*Hiện đại hóa văn học: là nền văn học từng bước thoát khỏi sự ảnh hưởng của hệ thống quan niệm thi pháp của văn học trung đại để xác định cho mình những hệ thống quan niệm, thi pháp mới
Trang 1Câu 1: Nêu và phân tích những tiền đề chính ảnh hưởng đến quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX?
Theo anh/chị, tiền đề nào có ý nghĩa quan trọng nhất đối với công cuộc hiện đại hóa văn học giai đoạn này? Vì sao?
* Tiền đề lịch sử xã hội:
+ Năm 1858, Pháp lần đầu tiên nổ súng xấm lược nước ta tại bán đảo Sơn Trà –
Đà Nẵng
+Mục đích: khai thác thuộc địa
+Những cuộc nổi dậy của phong trào nông dân nổ ra đều thất bại
+Xã hội bị phân hóa thành nhiều giai tầng:địa chủ phong kiến và nông dân+Đầu thế kỉ XX, sau khi bình định xong nước ta, Pháp thực hiện cuộc khai thácthuộc địa lần thứ nhất (sau chiến tranh thế giới thứ 2) xuất hiện nhiều giai tầngmới: tư sản, tiểu tư sản, công nhân… bên cạnh đó là sự xuất hiện của tầng lớptrí thức Tây học
*Tiền đề văn hóa tư tưởng
+Đầu thế kỉ XX, cùng với những biến đổi quan trọng về KT – XH – Vh, trênphương diện tư tưởng cũng diễn ra những thay đổi đáng kể Trong khi hệ tưtưởng phong kiến mà nòng cốt là nho giáo mất dần vị trí độc tôn thì các hệ tưtưởng mới du nhập từ phương Tây như hệ tư tưởng tư sản, hệ tư tưởng dân chủ
và khoa học, hệ tư tưởng vô sản… ngày càng mở rộng phạm vi ảnh hưởng.Nhưng trên hết và sâu rộng hơn cả là chủ nghĩa yêu nước, hệ tư tưởng truyềnthống đã nuôi dưỡng tâm hồn và tinh thần bất khuất của dân tộc VN suốt 4000năm qua
*Tiền đề môi trường văn học
+ Sự xuất hiện của chữ quốc ngữ: Cuối thế kỉ XX, từ hệ thống kí tự La tinh, chữquốc ngữ được hình thành từng bước thay thế chữ Hán, Nôm trong việc sáng tácvăn chương Với ưu điểm dễ học, dễ hiểu, chữ quốc ngữ nhanh chóng đượctruyền bá đến mọi tầng lớp nhân dân Công chúng văn học được mở rộng là mộtđộng lực quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn học VN giaiđoạn này
+ Sự xuất hiện của một tầng lớp công chúng mới (quan trọng nhất): thời
trung đại, tầng lớp tri thức Hán học vừa là tác giả, vừa là độc giả của vănchương Bước sang thế kỉ XX, cùng sự thay đổi của XH VN, nhiều giai tầngmới xuất hiện, trong đó có tầng lớp trí thức tiểu tư sản Tây học Tầng lớp thịdân này chịu nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu sắc của VH phương Tây hiện đạinên đã nảy sinh những nhu cầu mới về tư tưởng, văn hóa, văn học Đối với họ,những tác phẩm văn chương tải đạo, nói chí, mang nặng chức năng giáo huấn,đạo lí không còn phù hợp nữa Họ mong muốn được thưởng thức một nền vănhọc hiện đại hơn, hấp dẫn hơn, truyền tải được những nhu cầu tâm lí, tình cảmcủa thanh niên thời đại Trước thực tiễn đó, VHVN buộc phải thay đổi, phảichuyển mình để phù hợp với tình hình chung
+Sự xuất hiện của công nghệ in: hiện đại hóa VH gắn liền vs sự xuất hiện vàphát triển của công nghệ in của nước ta Khi sang xâm lược Việt Nam, thực dân
Trang 2Pháp đưa máy in sang để phục vụ cho công việc tuyên truyền chính sách nôdịch của chúng Bước sang thế kỉ XX, cùng sự xuất hiện của các nhà in, nhàxuất bản, báo quán, thư quán cũng mọc lên nhanh chóng Đối với nhiều trí thứcTây học đương thời, nghề văn, nghề cầm bút không còn là nghề chơi mà là nghềkiếm dống, mưu sinh, nghĩa là phải viết nhiều, viết nhanh chóng, xuất bảnnhanh để có thể phát hành TP ra thị trường Ng sáng tác sẽ không thể làm đượcđiều đó nếu không có sự hỗ trợ của máy in => công nghệ in đã tạo nên mộtkhông khí truyền bá văn chương rầm rộ, mạnh mẽ góp phần tích cực của quátrình hiện đại hóa VH giai đoạn này.
