Căn cứ pháp lý: Điểm a khoản 2 Điều 337, khoản 3 Điều 343 và Điều 345 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 CÂU HỎI THẢO LUẬN 1.1 Những điểm giống và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dâ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN THỨ NHẤT: CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT
DÂN SỰ MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên
LỚP: QT46B1 - NHÓM 4
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN THỨ NHẤT: CHỦ THỂ CỦA PHÁP LUẬT
DÂN SỰ MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI
SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên
LỚP: QT46B1 - NHÓM 4
Trang 3NỘI DUNG THẢO LUẬN
Học viên, sinh viên tập trung thảo luận vấn đề sau:
I VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CÁ NHÂN
TÓM TẮT BẢN ÁN
Quyết định số 52/2020/DS-GĐT ngày 11/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao
Nguyên đơn: Ông Lê Văn Tiếu
Bị đơn: Ông Lê Văn Chỉnh
Ông Lê Văn Tiếu khởi kiện ông Lê Văn Chỉnh về việc phân chia tài sản thừa kế và chia tài sản thuộc sở hữu chung Tài sản có được từ thời các cụ cố và khi mất họ không để lại di chúc Ông Chảng là một trong những người có quyền và nghĩa vụ liên quan chủ yếu, tuy nhiên ông không đủ năng lực hành vi lập di chúc và tỉ lệ mất khả năng lao động là 91% Ông Lê Văn Chảng có người vợ hợp pháp là bà Nguyễn Thị Chung và một người vợ không hợp pháp - người này tự cho mình là người giám hộ của ông Chảng Bà Chung không được tòa xác định là người đại diện hợp pháp nên không có quyền kháng cáo mặc dù là người vợ hợp pháp Tòa quyết định bỏ Bản án sơ thẩm và phúc thẩm trước đó và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Hà Nội tiếp tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật
Căn cứ pháp lý:
Điểm a khoản 2 Điều 337, khoản 3 Điều 343 và Điều 345 của Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1.1 Những điểm giống và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự
Giống nhau:
+ Việc ra quyết định một người bị mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực hành vi dân sự đều là của tòa án khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
+ Giao dịch dân sự của người bị mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực hành vi dân sự do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
+ Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực hành vi dân sự
Khác nhau:
Trang 4Cơ sở Mất năng lực hành vi dân
sự
Hạn chế năng lực hành vi
dân sự Căn cứ pháp lý Điều 22 Bộ luật Dân sự
2015
Điều 24 Bộ luật Dân sự
2015
Đối tượng Người bị bệnh tâm thần
hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ hành vi
Người nghiện ma túy , nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tài sản của gia đình
Cơ sở đưa ra quyết định
của Tòa án
-Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
-Dựa trên cơ sở kết luận giám định pháp ý tâm thần
Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
Người đại diện
- Người đại diện có thể được chỉ định hoặc đương nhiên trở thành người đại diện theo quy định của pháp luật
- Người đại diện được gọi
là người giám hộ
Do Tòa án chỉ định
Thực hiện giao dịch dân
sự
Tất cả giao dịch dân sự đều
do chính người đại diện xác lập, thực hiện
Việc xác lập thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày
Trang 51.2 Những điểm khác nhau cơ bản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
và người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Cơ sở Người có khó khăn trong nhận
thức làm chủ hành vi
Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Căn cứ
pháp lý
Đối tượng Người thành niên do tình trạng thể
chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự
Người nghiện ma túy, người nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
Người đại
diện
Người giám hộ do Tòa án chỉ định Người đại diện do tòa án chỉ
định theo pháp luật
Thời điểm
xác định
thuộc đối
tương:
Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố Khi Tòa án ra quyết định
Trường hợp
chấm dứt
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Khi không còn căn cứ để tuyên
bố một người bị hạn chế hành vi năng lực dân sự thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành
vi dân sự
Trang 61.3 Trong quyết định trên, Toà án nhân dân tối cao đã xác định năng lực hành vi dân sự của ông Chảng như thế nào?
Dựa trên cơ sở của tổ chức giám định của Hội đồng giám định y khoa Trung ương -
Bộ Y tế xác định ông Chảng “ Không tự đi lại được, tiếp xúc khó, thất vận ngôn nặng, liệt hoàn toàn 1/2 người phải Rối loạn cơ tròn kiểu trung ương, tai biến mạch máu não lần 2 Tâm thần: Sa sút trí tuệ Hiện tại, không đủ năng lực thực hành vi lập
di chúc Được xác định tỷ lệ mất khả năng lao động do bệnh tật là 91% …” Việc ông Chảng mắc bệnh (tai biên mạch máu não, …) chứng minh ông có đủ điều kiện
về nội dung (Điều 22 Bộ luật Dân sự 2005) Khoản 3 Điều 319 Bộ luật Tố tụng Dân
sự cũng đề cập đến việc “phải có kết luận của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác để chứng minh người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình”, (ở đây là “Biên bản giám định khả năng lao động”) Vậy nên, ông Chảng đã đáp ứng đủ hai nhóm điều kiện để Tòa án tuyên bố ông mất năng lực hành vi dân sự, đó là điều kiện về nội dung và điều kiện
về tố tụng Với cơ sở trên, Tòa án cho rằng ông Chảng là người mất năng lực hành
vi dân sự
1.4 Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên có thuyết phục không?
