1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ CƯƠNG văn học dân GIAN (autosaved) (1)

15 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Văn Học Dân GIAN (autosaved) (1)
Trường học Trường Đại học Mẫu Giáo Việt Nam
Chuyên ngành Văn học dân gian
Thể loại Đề cương
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 56,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC DÂN GIAN ( tham khảo) Câu 1 Văn học dân gian là gì? a Định nghĩa của văn học dân gian Là thành phần nghệ thuật ngôn từ trong những sáng tác dân gian có sự tổng hòa các yếu tố ngôn từ,.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC DÂN GIAN ( tham khảo) Câu 1: Văn học dân gian là gì?

a Định nghĩa của văn học dân gian:

- Là thành phần nghệ thuật ngôn từ trong những sáng tác dân gian có sự tổng

hòa các yếu tố ngôn từ, âm nhạc và động tác, điệu bộ Trong đó yếu tố ngôn ngữ có khả năng độc lập tương đối và có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu

tố còn lại

b Sự ra đời của văn học dân gian:

- Ra đời từ rất sớm, thậm chí ra đời trước sự hình thành của dân tộc

- Ở Việt Nam: VHDG ra đời từ thời đồ đá mới ( Bàu Tró, Hạ Long) và phát

triển rực rỡ ở thời vua Hùng

- Điều kiện để ra đời văn học dân gian dân gian: tri thức và cảm xúc của con

người cần đạt đến một mức độ nhất định

c Tác giả của văn học dân gian:

- Tập thể nhân dân

- Chuyển từ sản phẩm của một cá nhân sang sản phẩm của một tập thể

- Điều kiện để sản phẩm cá nhân mang tính tập thể:

+ Thể hiện tâm tư tình cảm của một cộng đồng

+ có cách nói phù hợp với lối diễn đạt của cả cộng động

- Ví dụ minh họa: con rồng cháu tiên, thần trụ trời, tấm cám, một số câu ca

dao- dân ca, tục ngữ.

Câu 2: Phân loại văn học dân gian

a Phân loại được chia thành 4 loại cơ bản.

st

t

Phương thức

sáng tác

Phương thức diễn xướng

Thể loại

cười, truyện cổ tích, truyện ngụ

ngôn, vè tự sự

4 Sân khấu dân

gian

Trình diễn Chèo sân đình, tuồng

Trang 2

b Ví dụ minh họa của từng thể loại.

- Thần thoại: Thần trụ trời, Mười hai bà mụ , Thần Lúa

- Truyền thuyết : An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy, Thánh Gióng,

truyền thuyết Sông Tô Lịch, Hai Bà Trưng, Sơn Tinh- Thủy Tinh,

- Truyện cổ tích : Tấm Cám, Cây Khế, Tràu cau, Sọ Dừa, Thạch Sanh.

- Truyện ngụ ngôn : Chân- tay – mắt- miệng, Treo biển, Thầy bói xem voi,

mèo lại hoàn mèo.

- Truyện cười: Lợn cưới áo mới, tam đại con gà, quan huyện thanh liêm.

- Câu đố : + Mình bằng hạt đỗ ăn giỗ cả làng ( con muỗi)

+ Tranh không phải, ảnh cũng không Thế mà sông núi ruộng đồng biết bay ( bản đồ)

- Tục ngữ : + Đi một ngày đàng học một sang khôn

+ Không thầy đố mày làm nên

+ Bán bà con xa, mua láng giềng gần

+ Có công mài sắc, có ngày nên kim

+ Tức nước vỡ bờ

- Ca dao- dân ca :

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

Hồ tịnh tâm giàu sen bạch diệp Đất Hương Cần ngọt quýt thơm cam

Ai về cầu ngói Thanh Toàn Đợi đây về với một đoàn cho vui.

Sử thi : đăm săm, đẻ đất đẻ nước

Trang 3

- Vè :

Ông về bái tổ vinh quy Ngựa, dù, cờ, lọng đưa ông về làng Gần xa nức tiếng đồn vang Học hành thế ấy vẻ vang thế này Các quan hương án sắp bày Đón ông tề chỉnh đêm ngày sá chi.