+Sự xuất hiện của báo chí: nghề in ra đời đã kéo theo sự xuất hiện của báo chí
Có thể nói đây là điều kiện vô cùng thuận lợi, khuyến khích văn học phát triển.Tòa báo là nơi đầu tiên các cây bút trẻ mới bước vào nghề tìm đến để gửi gắmđứa con tinh thần của mình Hầu hết các tác phẩm nổi tiếng của VHVN giaiđoạn này như Chí Phèo, Tắt đèn, Số đỏ… đều xuất hiện lần đầu tiên trên mặtbáo trước khi được in thành sách
Tiền đề môi trường văn học quan trọng nhất (mà chủ yếu do yếu tố sự xuất hiệncủa tầng lớp công chúng mới)
Câu 2: Khái niệm hiện đại hóa văn học? Tại sao nói văn học từ đầu thế kỉ
XX đến 1945 được hiện đại hóa sâu sắc, toàn diện?
*Hiện đại hóa văn học: là nền văn học từng bước thoát khỏi sự ảnh hưởng của
hệ thống quan niệm thi pháp của văn học trung đại để xác định cho mình những
hệ thống quan niệm, thi pháp mới phù hợp với hơi thở của thời đại
* Nói VH HĐH sâu sắc toàn diện là vì thay đổi trên tất cả các mặt từ thi pháp, lực lượng sáng tác, văn tự, ngôn ngữ văn chương…
Hiện đại hóa văn học đã diễn ra trên mọi phương diện của đời sống vănhọc, làm biến đổi toàn diện nền văn học từ phạm trù trung đại sang hiện đại.Hiện đại hóa bắt nguồn từ sự thay đổi ý thức nghệ thuật, quan niệm thẩm mĩ vàquan niệm văn chương Thời trung đại, văn học chưa thực sự tách biệt khỏi cáclĩnh vực khác trong hoạt động ý thức tinh thần như lịch sử, triết học, tôn giáo,đạo đức học… Văn học trung đại coi trọng tính giáo huấn đạo lí, các quan niệmkhá phổ biến trong văn học trung đại phương Đông là “văn dĩ tải đạo” (viết văn
để truyền tải đạo lí) , “thi dĩ ngôn chí” (làm thơ để nói chí tỏ lòng) Văn chươngnhấn mạnh chức năng tải đạo, khẳng định và đề cao đạo đức Văn chươngkhông còn nhằm mục đích giải trí
Chuyển sang nền văn học hiện đại, những quan niệm trên đã dần thay đổi.văn học trở thành một lĩnh vực chuyên biệt tách khỏi lĩnh vực thức tỉnh tinhthần, là phương tiện để tự biểu hiện của nhà văn và là phương tiện thông qua đónhà văn nhận thức, khám phá thế giới Tuy vẫn chú trọng đến chức năng giáohuấn, song đó không còn là mục đích ban đầu, mục đích tối thượng
Ví dụ: + Nam cao thể hiện bản thân con người riêng của mình qua khía cạnhngười nông dân bị tha hóa, lấy cái đói để làm nổi bật sự tha hóa
+ Ngô Tất Tố sử dụng khía cạnh áp bức, bóc lột để lên tiếng phủ định xã hội
Trang 3Hiện đại hóa về cơ bản là sự biến đổi trong thi pháp văn học, để thoát rakhỏi hệ thống thi pháp của VH trung đại, với những đặc điểm như tính ước lệ,quy phạm, tính uyên bác, sùng cổ, tính phi cá thể.Cái nhìn về thế giới và conngười trong VH trung đạichịu sự chi phối của quan niệm về tính đồng nhất của
vũ trụ và con người, tạo nên một cái nhìn không gian không chia cắt, được nhấtthể hóa và một thời gian vĩnh viễn VH hiện đại giải phóng văn chương ra khỏinhững quy tắc, luật lệ chặt chẽ mang tính quy phạm, ước lệ của VH trung đại,
đề cao tính cá thể hóa trong cách nhìn, sự thể hiện con người và thế giới, từ đó
mở ra những khả năng vô tận cho sự khám phá và biểu hiện bằng nghệ thuật
Hiện đại hóa diễn ra trên mọi thể loại của văn học
+VH trung đại: Văn học nghệ thuật gồm: thơ Đường luật, chí, truyền kì,song thất lục bát, lục bát, hát nói… VH chức năng gồm cáo, chiếu, biểu, tế…
+VH hiện đại: sự ra đời và phát triển mau lẹ của các loại văn xuôi hiệnđại bằng TV như: tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự Thơ được đổi mới sâu sắcvới phong trào thơ mới Xuất hiện các thể lọi mới như kịch nói, phê bình vănhọc…
Công cuộc HĐH được thực hiện bởi các tác giả (Trí thức tây học >< Nho sĩ, hán sĩ) vănhọc kiểu mới Trong vài chục năm đầu thế kỉ, đội ngũ sáng tác chủ yếu vẫn làcác nhà nho, nhưng phần đông họ đã tiếp nhận tư tưởng mới Từ giữa nhữngnăm hai mươi trở đi, lực lượng sáng tác chủ yếu thuộc về lớp trí thức Tây học,chịu ảnh hưởng trực tiếp của VH VH phương Tây
Về phương diện ngôn ngữ và văn tự cũng có những thay đổi quan trọng.+Văn tự: Trung đại: chữ Hán và chữ Nôm Thời hiện đại: văn tự quốcngữ