Vì sao?
Hướng của Tòa án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên là thuyết phục vì dựa trên thông tin giám định của Hội đồng giám định y khoa Trung ương - Bộ Y tế xác định ông Chảng “ Không tự đi lại được, tiếp xúc khó, thất vận ngôn nặng, liệt hoàn toàn 1/2 người phải Rối loạn cơ tròn kiểu trung ương, tai biến mạch máu não lần 2 Tâm thần: Sa sút trí tuệ Hiện tại, không đủ năng lực thực hành vi lập di chúc Được xác định tỷ lệ mất khả năng lao động do bệnh tật là 91% ” thì Tòa án nhân dân tối cao
đã xác định hành vi dân sự ông Chảng là mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự
“Giấy chứng nhận kêt hôn – Đăng ký lại” ngày 15/10/2001 giữa bà Bích và ông Chảng là không đúng thực tế và không có việc đăng ký kết hôn giữa bà Bích và ông Chảng do đó việc bà Bích là người giám hộ của ông Chảng là không đúng theo quy định tại khoản 1, Điều 22, Điều 58, Điều 62 BLDS 2005
1.5 Theo Toà án nhân dân tối cao, ai không thể là người giám hộ và ai mới có thể
là người giám hộ của ông Chảng? Hướng của Toà án nhân dân tối cao như vậy có thuyết phục không, vì sao?
Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Bích là vợ hợp pháp của ông Chảng, từ đó bà Bích làm người giám hộ cho ông Chảng Bà Chung, người có đầy đủ các điều kiện nhưng không được Tòa án công nhận là người giám hộ cho ông Chảng Trong hồ sơ vụ án thể hiện bà Chung chung sống với ông Chảng từ năm 1975, có tổ chức đám cưới và
có con chung Do đó, có căn cứ xác định bà Chung và ông Chảng chung sống với
Trang 7nhau như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987, trường hợp này bà Chung và ông Chảng được công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điểm a Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình Vì vậy bà Chung mới là người giám hộ hợp pháp của ông Chảng
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao như vậy là hợp lý vì bà Chung là vợ hợp pháp của ông Chảng, chung sống cùng gia đình ông Chảng tại nhà đất tranh chấp từ năm 1975 đến năm 1994 Ông Chỉnh cũng xác nhận bà Chung và ông
Chảng có chung sống với nhau, bà Chung thực hiện tốt bổn phận làm dâu, làm vợ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại không công nhận bà Chung là người giám hộ của ông Chảng Trong khi đó bà Bích không phải là vợ hợp pháp của ông Chảng vì thủ tục đăng ký kết hôn có sai phạm nhưng lại được Tòa án cấp sơ thẩm công nhận là vợ của ông Chảng, dẫn đến việc bà Bích trở thành người giám hộ của ông Từ đó một
số quyền và lợi ích hợp pháp của ông Chảng không được pháp luật bảo vệ Căn cứ theo Khoản 1 Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015, bà Chung là người giám hộ đương
nhiên của ông Chảng
1.6 Cho biết các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với tài sản của người được giám hộ (nêu rõ cơ sở pháp lý)
Điều 55, 56, 57, 58 BLDS 2015
“1 Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự
có các quyền sau đây:
a Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ; b
b Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
c Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
2 Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều này.”
Điều 55 BLDS 2015: Nghĩa vụ của người giám hộ với người được giám hộ chưa đủ 15 tuổi
“1 Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ
Trang 82 Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
3 Quản lý tài sản của người được giám hộ
4 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”
Điều 56 BLDS 2015: Nghĩa vụ của người giám hộ với người được giám hộ từ
đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi
“1 Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự
2 Quản lý tài sản của người được giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
3 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”
Điều 57 BLDS 2015: Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi
“1 Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:
a Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;
b Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
c Quản lý tài sản của người được giám hộ;
d Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ
2 Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.”
