Chắc là Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông trên dưới 20 tuổi - cái tuổi thanh xuân bừng sáng, nhưng thi sĩ đã “vội vàng một nửa” - cách nói rất thơ - chẳng cần đến tuổi [r]
Trang 1Trang giang
Sóng gợn trang giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôI máI nớc song song,
Thuyền vè nớc lại sầu trăm ngả:
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyển đò ngang,
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lẵng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ : Bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nớc, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Huy Cận
Phân tích bài thơ:
1 Cảm hứng chủ đạo được thi nhõn núi rừ ở cõu đề từ: “Bõng khuõng trời rộng nhớ sụng
dài” Một thiờn nhiờn bao la mờnh mụng, một dũng sụng dài, khụng rừ đõu là nguồn, đõu
là cửa sụng Một nỗi niềm “bõng khuõng”, một tấm lũng tha thiết “nhớ” khi đứng trước
vũ trụ, nhỡn “trời rộng” và ngắm “sụng dài”
2 Bài thơ cú 4 khổ, mỗi khổ như một bài thất ngụn tứ tuyệt hoàn chỉnh Cảnh và tỡnh
giao hũa Cảnh đẹp mà buồn man mỏc
- Khổ một, súng gợn buồn, từng lớp từng lớp như lan tỏa “điệp điệp”, lũng người Con thuyền và vệt nước song song: “thuyền về nước lại” gợi lờn một nỗi buồn chia phụi “sõu trăm ngả” Một cành củi khụ trụi nổi trờn tràng giang tượng trung cho sự chết chúc, chia lỡa Vần thơ đầy ỏm ảnh
- Khổ 2, gợi tả một khụng gian mờnh mụng, vắng lặng Cồn nhỏ thỡ “lơ thơ” Giú nhẹ
và buồn đỡu hiu: “Lơ thơ cồn nhỏ, giú đỡu hiu Khỏc nào cõu thơ Chinh phụ ngõm: “Non
kỳ quạnh quẽ trăng treo - Bến Phỡ giú thổi đỡu hiu mấy gũ”? Cỏc từ lỏy: lơ thơ, đỡu hiu;
vần lưng: “nhỏ - giú” gợi cả cỏi hắt hiu, buồn thờ thiết Khụng một õm thanh một tiếng động, một tiếng vọng nào từ làng xa Bầu trời thăm thẳm như soi xuống đỏy tràng giang, khụng gian 2 chiều: sõu chút vút” Con người càng nhỏ bộ, cụ đơn trước một khụng gian: “Sụng dài, trời rộng, bến cụ liờu” Cõu thơ 7 từ với 3 nột vẽ Thật hàm sỳc cổ điển.
- Khổ 3, lại núi về tràng giang Khụng cầu Cũng khụng đũ Sụng đó dài lại thờm mờnh mụng Cảnh đụi bờ rất đẹp nhưng vẫn thấm sõu một nỗi buồn xa vắng: “lặng lẽ bờ xanh tiếp bói vàng” Trung tõm của bức tranh là “bốo dạt” Chẳng cú mõy trụi, chỉ cú “Bốo dạt
về đõu hàng nối hàng” Một nột vẽ tượng trưng thứ hai đem đến liờn tưởng những kiếp
Trang 2người lưu lạc, trờn dũng đời Đỳng là sầu nhõn thế, vạn cổ sầu như một số nhà thơ lóng mạn, thường núi:
… “Cú phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?”…
(“Chiều” - Hồ ZDếnh) Hai tiếng “về đõu” gợi tả một nỗi buồn mơ hồ, ngơ ngỏc Chỉ biết hỏi mỡnh, chẳng biết hỏi ai Cụ đơn và buồn đến thế là cựng!