- Chèo sân đình : Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Trương Viên

- Tuồng : Nghêu Sò ỐC Hến, Lý Ân Lang Châu

- Truyện thơ: Tiễn dặn người yêu,

Câu 3: Tính nguyên hợp

- Nguyên hợp là sự kết hợp ngay từ lúc khởi nguồn, lúc tác phẩm được sinh ra

- Thuộc tính quan trọng chi phối các thuộc tính khác trong VNDG

- Là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau

- Thứ nhất có sự gắn kết chặt chẽ giữa hình thức diễn xướng trong tác phẩm

và hoạt động cụ thể của con người ; Mo đẻ đất đẻ nước

- Thứ hai có sự gắn kết chặt chẽ trong hình thức diễn xướng: Ca dao- dân ca,

Chèo sân đình

- Thứ ba thể hiện sự nhất nguyên các dạng thức văn hóa tinh thần như tín

ngưỡng tôn giáo, tập quán : “ con rồng cháu tiên”, “ Sơn Tinh- Thủy Tinh”

Câu 4 : tính đa chức năng

- Chức năng nhận thức: truyền đạt cho con người những kiến thức, những bài

học sinh động, gần gũi và sâu sắc trên mọi phương diện cuộc sống

- Chức năng giáo dục: thông qua hai hình thức là trực tiếp và gián tiếp để định

hướng đạo đức, luân lí cho con người

Ví dụ: “ Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”

“ Học thầy không tày học bạn”

Trang 4

- Chức năng thẩm mỹ: chứa đựng quan niệm thẫm mỹ của cộng đồng, mang

vẻ đẹp hồn hậu, sâu sắc của nhân dân

- Chức năng sinh hoạt: vhdg gắn bó chặt chẽ với đời sống con người, nên đây

là cơ sở cho văn học dân gian hình thành

Ví dụ: những câu ca dao dân ca,

Câu 5: Tính tập thể và truyền miệng.

a Tính truyền miệng:

- Là thuộc tính cơ bản của vhdg phản ánh phương thức sáng tạo và lưu truyền

của tác phẩm

- Mang tính độc tôn ở thời điểm văn học dân gian ra đời

- Chi phối nhiều nội dung đến tác phẩm:

+ ngôn ngữ gần gũi giản dị

+ cốt truyện đơn giản

+ cách đặt tên không quá cầu kì

+ trình tự sắp xếp theo đường thẳng tuyến tính

+ nhiều motif, cấu trúc được lặp lại

Ví dụ; sự tích con muỗi, thầy bói xem voi, tấm cám

b Tính tập thể

- Nhân dân là người sáng tạo, lưu truyền, bổ sung, hoàn thiện tác phẩm

- Tính tập thể chi phối nền văn học dân gian:

+ phản ánh được tâm tư tình cảm của tập thể

+ cần phải có cách nói phù hợp với lối sống của tập thể

Ví dụ: “ chiều chiều ra đứng ngõ sau Trông về quên mẹ ruột đau chin chiều “

“ Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nào”

Trang 5

Câu 6: Tính dị bản.

- Là bản được tạo ra dựa trên những bản đã có trước.

Ví dụ;

“Núi kia ai đắp mà cao Sông kia ai bới ai đào mà sâu? ”

→ dị bản; “ Núi Truồi ai đắp mà cao/ Sông Dinh ai bới ai đào mà sâu?

- Nguyên nhân sinh ra dị bản:

+ do ứng tác

+ ý thức về cộng đồng làng xã

+ hình thức tồn tại của văn bản dân gian không kiên cố

Ví dụ:

“ dậy con từ thuở còn thơ Dậy vợ từ thuở bơ vơ/ ban sơ mới về”

“ đường vô xứ Huế/Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”

- Biểu hiện của tính dị bản:

+ tạo ra một hoặc nhiều bản mới

+ càng được lưu truyền thì càng tồn tại nhiều dị bản

+ sự thay đổi giữa các bản nhiều hoặc ít quan trọng sự thay đổi đó có làm thay đổi nội dung hay không

Ví dụ : “ ai đưa con sáo sang sông,để con sáo sổ lồng bay ra”

“ ai đem con sáo sang sông, cho sáo sổ lồng con sáo bay ra”

+ Khi tiếp xúc với dị bản cần cẩn trọng với ngụy bản

Câu 7: Tính địa phương

Trang 6

- Văn học dân gian của mỗi vùng miền sẽ phản chiếu lại chân dung văn hóa,

lịch sử, con người của vùng đất đó

- Biểu hiện của tính địa phương:

+ sự xuất hiện của đặc sản địa phương

Ví dụ : “ cơm nếp Hà Trung/ cháo gà núi Ngự”