+ Ngôn ngữ văn chương: hiện đại bớt hẳn tính ước lệ, cách điệu mà gầngũi với đời sống, có khả năng diễn tả nhiều trạng thái tinh tế và phức tạp của nộitâm cùng bức tranh sinh hoạt XH, phong tục nhiều màu sắc Câu văn xuôi tiếngviệt tuy mới hình thành nhưng đã có sự phát triển thật nhanh chóng, đạt đếntrình độ hiện đại và hình thành những phong cách độc đáo Câu thơ chuyểnmạnh từ thơ điệu ngâm sang thơ điệu nói, tăng cường được khả năng diễn tả,biểu hiện mọi trạng thái cảm xúc, cảm giác mang tính trực tiếp, cụ thể và riêngbiệt của từng cái tôi trữ tình
Công cuộc HĐH diễn ra qua 3 chặng: 1900 – 1920 (giai đoạn giao thời),
1920 – 1930(được đẩy mạnh và có nhiều thành tựu quan trọng: Tố Tâm), 1930– 1945 (nền VH thực sự phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu Đặc biệtxuất hiện và phát triển khá mạnh của phê bình văn học)
Câu 3: - Phân tích một tác phẩm tự chọn (thơ Mới, văn xuôi Tự lực văn đoàn, văn Nam Cao, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân…) nhằm làm nổi bật những yếu tố hiện đại trong văn học giai đoạn 1930 – 1945.
Trả lời: Bài thơ Nhớ rừng - Thế Lữ
Trang 4Yếu tố hiện đại trong Nhớ rừng được biểu hiện một cách rõ nét và sâu sắcqua các phương diện thể thơ, hình thức câu thơ, cảm xúc thơ, nhịp thơ Khácvới thơ ca thời trung đại phải chịu sự gò bó với khuôn khổ niêm luật cứng nhắc
về thể thơ, hình ảnh thơ, nhịp thơ và tư tưởng thơ: thi dĩ ngôn chí
- Trước hết, bài Nhớ rừng được viết theo thể thơ 8 chữ Được ngắt làm 5đoạn
- Nội dung: tác giả mượn lời con hổ ở vườn bách thú để thể hiện thái độchán ngán với thực tại tù túng, tầm thường, giả dồi, khát vọng tự do, khátvọng đạt tới sự cao cả, phi thường Nội dung đó được biểu hiện một cáchtinh tế, tài tình thông qua việc làm nổi bật sự tương phản, đối lập gay gắtgiữa cảnh tượng vườn bách thú tầm thường, trì đọng với nơi đại ngàn tự
do, phóng khoáng, hoành tráng, bí hiểm Trước thực trạng bị giam hãm,cầm tù, tâm trạng chán ngán, khinh ghét, căm thù của con hổ được nhàthơ bộc bạch hết sức tự nhiên và chân thật Con hổ luôn hoài niệm quákhứ, về thời oanh liệt ngày xưa Đó là một tâm trạng lãng mạn, thíchnhững điều phi thường, phóng khoáng rất gần với tâm trạng của ngườidân mất nước khi đó Đọc Nhớ rừng, người ta ngầm hiểu được đó là tâm
sự của nhân dân, của 1 thế hệ
- Hình ảnh thơ phong phú, đa dạng, linh hoạt, mang nhiều dáng vẻ, giàutính tượng hình, thoát khỏi hình ảnh mang tính ước lệ tượng trưng của thơcũ: “cảnh sơn lâm”, “bóng cả”, “cây già”, “lá gai”, “cỏ sắc”, “hang tối”,
“mô gò”, “giải nước đen”,
- Nhà phê bình Hoài Thanh đã ca ngợi Thế Lữ như một viên tướng điềukhiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được.Điều này nói lên nghệ thuật sử dụng từ ngữ điêu luyện, đạt đến độ chínhxác cao Chỉ riêng về âm thanh rừng núi, Thế Lữ cũng cho ta nghe tháytiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi, tiếng thét khúc trường ca dữ dội.Các điệp ngữ được sử dụng linh hoạt, nhắc đi nhắc lại như 1 cung bậctiếc nuối, hoài niệm: nào đâu những, đâu những, đâu những,
Những động từ mạnh được khai thác triệt để, khắc họa rõ nét hình ảnhmột chúa sơn lâm hiên ngang, hùng dũng, oai vệ, mạnh mẽ: gặm, gào,thét, hét, lượn, vờn
- Nhịp thơ thay đổi linh hoạt, uyển chuyển: “gặm một khối căm hờn/ trongcũi sắt”, “hoa chăm/cỏ xén/lối phẳng/ cây trồng”,…
Bài thơ:
Lời con Hổ ở vườn Bách thú,
Tặng Nguyễn Tường Tam)
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Trang 5Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi,
Ta biết ta chúa tể của muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
- Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả âm u
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Trang 6Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
(1936)
Câu 4: Chứng minh Tản Đà là một nhà thơ giao thời tiêu biểu
Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939), tại làng KhêThượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, thànhphố Hà Nội), nguyên quán ở làng Lủ tức làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì thuộcphủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là phường Đại Kim, quận Hoàng Mai,thành phố Hà Nội) Bút danh Tản Đà của ông là tên ghép giữa núi Tản Viên vàsông Đà, quê hương ông