- Khổ 4, núi về hoàng hụn:
“Lớp lớp mõy cao đựn nỳi bạc,
Chim nghiờng cỏnh nhỏ búng chiều sa,
Lũng quờ dợn dợn vời non nước,
Khụng khúi hoàng hụn cũng nhớ nhà”
Một cỏi nhỡn xa vời đến mọi phớa chõn trời Cỏnh chim như chở nặng búng chiều đang
“nghiờng cỏnh nhỏ” Mõy lớp lớp đựn lờn như những “nỳi bạc” Cảnh tượng trỏng lệ Cỏnh chim nhỏ nhoi tương phản với bầu trời bao la, với lớp lớp nỳi mõy bạc nhằm đặc tả nỗi buồn cụ đơn Chữ “đựn” gợi nhớ một tứ thơ Đường: “Tỏi thượng phong võn tiếp địa õm” (Thu hứng) - Nguyễn Cụng Trứ dịch: “Mặt đất mõy đựn cửa ải xa”
Hoàng hụn phủ mờ tràng giang Con nước làm xỳc động lũng quờ Thụi Hiệu 13 thế kỷ trước, đứng trờn lầu Hoàng Hạc, nhỡn sụng Hỏn Dương, lũng thổn thức: “Trờn sụng khúi súng cho buồn lũng ai” Với Huy Cận, chiều nay trờn tràng giang, nỗi buồn nhớ quờ nhà nhiều lần nhõn lờn thấm thớa: “Khụng khúi hoàng hụn cũng nhớ nhà” Nỗi nhớ quờ, nhớ nhà mờnh mang như gửi về mọi phớa chõn trời và đang trụi theo tràng giang
“Tràng giang” là bài thơ tuyệt bỳt tiờu biểu cho hồn thơ Huy Cận thời tiền chiến Cỏc
chi tiết nghệ thuật được chọn lọc tinh tế Ngụn ngữ hàm sỳc cổ điển Cảnh đẹp mà buồn Cành củi khụ, bốo dạt… đầy ỏm ảnh, mở ra một trường liờn tưởng đầy màu sắc suy tưởng Nỗi nhớ nhà, nhớ quờ hương của khỏch ly hương tạo nờn chất thơ, hồn thơ đẹp, để
“Tràng giang” thấm sõu vào lũng người, trở thành “một bài thơ ca hỏt non sụng, đất nước” như Xuõn Diệu nhận xột
Vội vàng
Xuân Diệu
-Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất ;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hơng đừng bay đi.
Của ong bớn này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì ;
Này đây lá cành tơ phơ phất ;
Của yến anh này đây khúc tình si ;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tôi sung sớng Nhng vội vàng một năm nửa :
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Xuân đơng tới, nghĩa là xuân đơng qua,
Trang 3Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, con nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhng lợng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuân hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !
Còn trời đất, nhng chẳng còn tôi mãi,
Nếu bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sống núi vẫn than thầm tiễn biệt
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi ?
Chim rỗn ràng bỗng đứt tiếng rao thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa ?
Chẳng bao giờ, ôi ! chẳng bao giờ nữa
Mau đi thôi ! Mùa cha ngả chiều hôm,
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn ;
Ta muốn riết mây đa gió lợm,
Ta muốn say canh bớm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn chiều
Và non nớc, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tơi;
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vài ngơi !
Phân tích bài thơ:
1 Tụi khụng chờ nắng hạ mới hoài xuõn
- Thiờn nhiờn rất đẹp đầy hương sắc của hoa “đồng nội xanh rỡ”, của lỏ “cành tơ phơ phất”; “Tuần thỏng mật” của ong bướm “Khỳc tỡnh si” của yến anh “Và này đõy ỏnh sỏng chớp hàng mi” Chữ “này đõy” được 5 lần nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiờn nhiờn hữu tỡnh xinh đẹp thật đỏng yờu Vỡ lẽ đú nờn phải vội vàng “tắt nắng đi”
và “buộc giú lại” Trong cỏi phi lớ cú sự đỏng yờu của một tõm hồn lóng mạn
- Tuổi trẻ rất đẹp rất đỏng yờu Bỡnh minh là khoảnh khắc tươi đẹp nhất của một ngày,
đú là lỳc “Thần Vui hằng gừ cửa” Thỏng giờng là thỏng khởi đầu của mựa xuõn, “ngon như một cặp mụi gần” Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giỏc thần tỡnh, một cỏch so sỏnh vừa lạ vừa tỏo bạo Chiếc mụi ấy chắc là của giai nhõn, của trinh nữ Đõy là cõu thơ hay nhất mới nhất cho thấy màu sắc cảm giỏc và tõm hồn yờu đời, yờu cuộc sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuõn Diệu
Chắc là Xuõn Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lỳc ụng trờn dưới 20 tuổi - cỏi tuổi thanh xuõn bừng sỏng, nhưng thi sĩ đó “vội vàng một nửa” - cỏch núi rất thơ - chẳng cần đến tuổi trung niờn (nắng hạ) mới luyến tiếc tuổi hoa niờn Dấu chấm giữa dũng thơ, rất mới, thơ cổ khụng hề cú Như một tuyờn ngụn về “vội vàng”:
“Thỏng giờng ngon như một cặp mụi gần,
Tụi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa
Tụi khụng chờ nắng hạ mới hoài xuõn”
Vội vàng vỡ thiờn nhiờn quỏ đẹp, vỡ cuộc sống quỏ yờu, vỡ tuổi trẻ quỏ thơ mộng Đang
tuổi hoa niờn mà đó “vội vàng một nửa”… Cảm thức của thi sĩ về thời gian, về mựa xuõn,
về tuổi trẻ rất hồn nhiờn, mới mẻ
Trang 42 Mua đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm.
- Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói Thời gian là vàng ngọc Bóng ngả lưng ta Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng câu (tuấn mã) vút qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu Thời gian một đi không trở lại Xuân Diệu cũng có một cách nói rất riêng của nhà thơ: tương phản đối lập để chỉ ra một đời người chỉ có một tuổi xuân; tuổi trẻ một đi không trở lại
“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng, nhưng lượng đời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…”
Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra Một hệ thống tương phản đối lập:
tới-qua, non-già, hết-mất, rộng-chật, tuần hoàn-bất phục hoàn, vô hạn-hữu hạn - để
khẳng định một chân lý - triết lý: tuổi xuân một đi không trở lại Phải quý tuổi xuân
- Cách nhìn nhận về thời gian cũng rất tinh tế, độc đáo, nhạy cảm Trong hiện tại đã bắt đầu có quá khứ và tương lai; cái đang có lại đang mất dần đi…
Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật hình như mang theo nỗi buồn
“chia phôi” hoặc “tiễn biệt”, “hờn” vì xa cách, “sợ” vì phai tàn sắp sửa Cảm xúc lãng mạn dào dạt trong cái vị đời Nói cảnh vật thiên nhiên mà là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn trương, “vội vàng” của tạo vật Với Xuân Diệu, hầu như cuộc sống nơi
“vườn trần” đều ít nhiều mang “bi kịch” về thời gian
“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”
Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió “thì thào” vì “hớn”, “chim” bỗng ngừng hót, ngừng rao vì “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật nghịch lí giữa mùa xuân
- tuổi trẻ và thời gian:
“Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”
Thi sĩ bỗng thốt lên lời than Tiếc nuối Lo lắng Chợt tỉnh “mùa chưa ngả chiều hôm”, nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già Lên đường! Phải vội vàng, phải hối hả Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn, vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:
“Chẳng bao giờ/ôi/chẳng bao giờ nữa…
Mau đi thôi/mùa chưa ngả chiều hôm”
Xưa kia, Nguyễn Trãi viết trong chùm “thơ tiếc cảnh”:
- “Xuân xanh chưa dễ hai phen lại
Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên”
(Bài số 3)
- “Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm”
(Bài số 7)
Những vần thơ của Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong “Vội vàng”
về màu thời gian, về sắc thời gian và tuổi trẻ Thật yêu đời Thật ham sống
Trang 53 Hỡi xuõn hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
- Mở đầu bài thơ là cỏi Tụi hăm hở: “Tụi muốn tắt nắng đi” Kết thỳc bài thơ là “TA”,
là mọi tuổi trẻ Một sự hũa nhập và đồng điệu trong dũng chảy thời gian: Sống mónh liệt, sống hết mỡnh Sống nồng nàn say mờ Nghệ thuật trựng điệp trong diễn tả Ngụn từ đậm màu sắc cảm giỏc, xỳc giỏc, rạo rực: “Ta muốn ụm”, “Ta muốn riết… Ta muốn say… Ta muốn thõu…”
“Ta muốn ụm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mõy đưa và giú lượn
Ta muốn say cỏch bướm với tỡnh yờu
Ta muốn thõu trong một cỏi hụn nhiều
Và non nước, và cõy và cỏ rạng”
Sống cũng là để yờu, yờu hết mỡnh Thơ hay vỡ màu sắc lóng mạn Vỡ giọng thơ sụi nổi Nghệ thuật “vắt dũng” với ba từ “và” xuất hiện trong một dũng thơ làm nổi bật cảm xỳc: say mờ vồ vập cảnh đẹp, tỡnh đẹp nơi vườn trần Tất cả mựi thơ, ỏnh sỏng, thanh sắc, xuõn hồng… đều là khao khỏt của thi nhõn:
“Cho chếnh choỏng mựi thơ, cho đó đầy ỏnh sỏng
Cho no nờ thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuõn hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Đoạn kết:
Sống vội vàng khụng cú nghĩa là sống gấp, ớch kỷ trong hưởng thụ “Vội vàng” thể hiện một tõm hồn yờu đời, yờu sống đến cuồng nhiệt Biết quý trọng thời gian, biết quý trọng tuổi trẻ, biết sống cũng là để yờu; tỡnh yờu lứa đụi, tỡnh yờu tạo vật Tỡnh cảm ấy đó thể hiện một quan niệm nhõn sinh mới mẻ, cấp tiến Bảy thập kỷ sau cũn làm cho khụng
ớt người ngỡ ngàng! Xuõn Diệu đó sống “vội vàng” như vậy 50 tỏc phẩm, hơn 400 bài thơ tỡnh, ụng đó làm giàu đẹp cho nền thi ca Việt Nam hiện đại
Bài thơ “Vội vàng” cho thấy một cảm quan nghệ thuật “rất đẹp, rất nhõn văn, một giọng thơ sụi nổi, dõng trào và lụi cuốn, hấp dẫn Cú chất xỳc giỏc trong thơ Cỏch dựng
từ rất bạo, cỏch cấu trỳc cõu thơ, đoạn thơ rất tài hoa “Vội vàng” tiờu biểu nhất cho Thơ
mới, thơ lóng mạn 1932-1941.