1.7 Theo quy định và Toà án nhân dân tối cao trong vụ án trên, người giám hộ của ông Chảng có được tham gia vào việc chia di sản thừa kế (mà ông Chảng được hưởng) không? Vì sao? Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Toà án nhân dân tối cao về vấn đề vừa nêu
- Vì bà Chung và ông Chảng chung sống với nhau như vợ chồng từ trước được công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điểm a mục 3 Nghị quyết số
35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình, bà chung cũng làm tốt bổn phận làm dâu, làm vợ, bà Chung có công sức đóng góp vào việc trong việc trông nom, bảo quản nhà đất, vì vậy bà Chung là người giám
hộ hợp pháp
- Theo Điều 58 của Bộ luật Dân sự 2015 có quy định đại diện cho người giám hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
người được giám hộ
Hướng giải quyết của tòa:
Trang 9- Đã điều tra kỹ càng, chính xác hơn để nhận rõ được lỗi sai trong Tòa án cấp sơ thẩm về việc xác nhận vợ hợp pháp của ông Chảng là bà Bích, và sau đã xác nhận
bà Chung là hợp pháp
- Nhận ra hậu quả của việc xác nhận người giám hộ hợp pháp của ông Chảng, đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông Chảng trong vụ án chia tài sản chung và chia thừa kế
- Hủy bản án dân sự phúc thẩm 07/2009/DSPT ngày 14/01/2009 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao Hà Nội
Tòa đã có hướng giải quyết chính xác hơn, có trách nhiệm trong việc điều tra xét xử
II VẤN ĐỀ 2: TƯ CÁCH PHÁP NHÂN VÀ HỆ QUẢ PHÁP LÝ
TÓM TẮT BẢN ÁN
Bản án số 1117/2012/LĐ - PT ngày 11/09/2012 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh
Nguyên đơn: ông Nguyễn Ngọc Hùng
Bị đơn: cơ quan đại diện bộ Tài nguyên và Môi trường TPHCM
Ông Hùng là nhân viên của cơ quan đại diện bộ Tài nguyên và Môi trường Trong lúc làm việc thì tại cơ quan bị mất 2 chiếc xe gắn máy Cơ quan đại diện bộ Tài nguyên và Môi trường yêu cầu bồi thường và chấm dứt hợp đồng lao động với ông Hùng nhưng ông không đồng ý nên khởi kiện
Bản án Lao động sơ thẩm số 32/2012/LĐST ngày 9/7/2012 của Tòa án nhân dân quận 1 đã chấp nhận yêu cầu của ông Hùng
Tại phiên Tòa phúc thẩm: ông Hùng chấp nhận đơn kiện vì sai bị đơn, cơ quan đại diện bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ là đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường chứ không có tư cách pháp nhân
Căn cứ pháp lý:
Điều 92 Bộ luật Dân sự 2005
Điều 74 Bộ luật dân sự 2015
Điều 84 Bộ luật Dân sự 2015
Tình huống
Công ty Bắc Sơn quyết định thành lập Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh Trong quy chế hoạt động của chi nhánh, Công ty có quy định Chi nhánh có chức năng sản xuất phụ tùng ô tô, xe máy; lắp ráp xe máy mới, sửa chữa và phục chế xe máy cũ; đại lý mua bán ký gửi hàng hóa Ngoài ra, quy chế còn quy định “chi nhánh là một
tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập” Chi nhánh này ký hợp đồng kinh tế với Công ty Nam Hà 6.000 xe máy với tổng giá trị là
Trang 1038.100.000.000 đ Khi có tranh chấp, Công ty Bắc Sơn đã phủ nhận trách nhiệm với hợp đồng trên với lý do Chi nhánh mới thành lập này có tư cách pháp nhân
CÂU HỎI THẢO LUẬN
2.1 Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân (nêu rõ từng điều kiện)
Các điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân theo khoản 1 Điều 74 Bộ luật dân sự 2015
+ Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan: các điều kiện, thủ tục thành lập phải theo quy định của Bộ luật dân sự, các luật khác có liên quan chứ không phải văn bản dưới luật Quy định này cụ thể, minh bạch và phù hợp với xu thế đơn giản hóa thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thành lập các doanh nghiệp phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này:
Có cơ quan điều hành
Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân
Cơ quan điều hành xác lập, thực hiện các giao dịch và chịu trách nhiệm trước pháp nhân
+ Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình: pháp nhân muốn tồn tại, hoạt động phải có tài sản để xây dựng trụ sở làm việc, mua các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động, trả lương cho nhân viên, thanh toán các giao dịch Tài sản này phải độc lập với các thành viên, tổ chức đã sáng lập
và pháp nhân cũng chỉ được chịu trách nhiệm bằng cái tài sản này trong các giao dịch
+ Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập: không được nhân danh cơ quan, cá nhân đã thành lập mà phải tự nhân danh pháp nhân đó khi tham gia các quan hệ dân sự
2.2 Trong Bản án số 1117, theo Bộ tài nguyên và môi trường, Cơ quan đại diện của
Bộ tài nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân không? Đoạn nào của Bản án có câu trả lời
+ Theo bản án 1117 theo Bộ tài nguyên và môi trường, cơ quan đại diện của Bộ tài
nguyên và môi trường có tư cách pháp nhân nhưng là tư cách pháp nhân không đầy
đủ
+ Câu trả lời trong văn bản từ câu: “Cơ quan đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường
thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đại diện hạch toán báo sổ khi thực hiện dự toán, quyết toán phải theo phân cấp của
Bộ, phụ thuộc theo sự phân bổ ngân sách của Nhà nước và phân cấp của Bộ Tài