử dụng yếu tố thần kì
Nhân vật trong truyền thuyết vẫn mang đậm màu sắc thần thoại
- Thánh Gióng:
+ Được thụ thai từ việc người mẹ ướm thử vết bàn chân lạ
+ Khi giặc xâm lược: biết nói, lớn nhanh như thổi, xin đi đánh giặc, bay về trời
- Rùa thần giúp An Dương Vương: xây thành, chế nỏ, cứu mạng
- Long Quân cho Lê Lợi mượn Gươm thần, lưỡi gươm động đậy, Rùa Vàng lên đòi Gươm
=> Yếu tố thần kì tạo sự đặc sắc và lôi cuốn
2.4.3 Ngôn ngữ nhân vật
Thường cô đọng chủ yếu thuật lại hành động
- Thánh Gióng: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”
- An Dương Vương: “nếu có giặc thì lấy gì mà chống” [7-tr.41]
- Lê Lợi: “ Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau”
[17]
Trang 107
=> Là công cụ để lý tưởng, phẩm chất của nhân vật
2.4.4 Hành động nhân vật
- Thánh Gióng: đánh đuổi quân giặc, cởi bỏ mũ áo và bay về trời
- Lê Lợi: đánh đuổi giặc, “nâng gươm về hướng rùa” [8-tr.41]
- An Dương Vương: xây thành, đánh đuổi quân giặc Hay hành động “tuốt
kiếm chém Mị Châu” [7-tr.42]
=> Hành động đều xuất phát từ bên trong mỗi anh hùng Qua đó, anh hùng trong truyền thuyết xuất hiện với sức mạnh, lý tưởng
3 Kết luận
Qua phân tích về nhân vật anh hùng, ta cảm nhận sự trân quý, yêu mến của nhân dân Tác phẩm đã lưu lại sâu trong tâm thức của bạn đọc bao đời nay
Sự thành công của truyền thuyết là xây dựng được anh hùng lịch sử mang lý tưởng, bất khuất Qua biện pháp nghệ thuật, anh hùng mang đầy đủ vẻ đẹp, phẩm chất cao quý Kết hợp trí tưởng tượng với yếu tố lịch sử, nhân dân có cách lý giải riêng của mình
II Một số nội dung nghiên cứu
Thông qua sự hư cấu, truyền thuyết tái hiện, phản ánh nhân vật: anh hùng văn hóa (Chử Đồng Tử,…), anh hùng chống giặc (An Dương Vương, Thánh Gióng,…), anh hùng nông dân khởi nghĩa (Chàng Lía,…), danh nhân văn hóa (Nguyễn Trãi,…) Truyền thuyết có chức năng phản ánh và lí giải lịch sử, tuy
nhiên trong truyền thuyết lịch sử ít nhiều bị “khúc xạ” Truyền thuyết gắn liền với lễ hội, hư cấu và tưởng tượng Gắn liền với “cái lõi lịch sử”, là sự nhìn nhận,
yêu quý của nhân dân
Theo Tô Hoài: “Trong một sáng tác, tác giả dùng hết tài năng, tâm huyết
xây dựng, tạo hình nhân vật” Nhân vật văn học “là những con người cụ thể được xây dựng trong tác phẩm, có tên riêng hoặc không tên” [13] Anh hùng là
Trang 118
người có ý chí, dũng cảm chiến thắng hoàn cảnh, cái ác Trong truyền thuyết, nhân vật anh hùng được lý tưởng hóa vì những hành động dũng cảm, phẩm chất tốt đẹp Anh hùng luôn gắn với sự dũng cảm, chiến công anh dũng của mình Gắn với địa điểm cụ thể và các sự kiện lịch sử cố định Qua lời truyền miệng của nhân dân, nhân vật này đã có sự sáng tạo, đâu đó vẫn có phần hư cấu và đôi khi còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm linh Người anh hùng hiện lên lý tưởng, luôn một lòng hướng về đất nước, chống giặc ngoại xâm Với lý tưởng cao đẹp, dũng cảm anh hùng trong truyền thuyết luôn là tấm gương sáng cho bao thế hệ
Sự thành công của truyền thuyết là xây dựng được anh hùng lịch sử mang
lý tưởng, bất khuất Sáng tạo trong sử dụng các biện pháp, tác giả đem đến ấn tượng mạnh cho bạn đọc Đầu tiên là thần thánh hóa nhân vật Trong truyền
thuyết “Thánh Gióng”, khi giặc Ân kéo đến, từ “không biết nói, biết cười, biết
đi” [8-tr.19] lại có thể “vươn vai… mình cao hơn mười trượng” [8-tr.20] Gia
đình cùng láng xóm góp đồ ăn nuôi Gióng lớn Lớn lên trong sự đùm bọc, nuôi
nấng của mọi người Gióng “lớn nhanh như thổi” [8-tr.19] Khi giặc đến chú bé