Đây thôn vĩ dạ
-Hàn mặc
Tử-Sao anh không về chơi thôn vĩ ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vờn ai mớt quá xanh nh ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đờng mây
Đông nớc buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khánh đờng xa khánh đờng xa
áo em trắng quá nhìn không ra
ở đây sơng khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Trang 6Ph©n tÝch bµi th¬ :
1 Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Vĩ Giạ một làng cổ đẹp nổi tiếng bên bờ Hương giang, ngoại ô cố đô Huế Phong cảnh
êm đềm thơ mộng Với Hàn Mặc Tử chắc là có nhiều kỷ niệm đẹp? Câu mở bài như một lời chào mời, như một tiếng nhẹ nhàng trách móc: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Cảnh Vĩ Giạ được nói đến là hàng cau với nắng mới lên, một bình minh rạng ngời Là màu xanh của cây trái của “vườn ai”, ngỡ ngàng bâng khuâng, rồi thốt lên “mướt quá xanh như ngọc” Sắc xanh mượt mà, láng bóng ngời lên Một so sánh rất đắt gợi tả sức xuân, sắc xuân của “vườn ai”? Câu thứ 4 có bóng người xuất hiện thấp thoáng sau hàng trúc: “gương mặt chữ điền” Nét vẽ “lá trúc che ngang” là một nét vẽ thần tình gợi tả vẻ
kín đáo, duyên dáng của người con gái thôn Vĩ Và cho biết “vườn ai”, ấy là vừn xuân
thiếu nữ Cau, nắng, màu xanh như ngọc của vườn ai, lá trúc và gương mặt chữ điền - 5 nét vẽ, nét nào cũng tinh tế, tao nhã, gợi nhiều thương mến bâng khuâng
2 Thuyền ai đậu bến sông trăng đó…
Một miền quê thoáng đãng, thơ mộng Có gió, mây, cỏ hoa, có dòng nước Cảnh đẹp đầy thi vị, cổ điển Gió mây đôi ngả phân li Dòng nước buồn thiu, buồn xa vắng mơ hồ Hoa bắp nhè nhẹ “lay” cũng gợi buồn
“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”
Khổ một nói đến “nắng mới lên”, nắng bình minh Khổ 2, nói đến “bến sông trăng”, bến đò trong hoài niệm Vầng trăng của thương nhớ đợi chờ “Thuyền ai” có lẽ là con thuyền thiếu nữ? Vần thơ trăng đẹp nhất trong thơ Hàn Mặc Tử Có bến sông trăng, có con thuyền trăng Thật thơ mộng, tình tứ:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
Câu thơ của Hàn Mặc Tử về bến sông trăng và thuyền ai gợi nhớ đến vần ca dao
thuyền nhớ bến… bến đợi thuyền Và vì thế nó gợi lên một mối tình thương nhớ, đợi chờ