Cha là Nguyễn Danh Kế, mẹ là Lưu Thị Hiền.Trong những người anh em cònlại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản Đà là Nguyễn Tái Tích, làngười có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này của Tản Đà
Trong văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi saosáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác Ông đã từng làm chủ bút tạpchí Hữu Thanh, An Nam tạp chí
Ngoài sáng tác thơ, Tản Đà còn giỏi trong việc dịch thơ Đường thành thơ lụcbát và được biết đến như một người dịch thơ Đường ra ngôn ngữ Việt hay nhất.Các tác phẩm của Tản Đà:
+ Thơ: Khối tình con I (1916), Khối tình con II (1918), Tản Đà xuân sắc (1918), Khối tình con III (1932)
+ Văn: Giấc mộng con I (1917), Giấc mộng con II (1932), Giấc mộng lớn (1932), Thề non nước (1922), Tản Đà văn tập (1932)
+ Kịch: Tây Thi (1922), Tống biệt (1922)
+ Dịch thuật: Liêu Trai chí dị (1934)
+ Nghiên cứu: Vương Thúy Kiều chú giải (1938), Một số bài báo
Một số bài thơ nổi tiếng: Thề non nước, gió thu, tống biệt
Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính,ông được đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền vănhọc Việt Nam, là "gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại”
Tính giao thời:
a Nguồn ảnh hưởng
- Nguồn ảnh hưởng lớn nhất và chủ yếu là Nho giáo, ngấm sâu vào Tản Đà Ởgiai đoạn mạt vận, Tản Đà kiếm ăn bằng những mẹo mực của nhà nho truyềnthống (dịch thơ Đường, xem bói…) Đó là vốn liếng Tản Đà giàu có hơn cả vàtrung thành, thủy chung đến cùng
- Có chịu ảnh hưởng của Tây học: Nhưng đến với Tản Đà khá muộn Sự tiếpxúc với Tây học ở ông không thật sâu sắc và hệ thống Ông chủ yếu biết phương
Trang 7Tây ở khía cạnh kinh tế, triết học mà không được trực tiếp tiếp xúc với vănchương phương cũng như quan niệm văn học nghệ thuật phương Tây
Tính chất giao thời: chủ yếu là Nho có tráng một lớp men phương Tây
- Văn hóa dân gian: ảnh hưởng phong phú, thâm nhiễm vào Tản Đà một cáchsâu sắc
b Con đường đến với văn chương
- Tản Đà cũng như cha và anh mình, đều không có sự chuẩn bị để trở thành nhàvăn
- Tản Đà chỉ đến với văn chương sau một loạt đổ vỡ với cuộc đời Những đỗ vỡ
mà ở thời điểm đó, Tản Đà không có khả năng và điều kiện làm lại Đối với mộtnhà Nho, phải có Tam bất hủ: lập đức, lập danh, lập ngôn Tản Đà không muốnlàm một thánh nhân đạo đức, lập danh thời đó không dễ Tản Đà tìm đến một lốithoát: văn chương Trên An nam tạp chí (số 8), Tản Đà viết: “Đã gọi là thằngngười phải có một cái hơn con vật Hoặc là cái đức hay, hoặc là cái việc hay,hoặc là câu nói hay” Văn chương (ngôn) chính là mảnh đất để Tản Đà khoe tài,
để giúp ông ngông nghênh với thiên hạ
- Khi đến với văn chương thì lại đến rất mạnh mẽ, quyết liệt, triệt để Tản Đàtạo dựng cho mình một sự nghiệp văn chương Trong Giấc mộng con II, Tản Đàchia thành: hạng người đạo đức luân lí, hạng người nghĩa hiệp, hạng người tàihoa Tản Đà thấy mình thuộc về tài hoa hơn Đó là cái cớ để Tản Đà thích khoetài và bộc lộ tài năng của mình theo kiểu thói quan của nhà Nho Nhưng thời đạichỉ dành cho ông một con đường, mảnh đất duy nhất: văn chương Vì thế ôngbước vào với tư cách của một nhà nho tài tử
c Quan niệm về văn chương
- Tản Đà là một trong những người đầu tiên nói đến thuộc tính hàng hóa củavăn chương Ông phác thảo chân dung của mình, một chân dung có phần thẹnthùng nhưng cũng không kém phần tự đắc:
“Chữ nghĩa Tây Tàu hóa dở dangNôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàngCòn non còn nước, còn trăng gióCòn có thơ ca bán phố phường”
Tản Đà hầu như chỉ sống bằng nghề buôn văn bán chữ, lúc chủ bút, lúc viếtmướn Về phương diện này Tản Đà còn triệt để hơn những hậu sinh của mình
- Trong đội ngũ cầm bút, Tản Đà phân thành ba loại:
+ Nhàn rỗi viết văn+ Viết văn với mục đích kiếm vị trí, không tính lỗ lãi+ Ăn lương một tờ báo để viết văn
Tản Đà tự xếp mình vào loại ba (tuy không thanh cao nhưng lại chuyên nghiệphơn hai loại đầu) Như vậy, Tản Đà ý thức về một kiểu nhà văn mới mà ông làđại diện Đây là điểm rất mới của Tản Đà, điều mà trước ông chưa một ai làmđược
Trang 8- Mặt khác, Tản Đà chưa bao giờ quên được nguyên tắc tải đạo trong vănchương Nho giáo Trong bài Hầu trời, Tản Đà xem mình như một trích tiên trờisai xuống trần gian để truyền bá thiên lương cho nhân loại.