“ nem cá Hoa Vàng, bánh tổ Hôi An khoai lang Trà Kiệu thơm rượu Tam Kỳ”

+ sự xuất hiện của địa danh địa phương:

“ Hồ Tịnh Tâm nhiều sen Bách Hợp Đất Hương Cần ngọt quýt thơm cam”

“ Đi mô cũng nhớ quê mình Nhớ Hương Giang gió mát, nhớ Ngự Bình trăng thanh”

+ sự xuất hiện của nghề truyền thống địa phương;

Ru em em théc cho muồi

Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu Mua vôi chợ Quán chợ Cầu Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh

Chợ Dinh bán áo con trai Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim

+ sự xuất hiện của từ địa phương:

“Ơi o bán cốm hai lu,

Có về An Thuận cho tui về cùng”

“Đứng bên ni đồng, mênh mông bát ngát Đứng bên tê đồng, bát ngát mênh mông”

+ sự xuất hiện vẻ đẹp tính cách con người:

Trang 7

“Kim long có gái mỹ miều/ trẫm thương trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi”

Câu 8: Tính quốc tế:

- Sự tương đồng giữa các nền văn học dân gian các dân tộc trên thế giới về

phương diện đề tài, motif, cốt truyện, kiểu nhân vật

- Có sự ảnh hưởng qua lại về sự giao lưu văn hóa

- Cùng chung khát vọng sống, chung lý tưởng cái đẹp chiến thắng cái xấu.

Ví dụ: + Lọ Lem- tấm cám

+ Qủa Bầu- Qủa Trứng Thần

+ Thần Trụ Trời – Thần Bản Cổ

Câu 9: so sánh Tấm Cám và Lọ Lem để thấy sự tương đồng về tư duy của văn học:

+ Đều xây dựng nhân vật có hoàn cảnh xuất thân như nhau

+ Xây dựng hình ảnh mẹ ghẻ con chồng

+ Bị đối xử bất công bằng, đều bị hãm hại, lao động khổ sai

+ Xây dựng chi tiết đánh rơi giày

+ Xây dựng chi tiết tìm vợ ( hoàng tử, vua)

+ Xây dựng những yếu tố thần kì ( ông bụt, bà tiên)

+ Sự xuất hiện của những sinh linh nhỏ bé

+ Lấy được lễ phục một cách kì bí

+ Đều trở thành hoàng hậu, và sống viên mãn đến cuối đời

+ Đều có chi tiết trần trị những kẻ ác

Trang 8

Câu 10: phân tích 3 văn bản sau để thấy tính dị bản của văn học dân gian 10.1

“Mình nói với ta mình hãy còn son

Ta đi qua ngõ thấy con mình bò Con mình những trấu cùng tro

Ta đi xách nước rửa cho con mình”

10.2

“ Mình nói dối ta mình hãy còn son

Ta đi qua ngõ thấy con mình bò Con mình những trấu cùng tro

Ta đi gách nước rửa cho con mình”

10.3

“ Trèo lên cây gạo chon von Trông xuống dưới đất thấy con người bò Con người những trấu cùng tro

Ta đi gánh nước tắm cho con người “

- Ở hai văn bản đầu tiên có nội dung hầu như giống nhau chỉ khác hai chữ “

với/ dối” nhưng cũng không thay đổi được nội dung của văn bản.

+ Ở câu thứ nhất của văn bản 1 và 2 chàng trai đã nhắc lại lời cô gái nói và xứng hô một cách thân mật : “ Mình nói với/ dối ta mình hãy con son”, từ

“son” ở trong câu này có nghĩa là gái còn son, gái chưa có chồng Nhưng chàng trai đã phát hiện ra cô gái đã nói dối mình khi vô tình đi ngang nhà của cô

+ Chàng trai vẫn thân mật xưng hô “ mình- ta” ở đây có thể hiểu rằng cô gái

vì một sự lỡ làng nào đó, chứ vẫn chưa có chồng

Trang 9

+ Còn câu “ con mình những trấu cùng tro” ở đây miêu tả hình ảnh của một đứa bé không được ai quan tâm và chắm sóc Và trong vô thức của chàng trai đã động lòng thương cho đứa trẻ đó mà đi gánh nước tắm cho con cô gái kia “ ta đi gánh nước tắm cho con mình”

- Sang đến với văn bản thứ ba chúng ta có thể thấy rõ hơn về nhận thức của

chàng trai, chàng trai đã nhận thức rõ được rằng cô gái đã có chồng và có con qua cách xưng hô “ ta- người” Hành động đi gánh nước tắm cho con người cũng là trong nhận thức chàng trai thương cảm cho hoàn cảnh của đứa trẻ không ai quan tâm và chăm sóc

