1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC THIẾU NHI

12 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 30,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC THIẾU NHICâu 2 điểm 1.Trình bày những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ của Phạm Hổ a.Tiểu sử - Phạm Hổ 1926-2007 quê ở xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG VĂN HỌC THIẾU NHI

Câu 2 điểm

1.Trình bày những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ của Phạm Hổ

a.Tiểu sử

- Phạm Hổ (1926-2007) quê ở xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho Thuở nhỏ ông đi học ở trường làng Sau đó ông học Tiểu học ở Tam Kì, Huế rồi học trung học ở trường Quốc học Quy Nhơn

- Năm 1955 ông tập kết ra Bắc Ông là một trong những thành viên cùng với

Nguyễn Huy Tưởng, Võ Quảng, Tô Hoài… đã sáng lập ra nhà xuất bản Kim Đồng

b.Sự nghiệp sáng tác

Phạm Hổ là một nhà văn đa tài, ông sáng tác nhiều thể loại người lớn và trẻ

em như thơ, truyện ngắn,truyện vừa, tiểu thuyết… , nhưn nói đến Phạm Hổ trước hét phải nói đến sự đóng góp của ông cho nền văn học thiếu nhi nước nhà Đến nay ông đã in khoảng 20 tập thơ, 9 tập truyện và 4 vở kịch cho trẻ em Những tác phẩm tiêu biểu:

- Thơ: Em tre, Chú bò tìm bạn, Bạn trong vườn, Em thích yêu em, Những người bạn nhỏ, Những người bạn im lặng…

- Truyện : Chuyện hoa chuyện quả; Tình thương; Cất nhà giữa hồ; Lửa vàng, lửa trắng; Bê và sáo; Chú chim sẻ và bông hoa bằng lăng

- Kịch: Nàng tiên nhỏ thành ốc, Tìm gặp lại anh, Người con gái hầu của Mị Châu, Mị Châu và chiếc áo long ngỗng

Phạm Hổ đã được trao nhiều giải thưởng văn học trong đó có giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

2.Trình bày những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ của Võ Quảng

a.Tiểu sử

Trang 2

- Võ Quảng (1920-2007) trong một gia đình nhà nho trung lưu, ở xã Đại Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

- Ngay từ nhỏ Võ Quảng đã kế thừa lòng say mê văn học từ người cha là một nhà nho yêu nước

- Năm 15 tuổi Võ Quảng rời quê ra học ở trường Quốc học Huế Năm 17 tuổi tham gia các phong trào yêu nước

- Năm 1941 Võ Quảng bị bắt tạm giam ở nhà lao Thừa Phủ, sau đó bị quản thúc ở quê nhà

- Sau cách mạng tháng Tám ông được giao làm Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Đà Nẵng rồi được cử làm phó chánh án Tòa án Quân sự miền Nam Việt Nam, sau đó là Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân lien khu V

- Sau 1954 Võ Quảng tập kết ra Bắc Từ đây ông từ chối con đường hoạt động chính trị để đi theo nghề văn

- Võ Quảng là tổng biên tập đầu tiên của nhà xuất bản Kim Đồng

- Năm 2007 ông được Nhà nược trao tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

b.Sự nghiệp sáng tác

- Sáng tác trên ba mảng: thơ, truyện tiểu luận-phê bình

- Những tác phẩm tiêu biểu về thơ:

Gà mái hoa (1957) Anh Đom Đóm (1970)

Thấy cái hoa nở (1962) Măng tre (1971)

Nắng sớm (1965) Én hát và đu quay (in chung-1972)

- Những tác phẩm tiêu biểu về truyện:

Cái Thăng (1961) Quê nội (1973)

Chỗ cây đa làng (1964) Bài học tốt (1975)

Trang 3

Cái mai (1967) Tảng sáng (1976)

Những chiếc áo ấm (1970)

- Những bài viết tiêu biểu về tiểu luận-phê bình:

Chung quanh vấn đề sáng tác văn thơ cho thiếu nhi

Làm thơ cho thiếu nhi

Truyện đông thoại cho thiếu nhi

Thơ cho thiếu nhi

Nói về ngôn ngữ văn học đi vào nhà trường

Một số ý nghĩ chung quanh vấn đề sách viết cho thiếu nhi…

3 Trình bày những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ của Tô Hoài

a.Tiểu sử

- Tô Hoài (1920-2014) trong một gia đình làm nghề thủ công, tên thật là Nguyễn Sen Ông có nhiều bút danh nhưng Tô Hoài được dùng nhiều nhất (đây là tên ghép của hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức)

- Quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), nhưng ông sinh ra và thực sự gắn bó với quê ngoại là làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội)

- Tô Hoài chỉ học hết bậc tiểu học, chủ yếu lăn lộn kiếm sống và học trong trường đời Bược vào tuổi thành niên ông đã phải bươn chải với rất nhiều nghề như: dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn… nhiều khi thất nghiệp, cuộc sống vô cùng vất vả

- Ông tham gia hoạt động cách mạng từ thời kì Mặt trận bình dân, làm thư kí Ban trị sự Hội ái hữu thợ dệt Hà Đông, tham gia Thanh niên phản đế, Hội truyền bá Quốc ngữ

- Năm 1943 ông gia nhập Hội văn hóa cứu quốc, từ đó liên tục tham gia viết báo chí mật, tuyên truyền cách mạng cho tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945

Trang 4

- Sau cách mạng tháng Tám, Tô Hoài lần lượt công tác ở các cơ quan báo chí văn nghệ

- Ông giữ nhiều chức vụ như: Tổng thư kí, Phó Tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam, Giám đốc Nhà xuất bản Hội nhà văn, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam…

b.Sự nghiệp sáng tác cho thiếu nhi

- Thời kì trước cách mạng tháng Tám năm 1945: truyện loài vật (truyện đồng thoại)

Những truyện đồng thoại tiêu biểu: Dế Mèn phiêu lưu kí, Đám cưới chuột,

Võ sĩ Bọ Ngựa, Dê và Lợn, Mụ Ngan…

- Sau cách mạng tháng Tám:

+ Truyện đồng thoại mở rộng đề tài với những tác phẩm: Chim chích lạc rừng, Con mèo lười, Đàn chim gáy, Chú bồ nông ở Sa-mác-can…

+ Ngoài mảng truyện đòng thoại Tô Hoài còn tâm đắc với việc tìm tòi một

số truyện cổ tích để viết lại và ông thành công với bộ 3 tác phẩm: Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần

+ Ngoài ra Tô Hoài còn viết Truyện Trạng Chuối, Cái kiện của lão Trê, Gấu

ăn trăng…

+ Tác giả còn viết những tác phẩm về các anh hùng tuổi thơ như Kim Đồng,

Vừ A Dính, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ…

+ Tác giả còn viết một số kịch: Con mèo lười, Tính tịch tình tang; kịch bản phim: Kim Đồng, Trâu húc…

Ông nhận được nhiều giải thưởng: Giải nhất giải thưởng văn nghệ, giải thưởng Hội Nhà văn Á-Phi, giải thưởng Hồ Chí Minh về văn hóa-nghệ thuật…

4 Trình bày những nét chính trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác ở giai đoạn tuổi thơ của Trần Đăng Khoa

- Trần Đăng Khoa sinh ngày 26 tháng 4 năm 1958 tại thôn Điền Trì, xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình nông dân

Trang 5

- Bố mẹ Trần Đăng Khoa thuộc rất nhiều truyện và thơ ca cổ Anh trai – Trần Nhuận Minh và em gái – Trần Thị Thúy Giang – đều là những người say mê văn học, yêu thơ và thích làm thơ

- Trần Đăng Khoa là một hiện tượng thơ ca được độc giả trong và ngoài nước biết tới Anh có thơ đăng báo từ năm 8 tuổi Thơ anh được dịch in ở nhiều nước trên thế giới như: Pháp, Đức, Bungari… Trong công việc làm thơ, anh có may mắn là được gặp gỡ với nhiều nhà tho, nhà văn nổi tiếng như Xuân Diệu, Tố Hữu, Huy Cận

- Năm 1975, đang học lớp 10, trong đợt tổng động viên khi cuộc kháng chiến chống Mĩ vào giai đoạn cuối cùng, anh tình nguyện vào bộ đội Cậu bé làm thơ đã trở thành anh chiến sĩ Anh từng là người lính tình nguyện tại Campuchia, từng sống cuộc sống người lính tại đảo Trường Sa Trong thời gian này anh sáng tác về cuộc sống của mình và đồng đội

- Cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc anh về học tại trường Sĩ quan Lục quân, rồi học tiếp ở trường viết văn Nguyễn Du khóa II Sau đó, anh được cử đi học tại học viện Văn học thế giới mang tên Gorki Trở về nước, anh làm việc ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, sau chuyển sang Đài Tiếng nói Việt Nam Trần Đăng Khoa được vinh danh nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