Trời rằng không phải là trời đàyTrời định sai ta một việc này
Là việc thiên lương cả nhân loạiCho con sớm thuận cùng đời hay
Xem văn học là truyền bá thiên lương, đem văn chương phục vụ mục đíchgiáo hóa Ở điểm này thì rõ ràng, Tản Đà lại rất truyền thống, rất Nho giáo.+ Tản Đà tự phân văn chương thành hai loại: văn chương chơi (Giấc mộng con
I, Khối tình) văn chương vị đời (Đài hương, Lên sáu, Lên tám, Đàn bà Tầu…)
+ Văn vị đời được Tản Đà coi trọng, giành nhiều tâm huyết, coivăn vị đời mới là văn của đại văn gia Đấy là thứ văn làm cho conngười tâm được thuần chính “văn chương có bóng mây hơi nướcđến dân xã”
+ Từ năm 1926, Tản Đà hầu như không viết văn chơi nữa, Tản Đàtập trung làm báo và sáng tác văn vị đời Vì thế mà tác phẩm củaông mất độc giả và lạc hướng, độc giả không thích văn đạo đức.Tản Đà không hiểu cơ sự này, trở nên yếm thế, bi quan
- Kết luận: mặc dù dấn thân vào văn chương một cách triệt để nhưng cái cản trởcủa văn học giáo hóa khiến Tản Đà không nhận thức được nhu cầu của độc giả.Nói cách khác, ông không tôn trọng tính hàng hóa của văn học Vì thế, vị thếcủa ông nhanh chóng bị lạc hậu, bỏ qua
d Quan niệm về thể loại
- Trong cuốn Giấc mộng con I, ở bức thư gửi cho Vương Kiều Oanh, Tản Đàchia 7 loại:
+ Văn vần: thơ ca, từ khúc+ Thuyết văn: tiểu thuyết+ Kịch văn: tuồng và chèo+ Tản văn
+ Dịch văn+ Dật văn: văn không thuộc nhiều loại trên+ Ngu văn: văn ăn chơi
- So với các bậc tiền bối, thì hệ thống thể loại của Tản Đà có phong phú hơn, cónhiều thể loại mới du nhập vào Tản Đà có sự nhạy cảm với cái mới và cũngkhông phải không có tán thưởng cái mới, thậm chí dũng cảm theo cái mới (sángtác bằng quốc ngữ, viết tiểu thuyết có nhiều điểm mới mẻ)
- Nhưng nhiều khi tên gọi mới mà nội dung cũ Ví dụ: Kịch (phương Tây làkịch nói) thì Tản Đà xếp vào tuồng, chèo
+ Nhận thức về văn xuôi của Tản Đà cũng hỗn loạn: Ví dụ, năm 1921 trong bàiHầu trời thì Tản Đà gọi Giấc mộng con I và Thần tiền là tiểu thuyết Năm 1925thì gọi là sách chép truyện
(Đọc Hầu trời để c/m nữa nhá)
Trang 9Câu 6: Tác gia HCM: Thơ vừa cổ điển vừa hiện đại?