Câu 11: Thần thoại: các quan niệm về mối quan hệ con người và thiên nhiên được thể hiện trong các tác phẩm thần thoại

a Khái niệm thần thoại:

- Hình thức sáng tác của con người thời đại xa xưa

- Thể hiện ý thức muốn tìm hiểu vũ trụ, lý giải vũ trụ và chinh phục thế giới

tự nhiên của con người

- Bằng trí tưởng tượng của con người, tạo ra những hình ảnh sáng tạo, những

câu chuyện phong phú, xây dựng các vị thần lớn lao, những lực lượng siêu nhiên, hữu linh

b Các quan niệm về mối quan hệ của con người và thiên nhiên được thể hiện trong các tác phẩm thần thoại.

- ……….?

Câu 12: Phân tích tác phẩm Thần Trụ Trời để thấy sự tích nhiều chủ đề của Thần Thoại.

- Đây là một tác phẩm thuộc nhóm suy nguyên vì giải thích các hiện tượng tự

nhiên như vì sao có trời, có đất, vì sao trời và đất lại phân đôi, vì sao mặt đất

có những chỗ lồi lõm không bằng phẳng, vì sao có biển, sao, sông và núi

- Qua bài vè ở cuối truyện có thể thấy thời xưa, nhân dân còn gọi Thần là

Ông, thần được hình dung rất cụ thể, mỗi vị gắn với hiện tượng nào dó, như ông Đếm cát,Ông tát bể, Ông kẻ sao Trước đó nữa, chưa rỏ thần được gọi thế nào Thần của thần thoại không phải là thần trong thần tích hay thần nghĩa theo mê tín dị đoan, mà là nhân vật chính trong các câu truyện, được nhân dân hình dung như lực lượng có thật, có hình dạng, sức mạnh

Trang 10

phi thường, có nhiều phép lạ, làm nên những kỳ tích lớn lao, biểu hiện những hiện tượng, biến cố, sức mạnh của tự nhiên, tác động tới con người Mọi chi tiết kể và tả Thần Trụ Trời đều gợi những vòng hào quang, điểm tô tính chất kỳ là, phi thường của nhân vật, thần thoại Truyện đã nhân cách hoá vũ trụ thành một vị thần

13 13 Truyền thuyết: sự kết hợp cốt lõi lịch sử và hư cấu trong tác phẩm truyền thuyết (có dẫn chứng minh họa) -Truyền thuyết là tên gọi dùng để chỉ một nhóm những tác phẩm tự sự dân gian kể

về sự kiện và nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử), phần lớn theo xu hướng lí tưởng hóa, qua đó thể hiện sự ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng cư dân của một vùng Bên cạnh đó cũng có những truyền thuyết vừa đề cao, vừa phê phán nhân vật lịch sử

-Cốt lõi lịch sử chính là sự kiện lịch sử thật

Sự kết hợp giữa cốt lõi lịch sử và sự hư cấu là:những tác phẩm truyền thuyết thường có sự kết hợp như vậy,những yếu tố lịch sử có thật và những thứ kì ảo được đưa vào để nhằm tạo sự hấp dẫn,lôi cuốn cũng như tôn vinh lên sức mạnh của những vị anh hùng,hay sức mạnh của dân tộc

dẫn chứng minh họa:Cốt lõi lịch sử đó là nước Âu Lạc vào thời An Dương Vương

có thành cao, hào sâu và vũ khí đủ mạnh để chiến thắng cuộc xâm lược của Triệu

Đà nhưng về sau đã bị rơi vào tay của Triệu Đà

Những chi tiết khác chỉ là sự hư cấu, nhiều sự việc chi tiết thần kì như chuyện xây thành, chế nỏ; chuyện về cái chết của An Dương Vương và của Mị Châu; chi tiết

về " Ngọc trai - giếng nước"… Chính việc thêm vào truyện các chi tiết thần kì này