5.Trình bày những hiểu biết của mình về phong trào sáng tác thơ của thiếu nhi trong thời kì kháng chiến chống Mĩ

- Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1965-1975) ở miền Bắc xuất hiện nhiều em nhỏ sáng tác thơ như Trần Đăng Khoa, Khánh Chi, Nguyễn Hồng Kiên, Cẩm Thơ…

- Thơ của các em phản ánh công cuộc lao động, học tập, sinh hoạt, vui chơi của các

em trong thời kì kháng chiến chống Mĩ

- Thơ của các em thể hiện tình yêu thương với nhũng người thân trong gia đình, với thầy cô, bạn bè, chú bộ đội và đặc biệt là long kính yêu Bác Hồ

- Thơ của các em không chỉ có những hình ảnh quen thuộc mà còn có cả tiếng súng, những đau thương mất mát, tiếng khóc căm hờn…Thơ của các em là tình

Trang 6

cảm, là trí tuệ của những tâm hồn ngây thơ trong sáng Các em hồn nhiên ngợi ca quê hương, đất nước với tất cả niềm tin vào thắng lợi cuối cùng

6.Hãy nêu bài học triết lí của truyện “Ông lão đánh cá và con cá nhỏ” của Puskin

- Truyện “Ông lão đánh cá và con cá nhỏ” của Puskin đã phê phán sự tham lam, vô

ơn bội nghĩa của con người Lòng tham của mụ vợ ông lão đánh cá là vô độ từ vật chất đến danh vị, từ giàu sang đến quyền lực và sự ứng xử với người chồng càng trở lên xấu xa độc ác Mụ vợ đã lóa mắt trước những gì đã đến với mình mà quên mất ông lão không chỉ là người chồng đã chia sẻ với mụ suốt hơn 30 năm mà còn

là người giúp mụ đạt được mọi tham vọng Cuối cùng từ đỉnh cao danh vọng mụ trở về thân phận nghèo khổ bên túp lều tranh và chiếc máng sứt mẻ Đó là quy luật của cuộc đời

- Kẻ tham lam độc ác như mụ vợ ông lão đánh cá bị trừng phạt không chỉ vì sự bội bạc, tàn nhẫn với chồng mà còn vì sự quay cuồng vô ơn với cá vàng

- Bài học triết lí ấy trở lên sâu sắc hơn dễ đi vào lòng người hơn bởi nghệ thuật kể chuyện của Puskin Tác phẩm vửa mang tính chất truyện kể dân gian vừa mang dấu ấn riêng của nhà thơ Nga tài năng

7.Hãy trình bày nội dung cơ bản của truyện cổ Anđécxen

- Anđécxen hiểu rõ cuộc sống vất vả, cay đắng của người dân lao động, đặc biệt là cảm thông, thương yêu những em bé mồ côi bất hạnh (Ví dụ: Cô bé bán diêm, Mụ

ấy hư hỏng…)

- Ông ca ngợi lòng dũng cảm và khả năng đấu tranh kiên trì của con người chống lại cái xấu, cái ác trong cuộc sống (Ví dụ: Bà chúa tuyết, Nữ thần băng giá…)

- Ông nhìn thấy những phẩm chất tốt đẹp và khả năng tuyệt vời của những người dân lao động Họ là những người tuy nghèo khổ nhưng lại giàu lòng yêu thương và sẵn sàng có thể hy sinh vì tình yêu cao cả (Ví dụ: Nàng tiên cá, Bầy thiên nga, Chim họa mi…)

- Ông cũng lớn tiếng phê phán những thói hư tật xấu của mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là bọn vua quan bất tài, ngu dốt và hợm hĩnh (Ví dụ: Bộ quần áo mới của Hoàng đế…)

Trang 7

Câu 3 điểm

1.Trình bày những nét đặc sắc về phương diện nghệ thuật của thơ Phạm Hổ viết cho thiếu nhi

- Nghệ thuật sử dụng chất liệu dân gian

- Nghệ thuật sử dụng âm thanh, nhịp điệu độc đáo

+ Phạm Hổ thường sử dụng thể thơ hai, ba, bốn, năm chữ Nhịp thơ ông thường ngắn kết hợp với những cách gieo vần ở những tiếng nhất định làm cho thơ giàu nhạc tính, dễ thuộc, dễ nhớ

+ Một đặc sắc khác của thơ Phạm Hổ là ông thường mô phỏng tiếng kêu của

sự vật thật và tạo nghĩa mới cho những âm thanh tự nhiên ấy

- Nghệ thuật sử dụng hình thức đối thoại và những câu hỏi tu từ: Sáng tạo thơ của Phạm Hổ chính là ở hình thức thơ định nghĩa và trích dẫn