1.Màu sắc cổ điển:
-Sử dụng thể thơ cổ điển, nhất là thơ tứ tuyệt
-Đề tài chủ yếu là thiên nhiên
- Bút pháp miêu tả: quan sát từ cao đến xa với cái nhìn bao quát toàncảnh Bút pháp chấm phá là bút pháp nổi bật nhất (nghĩa là chỉ bằng vài nét vẽđơn sơ mà có
thể thâu tóm được linh hồn chung của bức tranh)
-Nhân vật trữ tình: mang phong thái của nhà hiền triết phương đông thưởngngoạn cảnh thiên nhiên
Nhưng thơ Bác lại không phải là thơ xưa bởi Bác là một hồn thơ cách mạngmang tinh thần “thép” Đó là chỗ khác thơ xưa, đồng thời cũng là chỗ hơn thơxưa, thơ Bác sáng ngời tinh thần thời đại, nó là tiếng thơ của một chiến sĩ cộngsản vĩ đại
Hai vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Bác không tách rời nhau mà kết hợphài hòa với nhau để làm nên vẻ đẹp riêng độc đáo của phong cách thơ Hồ ChíMinh
VD: Vẻ đẹp cổ điển trong bài thơ “Chiều tối”
+ Trong bài thơ “ Chiều tối” HCM đã sử dụng hình ảnh cánh chim và chòmmây để diễn tả không gian và thời gian buổi chiều Đó là hình ảnh rất quenthuộc trong thơ ca truyền thống
+ Ở bài “Chiều tối”, chúng ta bắt gặp một pháp nghệ thuật rất quen thuộc - đó làbút pháp chấm phá, tả ít gợi nhiều Đặc biệt tác giả dùng chữ “hồng” ở cuối bàithơ để miêu tả cái tối
3 Vẻ đẹp hiện đại của bài thơ “Chiều tối”
+ Nếu như trong thơ xưa, con người thường trở nên nhỏ bé nhạt nhoà trướcthiên nhiên rộng lớn, thì ở bài thơ “Chiều tối”, hình ảnh người lao động, “cô gáixay ngô” nổi bật lên và là hình ảnh trung tâm của bức tranh thiên nhiên, là linhhồn, là ánh sáng của bức tranh, chi phối toàn bộ khung cảnh nước non sơn thuỷ.+ Trong bài thơ “Chiều tối”, chúng ta nhận thấy tư tưởng, hình tượng thơ luôn
có sự vận động khoẻ khoắn, đó là sự vận động từ bức tranh thiên nhiên chuyểnsang bức tranh đời sống, từ nỗi buồn đến niềm vui ấm áp, từ tàn lụi đến sự sống
Trang 10Câu 8: Khái niệm chủ nghĩa lãng mạn trong văn học? Những tiền đề cơ bản dẫn đến sự xuất hiện của trào lưu VHLM VN và quá trình vận động của trào lưu này?
K/n: Một trào lưu văn hóa lớn nhất ở Âu Mĩ vào cuối thế kỉ XVIII và nửa đầu
thế kỉ XIX Vào đầu thế kỉ XVIII, từ lãng mạn vẫn được dùng để chỉ tất cảnhững cái gì hoang đường, kì lạ, khác thường chỉ có ở trong sách vở chứ không
có trong hiện thực Đến giữa thế kỉ XVIII, chủ nghĩa lãng mạn trở thành mộtthuật ngữ chỉ một trào lưu văn học mới đối lập với trào lưu cổ điển chủ nghĩa
Tiền đề:
+ Xuất hiện vào những năm 30 của TK XX
+ Do kết quả của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, xã hội phân hóa thànhhai giai cấp tư sản và tiểu tư sản Giai cấp tư sản và một bộ phận giai cấp tiểu tưsản hình thành một lối sinh hoạt văn minh đô thị : ở nhà lầu, đi xe hơi, dùng đènđiện, đi nghe hòa nhạc, xem chiếu bóng,vv…Những kiểu ăn chơi trụy lạc, đuađòi được thực dân khuyến khích
+ Cùng với đó là sự giao lưu, tiếp xúc với văn hóa Pháp, đặc biệt là văn họclãng mạn Pháp làm thay đổi về tư tưởng, tình cảm , cảm xúc và thị hiếu thẩm
mỹ của thanh niên tiểu tư sản thành thị Họ yêu đương, mơ mộng, vui buồnkhông giống với các thế hệ trước
+ Trước những thay đổi của cuộc sống, văn học cũ không đáp ứng được nhữngđòi hỏi cách thức phản ánh và lý giải nghệ thuật về những vấn đề mới, nhữngxung đột mới,… Văn học lãng mạn ra đời như một quy luật tất yếu nhằm đápứng những nhu cầu tình cảm và thị hiếu của lớp công chúng thành thị đươngthời
Quá trình vận động, phát triển:
+ Mầm mống đã xuất hiện trong các tác phẩm của Chu Mạnh Trinh, DươngKhuê, Dương Lâm, Đào Tấn Trong thơ của tản Đà (Khối tình con), HoàngNgọc Phách (Tố Tâm),…
+ Đầu những năm 30 của tK XX, trước bối cảnh Pháp liên tục tiến hành cáccuộc khủng bố trắng nhằm đàn áp phong trào cách mạng trong nước, nạn khủnghoảng kinh tế đe dọa Đội quân thất nghiệp ngày càng đông Xã hội Vn bấy giờcăng thẳng, bế tắc, u ám Để giảm bớt bầu không khí ngột ngạt ấy, Pháp đã thihành một số chính sách cải lương nhằm lừa bịp nhân dân ta Phong trào “vui vẻtrẻ trung” làm cho quần chúng ngày càng xa rời cách mạng Giai cấp tư sản dântộc không dám đấu tranh bằng chính trị và quân sự nữa mà chuyển sang đấutranh bằng văn hóa Ý thức cá nhân được hình thành cũng là lúc văn học lãngmạn ra đời, nhằm khẳng định ý thức các nhân và tâm trạng cô đơn, buồn khổcủa con người
Câu 9: Theo anh/chị, các truyện ngắn kì ảo của trào lưu VHLM thời kì 30 – 45 có đóng góp gì cho quá trình HĐH văn học dân tộc nửa đầu thế kỉ XX?