ba buổi xin đi đánh giặc“đầu đội nón sắt, cầm roi sắt, cưỡi ngựa sắt” [8-tr.20]
Đây là sức mạnh phi thường, tổng hợp giữa tình yêu thương và ý chí chiến thắng
quân giặc Đánh giặc không chút sợ hãi, roi sắt gãy nhổ tre để đánh.Với tinh thần
dũng cảm, ý chí hơn người Thánh Gióng đã đánh đuổi được giặc Ân Sau khi giết giặc, bay về trời Cái chết của An Dương Vương là sự biết ơn, tấm lòng bao dung và sự bất tử của An Dương Vương trong lòng người dân Nếu như Thánh Gióng mang đậm màu sắc thần thoại thì An Dương Vương và Lê Lợi lại là những con người có thật Tuy không được thần thánh hóa để trở nên kì vĩ nhưng nhân vật này luôn được thần linh giúp đỡ Luôn lớn lao, anh dũng trong cái nhìn của nhân dân Bởi vậy mới thấy nhân dân ta có trí tưởng tượng lớn lao Luôn muốn anh hùng của mình trở thành thần thánh, có sức mạnh lớn lao để bảo vệ cộng đồng
Thứ hai, sử dụng yếu tố thần kì Dù có hư cấu tưởng tượng nhưng đều có tên tuổi Thánh Gióng được sinh ra một cách lạ thường, do dấu chân lạ Sau hai
mươi tháng, Gióng được sinh ra “đặt đâu nằm đó, không biết nói cười” [8-tr.19]
Trang 129
Nhưng khi có giặc lại biết nói, xin đi đánh giặc Khi đánh đuổi được giặc thì bỏ lại mũ áo bay về trời An Dương Vương là một người anh hùng chiến trận, quyết
tâm bảo vệ dân chúng Được trao vuốt, móng rùa “đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm
quân giặc mà bắn” tr.41] Cái lẫy nỏ thần Kim Quy “quân Đà thua lớn”
[7-tr.41] Rùa vàng xuất hiện là biểu hiện cho tấm lòng, ủng hộ đối với An Dương Vương Cách lý giải và xây dựng, nhân dân đã khiến cho nhân vật của mình lôi cuốn, truyền tải bài học giữ nước Long Quân cho Lê Lợi mượn Gươm thần, lưỡi gươm động đậy, hay Rùa Vàng lên đòi gươm là sự đồng lòng của trời đất, lòng dân với việc dựng và giữ nước Yếu tố thần kì tạo sự đặc sắc và lôi cuốn cho truyện
Thứ ba, ngôn ngữ nhân vật Mỗi câu nói trong truyền thuyết đều chứa đựng ý nghĩa riêng Trong truyền thuyết ngôn ngữ hàm súc, chủ yếu thuật lại hành động Anh hùng luôn có lòng quyết tâm, xung phong, đối đầu với mọi khó
khăn Gióng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây” [8-tr.19], được mời vào: “Ông về
tâu với Vua sắm cho ta một con ngựa sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này” [8-tr.19]
Mới lên ba nhưng đã dũng cảm, quả quyết Khi được thần Kim Quy giúp đỡ, lo
cho sự an nguy của đất nước An Dương Vương đã ngỏ ý “nếu có giặc thì lấy gì
mà chống” [7-tr.41] Thể hiện ý thức, trách nghiệm bảo về đất nước, luôn cảnh
giác cao độ trước sự tấn công của quân giặc An Dương Vương: “Đà không sợ
nỏ thần sao” [7-tr.41] vừa là một câu hỏi, vừa là câu nói khẳng định sự sự chắc
chắn là quân Triệu Đà sẽ bại Lê Lợi khi được Thận cho mảnh sắt, cùng với
chuôi gươm ở ngoài của, vua bèn khẩn cầu “Nếu quả là gươm trời cho, thì xin
chuôi và lưỡi liền nhau” [20], tức thì hai mảnh đó ghép vào nhau thành chiếc
gươm hoàn chỉnh Lê Lợi thầm biết ơn, lấy làm mừng “giấu diếm không nói ra” [17] Ngôn ngữ hiện khí phách, ý chí, tấm lòng dũng cảm bảo về độc lập
Cuối cùng hành động nhân vật Là cơ sở để xác định lên tính cách, lý tưởng Xung phong đi đánh giặc, nhổ tre để đánh khi vũ khí hỏng, Thánh Gióng quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm Bằng tinh thần quyết chiến, hành động dũng cảm Thánh Gióng đã đánh tan quân thù Tinh thần đó ta thấy xuất hiện ở
Lê Lợi, An Dương Vương Xây thành để bảo vệ nhân dân khỏi quân Triệu Đà