2 Trình bày những nét đặc sắc về phương diện nghệ thuật của thơ văn Võ Quảng viết cho thiếu nhi

- Nghệ thuật miêu tả:

+ Nghệ thuật miêu tả loài vật của Võ Quảng rất tinh tế, ông không ham tả nhiều mà chỉ bằng vài chi tiết chọn lọc ông đã khắc họa con vật một cách nổi bật với những đặc điểm bề ngoài dễ nhận thấy

+ Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên của Võ Quảng cũng rất đặ sắc, ông thường phát hiện ra vẻ đẹp thiên nhiên gần gũi mà kì diệu

- Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và nhạc điệu

+ Thơ văn Võ Quảng rất giàu nhạc điệu

+ Hệ thống ngôn ngữ trong thơ văn Võ Quảng thường là những từ thông dụng, giản dị, dễ hiểu nhưng ông lại đặc biệt chú ý sử dụng các biện pháp tu từ để làm cho vốn từ ngữ dó thật sinh động và hấp dẫn

+ Võ Quảng rất sành dùng vần trắc trong thơ

Trang 8

+ Võ Quảng biết khéo léo kết hợp những mảng từ tượng thanh bằng cách dùng hoàn toàn tiếng kêu của loài vật

+ Văn xuôi của Võ Quảng cũng rất giàu nhạc điệu

- Nghệ thuật sử dụng những chi tiết hài hước, dí dỏm

3.Trình bày những nét đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài

- “Dế Mèn phiêu lưu kí” bộc lộ một khả năng quan sát, miêu tả tinh tế, dí dỏm và tài hoa của tác giả

+ Tác phẩm mang đến cho bạn đọc những trang kì thú về cuộc sống và những thuộc tính cơ bản của thế giới côn trùng, loài vật

+ Những trang miêu tả thiên nhiên thể hiện một tâm hồn hết sức nhạy cảm

và tinh tế của tác giả đã đem đến cho người đọc cảm giác khoan khoái, dễ chịu

- Hệ thống ngôn ngữ giàu có và sáng tạo độc đáo

+ “Dế Mèn phiêu lưu kí” thể hiện khả năng sáng tạo ngôn ngữ của Tô Hoài

 Tô Hoài đã lựa chọn những từ ngữ phù hợp để đặc tả các nhân vật

 Nhà văn đưa lời ăn tiếng nói hàng ngày vào trong tác phẩm + Giọng điệu luôn thay đổi: có lúc duyên dáng, hóm hỉnh, có khi châm biếm hoặc nhạo báng sâu cay…

- Tác phẩm có kết cấu chương hồi với trình tự diễn ra theo thời gian Mỗi chương thu gọn một sự kiện, như một câu chuyện làm bạn đọc nhỏ tuổi dễ theo dõi, dễ nhớ

4.Khi viết “Chuyện hoa chuyện quả” Phạm Hổ hướng tới điều gì?

- Giới thiệu sự phong phú kì diệu của thiên nhiên giúp trẻ nhận thức được những đặc điểm cơ bản (tên gọi, màu sắc, tính chất, tác dụng ) và công dụng của mỗi loài cây hoa quả

Trang 9

- Qua mỗi câu chuyện Phạm Hổ đã gián tiếp ca ngợi những tình cảm và phẩm chất cao đẹp của con người Mỗi khi cái thiện chiến thắng cái ác, sự trung thực chiến thắng sự giả dối… lại xuất hiện một loại cây, loại quả từ đó các em biết yêu và trân trọng thiên nhiên hơn

- Chuyện hoa chuyện quả thể hiện triết lí riêng của Phạm Hổ: hoa quả, cây trái có nguồn gốc từ chính cuộc sống của con người, là kết tinh của vẻ đẹp trong đời sống tình cảm con người (Lấy một tác phẩm dẫn chứng)

5.Tại sao nói Trần Đăng Khoa là nhà thơ của nông thôn Việt Nam?