(Bóng người trên sương mù của Nhất Linh, Trại Bồ Tùng Linh, Ma xuống thang gác của Thể Lữ, Tâm sự của nước độc, Loạn âm của Nguyễn Tuân)
Trang 11Đóng góp về nghệ thuật
+ Thủ pháp hãm nội dung, dồn nén sự kiện
+ Kĩ thuật viết, phân tích tâm lí nhân vật
+ Bước đầu chạm đến vô thức văn hóa dân tộc, gợi bao suy nghiệm về cáchhành xử phải đạo với cõi vô hình - phần tất yếu của cuộc sống con người trầnthế
+ Cái “ảo” là chuyện đã xảy ra, chuyện có đầu có cuối đã xong xuôi hoàn kết,
đã được thấy, được nghe, nay chỉ việc kể lại Phương thức trần thuật
+ Nhân vật kì bí, khó đoán định
Nhân vật Hoàng Lan Hương (trại BTL) là người hay ma, là ảo hay thực?
Câu 11: Tình yêu quê hương, đất nước, sự trân trọng những vẻ đẹp truyền thống văn hóa dân tộc trong 1 số tác phẩm Thơ Mới tiêu biểu
Chợ tết (Đoàn Văn Cừ):
Dài mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ,
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu,
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau
Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa,
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh,
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ
Con trâu đứng vờ rim hai mắt ngủ,
Để lắng nghe người khách nói bô bô
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ,
Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán
Một thầy khoá gò lưng trên cánh phản,
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm,
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu,
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu
Trang 12Áo cụ lý bị người chen sấn kéo,
Khăn trên đầu đang chít cũng bung ra
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà,
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi,
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết,
Con gà trống mào thâm như cục tiết,
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem
Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm,
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh,
Trên con đường đi các làng hẻo lánh,
Những người quê lũ lượt trở ra về
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê,
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ
Phân tích: Cấu trúc không gian của bài thơ hài hòa và tấp nập, đan xen thanh
bình giữa thiên nhiên và con người Bài thơ gồm ba khổ Khổ 1 và khổ 3 đều có
thiên nhiên và con người Riêng khổ 2, trung tâm của bài thơ, (lớn nhất), chỉdành để quan sát, miêu tả con người trong những cử chỉ, dáng điệu, âm thanh(cười, nói) cùng những hoạt động của họ Thi nhân đã vẽ nên một bức tranh đầymàu sắc: trắng, đỏ, hồng, lam, xanh, để rồi cả bài thơ có tới 23 màu sắc khácnhau
Bài thơ là bức tranh rực rỡ màu sắc, đầy rẫy sự sống và rộn rịp những hình sắctươi vui Ta cảm nhận rõ trong đó một hồn quê, một không khí dân tộc đậm đà,lắng đọng Nó thể hiện trước hết ở khung cảnh thiên nhiên chan hoà, từ khisương còn giăng mắc không gian (Tự chém) =.=
Ông Đồ - Vũ Đình Liên
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
«Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay.»
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu
Trang 13Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Nghệ thuật của bài thơ: thể thơ ngũ ngôn ( 5 chữ), hình ảnh chọn lọc, nghệ thuậtnhân hóa, giọng điệu hoài cổ Tuy nhiên đặc sắc nhất vẫn là nghệ thuật kết cấuđầu cuối tương ứng kết hợp phép tương phản: Đầu bài thơ có hình ảnh hoa đào
và ông đồ, cuối bài thơ cũng có hình ảnh hoa đào ( đầu cuối tương ứng), tươngphản ở hình ảnh ông đồ và thái độ của mọi người ( Đầu bài thơ: ông đồ đượckhen ngợi , cuối bài thơ ông đồ bị lãng quên" ông đồ vẫn ngồi đó-Qua đườngkhông ai hay" ) Nghệ thuật này nhằm nhấn mạnh sự suy tàn của một nền vănhóa của dân tộc, thể hiện niềm hoài cổ của tác giả
Câu 13: Xuân Diệu và quan niệm tình yêu độc đáo, mới mẻ
+ Luôn khẳng định tình yêu là đau khổ: “Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết”
+ Tình yêu đích thực: hòa hợp giữa hai yêu tố tinh thần và thể xác
“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm
Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự” - Giục giã
VD: Xa cách: Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực…/hãy dâng cả tình yêu lên
sóng mắt… Anh muốn vào nắm lấy giấc mơ em… /Nhưng em giấu anh những điều rất thật
+ Xuân Diệu không phải là người đầu tiên đưa yếu tố nhục thể vào trong thơtình Tuy vậy yếu tố đó tinh tế, lành mạnh, cường tráng chứ không đồi trụy, thô
tục (Vũ Hoàng Chương: Say đi em): Nên lúc môi ta kề miệng thắm/ Trời ơi ta muốn hút hồn em
+ Xuân Diệu xa lạ với kiểu tình yêu “hương thầm” “Yêu hết một mùa đông/Không một lần dám nói” của Lưu Trọng Lư, hay ngượng ngùng bóng gió
“Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau” của Nguyễn Bính Tự xưng mình là
“kẻ uống tình yêu dập cả môi” mà vẫn “không nguôi nỗi khát thèm”
“Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!” – Tương tư chiều
+ Nâng tình yêu thành triết lí sống: “Làm sao sống đc mà k yêu/ K nhớ k thương 1 kẻ nào”
Trang 14-Theo anh/ chị, quan niệm về tình yêu của giới trẻ ngày nay có gì giống và khác với nhà thơ Xuân Diệu?