man mác, mơ hồ, bâng khuâng
3 Ai biết tình ai có đậm đà?
Một chữ “mơ” đầy tình tứ trong câu thơ có nhạc điệu chơi vơi: “Mơ khách đường xa, khách đường xa” Du khách hay thôn nữ Vĩ Giạ? Chắc lại là giai nhân mà thi nhân từng
mơ ước: “Áo em trắng quá nhìn không ra” Vừa thực vừa mông Con người của thực tại hay con người trong hoài niệm? Sương khói của bến sông trăng hay miệt vườn Vĩ Giạ đã làm mờ nhân ảnh của giai nhân? Trong cảnh có tình Trong tình có màn sương khói, một thứ tình yêu kín đáo, e dè, thiết tha:
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Toàn bài thơ có 4 từ “ai” đại từ phiếm chỉ cùng xuất hiện trong các câu hỏi tu từ, không chỉ góp phần tạo nên âm điệu lâng lâng, ngỡ ngàng mà còn dẫn hồn người đọc nhớ
về một miền dân ca Huế man mác sâu lắng, bồi hồi, thiết tha:
“Núi Truối ai đắp mà cao,
Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?
Nong tằm ao cá nương dâu
Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò…”
KÕt :’
Trang 7“Đây thôn Vĩ Giạ” ngỡ là một bài thơ tả cảnh, nhưng đích thực là một bài thơ tình - tình trong mộng tưởng Cảnh rất đẹp, rất hữu tình, âm điệu thiết tha, tình tứ Tình cũng rất đẹp nhưng chỉ là mộng ảo Bến sông trăng còn đó, nhưng con thuyền tình có kịp chở trăng về tối nay? Xa với, mênh mông Áo trắng giai nhân, màu trắng trong trinh nữ ấy đã trở thành hoài niệm trong miền thương nhớ của thi sĩ đa tình mà nhiều bất hạnh “Đây thôn Vĩ Giạ”
là bài thơ để ta nhớ và ta thương
Ngêi trong bao
Chân dung và tính cách của nhân vật người trong bao – Bêli cốp.
* Chân dung.
- Cặp kính đen, gương mặt nhợt nhạt, nhỏ bé, choắt lại như mặt chồn.
- Ăn mặc : đều màu đen
- Phục sức : đều để trong bao( giầy, ủng, kính, ô…)
- Ý nghĩ : giấu vào bao
- Tên Bêlicốp ít ai gọià người trong bao
à Chân dung kì quái, lập dị, thu mình trong vỏ, tạo cho mình một cái bao ngăn cách,
bảo vệ khỏi những ảnh hưởng, tác động của cuộc sống bên ngoài.
* Tính cách.
- Câu nói cửa miệng : Nhỡ lại xảy ra chuyện gì thì sao
- Nhút nhát, sống cô độc, luôn lo lắng, sợ hãi tất cả, thích sống rập khuôn như cái máy
vô hồn.
- Luôn thoả mãn, hài lòng với lối sống cổ lỗ, bảo thủ và luôn cho rằng sống như thế mới
là sống, mới là người công dân tốt, là nhà giáo có trách nhiệm.
- Không hiểu mọi người chung quanh, không hiểu xã hội, cứ nhởn nhơ, tự nhiên, đắm chìm trong sự tôn sùng quá khứ
à Bức chân dung về một con người kì quái, lạc lõng, khủng khiếp: hèn nhát cô độc
-máy móc - giáo điều- thu mình trong bao, trong vỏ ốc, và cảm thấy mãn nguyện trong đó.
à Lối sống và con người Bêlicốp ảnh hưởng đến cuộc sống và tinh thần của anh chị em
giáo viên trong trường nơi y làm việc, trong dân cư thành phố nơi y sống Tất cả mọi người sợ y, ghét y, tránh xa y.
2.2 Cái chết của Bêlicốp.
- Nguyên nhân:
+ Vì ngã đau, dẫn đến mắc bệnh, lại không chịu chữa chạy
+ Vì bị sốc trước thái độ của chị em Varenca
+ Sâu xa hơn đó là cái chết của Bêlicốp là tất yếu: với tạng người, cách sống của y, dẫn đến cái chết như thế là tất yếu.
à Cuối cùng Bêlicốp đã tìm cho mình một cái bao tốt nhất - đó cũng là mong muốn của
y.
Trang 8- Sau khi hắn chết, mọi người cảm thấy như thoát khỏi gánh nặng, thấy nhẹ nhàng Nhưng chẳng bao lâu cuộc sống lại diễn ra như cũ.
à Do ảnh hưởng, tác động nặng nề dai dẳng của lối sống, kiểu người Bêlicốp đã đầu
độc không khí trong sạch, lành mạnh của đạo đức, văn hoá nước Nga đương thời
à Hiện tượng, lối sống, kiểu người Bêlicốp mang tính qui luật trong lịch sử phát triển
của xã hội loài người.