- Đối tượng nổi bật trong thơ Trần Đăng Khoa là nông thôn Việt Nam Bằng sự quan sát tinh tế, tâm hồn nhạy cảm Khoa đã phát hiện và miêu tả vẻ đẹp hấp dẫn mới lạ trong những hình ảnh quen thuộc, bình dị của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ Hình ảnh nông thôn trong thơ anh được thể hiện ở cảnh vật thiên nhiên nông thôn

và hình ảnh người nông dân

- Thiên nhiên nông thôn: anh đã đưa vào trong thơ những hình ảnh hết sức quen thuộc ở làng quê (góc sân, mảnh vườn, cánh đồng, dòng sông…), anh đã nhìn, đã cảm nhận về cảnh vật ấy bằng con mắt trẻ thơ non tươi yêu đời Khoa đã thổi vào thiên nhiên vẻ đẹp hồn nhiên, tinh nghịch của tâm hồn một cậu bé đã lớn lên từ những trò chăn trâu, thả diều, bắt cá (Dẫn chứng)

- Hình ảnh người nông dân: anh nhắc tới họ với tất cả lòng biết ơn, kính trọng và cảm thông sâu sắc về nỗi nhọc nhằn vất vả và sự lam lĩ của người nông dân trong quá trình vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt và bom đạn tàn khốc của kẻ thù

6.Trình bày những hiểu biết của anh chị về chuyện ngụ ngôn của Laphôngten.

Kể tên những truyện ngụ ngôn của Laphôngten trong chương trình tiểu học

- Ngụ ngôn là tác phẩm xuất sắc của Laphôngten gồm 12 quyển (238 bài) được sáng tác từ 1668 đến 1694 Truyện ngụ ngôn của ông được lấy từ ngụ ngôn của Hy Lạp, La Mã cổ đại, vè phương Đông Ngụ ngôn của Laphôngten có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự Phần lớn được xây dựng một vở kịch nhỏ có kịch tính Tác giả đã vận dụng các thể thơ khác nhau tạo nên sự sinh động, đa dạng cảu ngụ ngôn Thơ ngụ ngôn của Laphôngten bên cạnh phần chuyện

kể còn có phần ý nghĩa, bài học cần rút ra

Trang 10

- Nội dung truyện ngụ ngôn của Laphôngten:

+ Phê phán thói kiêu căng, phỉnh nịnh, giả dối, ăn bám của bọn quý tộc qua hình ảnh “Vua sư tử”; thói hợm hĩnh, háo danh của bọn tư sản qua “Ếch muốn to bằng bò”

+ Đối với nhân dân lao động: Laphôngten muốn bày tỏ sự yêu thương, quý mến đồng thời coi trọng công việc lao động, cảm thông chia sẻ với những nỗi vất

vả của họ qua: “Lão nông và các con”, “Thần chết và bác tiều phu”, “Cô hàng sữa

và bình sữa”

+ Ngụ ngôn của Laphôngten tự nhiên, tinh tế, triết lí nhẹ nhàng dễ đi vào lòng người và có ý nghĩa giáo dục sâu sắc Qua các câu chuyện về loài vật

Laphôngten đã bóc trần cái xấu xa độc ác của kẻ thống trị đồng thời phê phán thói

hư tật xấu của con người nói chung Với ngụ ngôn Laphôngten không chỉ tạo nên chân dung cuộc sống mà còn vẽ lên bức tranh thiên nhiên rộng lớn với tất cả cảnh sắc của nó góp phần tạo nên sắc thái riêng của thơ ngụ ngôn Laphôngten trong dòng văn học chủ nghĩa cổ điển

* Một số truyện ngụ ngôn của Laphôngten trong chương trình tiểu học:

Con quạ thông minh

Bác sĩ sói

7.Trong truyện Bà chúa tuyết của Anđécxen, chi tiết giọt nước mắt của

Giéc-đa được trở đi trở lại rất nhiều lần Chi tiết đó có ý nghĩa gì?

- Trong 7 câu chuyện nhỏ đã có tới 5 lần xuất hiện giọt nược mắt của Giécđa Đó là những giọt nước mắt tràn đầy yêu thương, là hiện thân của lòng tốt và sự cảm thông bè bạn

- Chính tình yêu thương bè bạn đã cho Giécđa niềm tin và nghị lực để em có đủ sức mạnh đi tìm Kay và cứu Kay thoát khỏi sự tàn phá của mảnh gương

- Đặc biệt là giọt nước mắt trong lần khóc cuối cùng của Giécđa đã quyết định vận mệnh của Kay Những giọt nước mắt nóng hổi của Giécđa rơi trên ngực Kay, thấm vào tim Kay mới làm cho trái tim băng giá của Kay nóng ấm trở lại và không còn chỗ trú cho mảnh gương ác độc Nước mắt của Giécđa đã kéo theo nước mắt của

Ngày đăng: 12/05/2018, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w