Giống
+ Tình yêu đích thực: hòa hợp giữa hai yêu tố tinh thần và thể xác
+ Yêu vội vàng, say mê cuồng nhiệt
Khác:
+ Ty luôn 2 mặt, không hẳn là đau khổ, cũng không hẳn và đẹp trọn vẹn
+ Khao khát được sống và được yêu nhưng là tình yêu lớn lao, cao cả và đầytrách nhiệm
+ Tình yêu lớn dành cho Tổ quốc, quê hương và gia đình
+ Tình trạng yêu thử
Câu 16: Tại sao nói tác phẩm của Thạch Lam giàu chất thơ?
- "Chất thơ": Tính chất trữ tình - tính chất được tạo nên từ sự hoà quyện giữa vẻ
đẹp của cảm xúc, tâm trạng, tình cảm với vẻ đẹp của cách biểu hiện nó để có thểkhơi gợi những rung động thẩm mĩ và tình cảm nhân văn
- Chất thơ trong truyện ngắn: Được tạo nên khi nhà văn chú ý khai thác và biểu
hiện một cách tinh tế cái mạch cảm xúc, tâm trạng, tình cảm của nhân vật hoặccủa chính mình trước thế giới bằng những chi tiết, hình ảnh đầy gợi cảm và mộtlối văn trong sáng, truyền cảm, phù hợp với nhịp điệu riêng của cảm xúc, tâmhồn
- Một truyện ngắn (hoặc tác phẩm văn xuôi) được coi là giàu chất thơ khi mốibận tâm của người viết không đặt vào việc kể lại một biến cố, sự việc, hànhđộng mà là việc làm bật lên một trạng thái của đời sống hoặc của tâm hồn conngười
Chất thơ trong văn Thạch Lam:
- Xuất hiện trên văn đàn cùng thời với rất nhiều nhà văn khác, Thạch Lam mangmột dấu ấn rất riêng Sáng tác của Thạch Lam không chỉ hấp dẫn người đọc bởi
ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà còn bởi giọng điệu thủ thỉ tâm tình, chất thơ bàngbạc trên từng trang văn Mỗi truyện ngắn của ông như một bài thơ về nhữngcuộc đời, những thân phận nhỏ bé, côi cút và bất hạnh, gợi sự thương cảm, xót
xa sâu sắc của tình người Giản dị mà sâu sắc, chứa chan tình nhân ái, ThạchLam hướng người đọc tới sự thanh cao của cái đẹp, cái thiện Ông luôn đi sâuvào khám phá đời sống tâm linh của nhân vật bằng một ngòi bút rất tinh tế, rấthiểu sự đời - đó là những vẻ đẹp lẩn khuất bên trong tâm hồn con người: tìnhthương, sự cảm thông, lòng vị tha giữa người với người, giữa người với vật
- Truyện ngắn TL không nhiều sự kiện, xung đột gay cấn Nhân vật của TL ít cónhững hành động mạnh mẽ mà thích hướng nội, giãy bày Truyện ngắn TLthường không có cốt truyện rõ ràng, kết cấu đơn tuyết, chủ yếu dựa vào dòngcảm xúc nhân vật nên đôi khi man mác như một bài thơ trữ tình
Thạch Lam (1910 – 1942) là nhà văn nổi tiếng thuộc nhóm Tự lực văn đoàn.
"Tuyên ngôn văn học" của Thạch Lam: "Đối với tôi văn chương không phải là
một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương
là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn".
Tác phẩm gồm có: Gió lạnh đầu mùa (1937); Nắng trong vườn (1938); Ngày mới (1939); Theo giòng (1941); Sợi tóc (1942); Hà Nội băm sáu phố phường (1943); Và hai quyển truyện viết cho thiếu nhi:Quyển sách, Hạt ngọc
(1940)