đã giúp cho câu chuyện thêm hấp dẫn, nhiều chi tiết kì ảo Qua đó cũng thể hiện một cái nhìn bao dung của nhân dân ta với các nhân vật lịch sử và với tất cả những

gì đã xảy ra

14 Phân tích, đánh giá nhân vật An Dương Vương trong "An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy".

Trang 11

An Dương Vương là một vị vua anh minh, sáng suốt, luôn suy nghĩ cho vận mệnh của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân, biết coi trọng người tài, có tinh thần cảnh giác cao độ, được nhân dân ca ngợi với những chiến công của mình ngư xây thành, đắp lũy, chế nỏ, Vì chủ quan mà mất nước, và biết chính con gái mình đã cho giặc biết nỏ thần nên chính tay mình giết chết con gái của mình để sửa chữa sai lầm

15 Phân tích, đánh giá nhân vật Trọng Thủy trong "An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy".

Trọng Thủy là con trai của Triệu Đà, là một con cờ cho Triệu Đà lên kế hoạch tái xâm chiếm nước Âu Lạc Hắn nghe lời sắp đặt của cha, tìm cách tiếp cận và tiến tới cầu hôn Mị Châu, hắn tìm cách lừa Mị Châu lên cho hắn xem nỏ thần, và hắn

đã ăn trộm nỏ thần cho cha mình, dễ dàng chiếm nước Âu Lạc Nhưng sau khi biết tin Mị Châu chết, hắn rất hối hận và biết mình yêu cô nhưng đã quá muộn, vì nhớ

mà Trọng Thủy nhảy xuống giếng tự vẫn để mong có thể gặp lại Mị Châu

16 Phân tích chi tiết Mị Châu hóa thân thành ngọc và sự kết hợp ngọc trai, nước giếng trong "An Dương Vương và

Mị Châu, Trọng Thủy".

Trước khi bị cha chém chết, Mị Châu đã khấn:"Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha chết đi sẽ biến thành cát bụi Nếu một lòng trung hiếu mà

bị người lừa dối thì sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù” Sau khi nàng chết máu chảy xuống biển, trai sò ăn được đều biến thành hạt châu Vì nhân dân hiểu Mị Châu không có chủ ý làm kẻ phản nghịch, chỉ vì quá nhẹ dạ cả tin, hành động cảm tính nên bị lừa gạt nên đã giải oan cho nàng Lời khấn của nàng ứng nghiệm đã chứng tỏ cho tấm lòng trong sạch của nàng và hóa giải hận thù trong lòng Mị Châu ở chi tiết:"Ngọc được rửa trong nước giếng sẽ càng sáng", là

sự tha thứ của Mị Châu với Trọng Thủy Sự kết hợp giữa ngọc trai và giếng nước chứng minh mối tình thủy chung, trong sáng của Mị Châu và Trọng Thủy

Trang 12

Câu 17: Truyện cổ tích : Phân loại, nêu đặc điểm của các tiểu loại ( dẫn chứng minh họa)

a Khái niệm về truyện cổ tích : Là loại hình tự sự dân gian, chủ yếu sử dụng

yếu tố nghệ thuật kì ảo để thể hiện cái nhìn hiện thực của nhân dân và đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức cũng như công lí xã hội, mơ ước của nhân dân lao động

b Phân loại truyện cổ tích.

- Truyện cổ tích về loài vật:

+ hình thành sớm trên cơ sở tiếp thu những quan niệm về vạn vật hữu linh, vạn vật tương giao

+ là sản phẩm của con người ở thời kì săn bắt, hái lượm chuyển sang trồng trọt chăn nuôi thuần dưỡng động vật

+ nhân vật chính trong truyện là con vật

→ nhằm lí giải đặc điểm của loài vật

Ví dụ; sự tích thạch sung, sự tích con muỗi

- Truyện cổ tích thần kì:

+ phong phú về số lượng

+ đa dạng về nội dung

+ phức tạp về kết cấu

+ đề tài về đời sống xã hội với những mối quan hệ phức tạp

+con người là nhân vật trung tâm

+ những nhân vật thần kì có vai trò quan trọng trong kết cấu xung đột, quá trình dẫn dắt truyện

Ví dụ: ăn khế trả vàng, nàng tiên ốc, sao hôm sao mai

- Truyện cổ tích sinh hoạt:

+ ra đời muộn ( trong xã hội phong kiến)

+ đề cập đến đời sống thường ngày

+ kết thúc có hậu không nhiều

→ tăng thêm nội dung thế sự nhạt dần về yếu tố thần kì

→ sử dụng nghệ thuật hư cấu đời thường không có sự xuất hiện của yếu tố thần kì

Ví dụ: vợ chàng Trương, Cây tre tram đốt

Ngày đăng: 31/12/2022, 00:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w