2.3 Nghệ thuật biểu tượng cái bao.
- Nghĩa gốc: Vật hình túi(hộp) dùng để bao, gói, đựng đồ vật, hàng hoá
- Nghĩa chuyển: Lối sống và tính cách của Bêlicốp
à Kiểu người, lối sống thu mình trong bao – cuộc sống trói buộc, tù hãm, đối với nhân
dân Nga, tri thức Nga cuối thế kỷ 19.
2.4 Đặc sắc nghệ thuật.
- Chọn ngôi kể:
+ Người kể chuyện: Bu rơ kin – nhân vật Tôi
+ Người thuật lại câu chuyện Bu rơ kin kể là tác giả.
à Tính khách quan, gây cảm giác chân thật, gần gũi, tạo cấu trúc kể: truyện lồng trong
truyện.
- Giọng kể: Mỉa mai, châm biếm, trầm tĩnh vẻ ngoài bình thản.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình: Từ chân dung, lời nói, hành động…đều khái quát thành tính cách, lối sống.
- Nghệ thật tương phản: Lối sống, tính cách của Bêlicốp >< chị em Valenca, giáo viên, nhân dân …
- Nghệ thuật biểu tượng: Hình ảnh cái bao, người trong bao, cái chết của Bêlicốp.
- Kết thúc truyện: Người nghe – người đọc giả định trực tiếp phát biểu chủ đề tư tưởng – tạo ấn tượng cho người đọc.
2.5 Chủ đề tư tưởng.
- Lên án mạnh mẽ kiểu người trong bao Lối sống trong bao và tác hại của nó đối với hiện tại và tương lai nước Nga.
- Lời cảnh báo và kêu gọi mọi người cần phải thay đổi cách sống, không thể sống tầm thường, hèn nhát, ích kỉ.
Ngêi uy quyÒn kh«i phôc uy quyÒn
Ph©n tÝch nh©n vËt
Trang 9Giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản.
2.1 Hình tượng nhân vật Gia ve.
- Chánh thanh tra cảnh sát, người cầm quyền khôi phục uy quyền, con ác thú giữ nhà cho chính quyền tư sản
- Giọng nói như ác thú gầm, cặp mắt phóng vào tội phạm như móc sắt, cái cười ghê tởm phô cả hai hàm răng.
- Chỉ bằng hai tiếng: Mau lên: cộc lốc, ngắn ngủi, mà đã đã có cái gì man rợ, điên cuồng.
- Hắn vừa xấu hổ, nhục nhã vừa căm tức trước sự mạnh mẽ và tấm lòng nhân hậu của Giăng van giăng.
- Hắn hả hê, khoái trá trong sự đắc thắng của con thú khi săn được mồi.
- Không hề động lòng thương trước lời nói, hành động khi Phăng tin hấp hối.
- Hắn rất nể sợ trước sức mạnh phi phàm và bản lĩnh của Giăng van Giăng
à Nghệ thuật ẩn dụ so sánh: Chân dung độc đáo, đầy ấn tượng Chân dung một con
người – thú
2.2 Hình tượng Giăng Van giăng.
- Từ một ông thị trưởng Ma đơ len giàu có sang trọng trở thành tên tù khổ sai Giăng Van giăng khốn khổ.
- Cử chỉ điềm tĩnh, ngôn ngữ nhẹ nhàng, nhã nhặn, không hề khiếp sợ trước Gia ve.
- Hạ giọng, nhún mình cầu xin cho Phăng tin
- Khi Phăng tin chết: Thái độ và hành động của ông trở nên mạnh mẽ, quyết liệt.
Sự bình tĩnh của ông là cho Gia ve khiếp sợ, không dám ra tay.
- Sẵn sàng chịu bắt sau khi đã hoàn tất mọi thủ tục cần thiết để tiễn đưa Phăng tin vào cõi vĩnh hằng.
à Miêu tả trực tiếp: Ngôn ngữ, cử chỉ, hành động >< với Gia ve.
à Miêu tả gián tiếp qua Phăng tin, qua bà Xơ : Hình ảnh của một vị cứu tinh, đấng cứu
thế.
à Miêu tả ngoại đề của tác giả thông qua hàng loạt câu hỏi và lời bình luận: Hình ảnh
của một con người phi thường, lãng mạn.
Trang 10* Tóm lại Những thủ pháp nghệ thuật và cách kết cấu sự phát triển của tình tiết trong kể chuyện đều hướng tới việc tô đậm, ca ngợi con người khác thường, đều qui tụ về thế giới
lí tưởng.