1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thảo luận luật dân sự buổi 2 ĐH Luật TP.HCM

22 69 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 883,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

9 2.2 Giao dịch của ông Hội với vợ là bà Hương được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?. 20 4.9 Trong Bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN THỨ HAI: GIAO DỊCH DÂN SỰ

MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI

SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên

LỚP: QT46B1 - NHÓM 4 – BUỔI 2

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 3 năm 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

BÀI THẢO LUẬN THỨ HAI: GIAO DỊCH DÂN SỰ

MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI

SẢN VÀ THỪA KẾ GIẢNG VIÊN: T.S Đặng Nguyễn Phương Uyên

LỚP: QT46B1 - NHÓM 4 – BUỔI 2

2 Nguyễn Trương Quang Nhật 2153801015182

Trang 3

B CÂU HỎI THẢO LUẬN: 6

1.1 So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên 6 1.2 Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam? 7 1.3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ

đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu? 7

II VẤN ĐỀ 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC 8

A TÓM TẮT BẢN ÁN: 8

Quyết định số 329/2013/DS-GĐT ngày 25/7/2013 của Tòa dân sự Tòa án nhân

dân tối cao 8

B CÂU HỎI THẢO LUẬN: 9

2.1 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự? 9 2.2 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự? 9 2.3 Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không?

Vì sao? Trên cơ sở quy định nào? 9 2.4 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không

và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết……… 9 2.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong

vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp lý khi đưa ra hướng xử lý 10

Trang 4

2.6 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó có

bị vô hiệu không? Vì sao? 10 III.VẤN ĐỀ 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI 11

A TÓM TẮT BẢN ÁN: 11

Quyết định số 521/2010/DS-GĐT ngày 19/8/2010 của Tòa dân sự Tòa án nhân

dân tối cao 11

Quyết định số 210/2013/DS-GDDT ngày 21/5/2013 của Tòa dân sự Tòa án

nhân dân tối cao……….13

B CÂU HỎI THẢO LUẬN: 12

3.1 Điều kiện để tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu do có lừa dối theo BLDS

2005 và BLDS 2015 12 3.2 Đoạn nào của Quyết định số 521 cho thấy thỏa thuận hoán nhượng đã bị tuyên

vô hiệu do có lừa dối? 12 3.3 Hướng giải quyết trên đã có tiền lệ chưa? Nếu có tiền lệ, nêu vắn tắt tiền lệ anh/chị biết 13 3.4 Hướng giải quyết trên có còn phù hợp với BLDS năm 2015 không? Vì sao?

14

3.5 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, ai được yêu cầu và ai không được yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng có tranh chấp vô hiệu? 14 3.6 Trong Quyết định số 210, theo Tòa án, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối có còn không? Vì sao? 15 3.7 Trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do lừa dối, Tòa án có công nhận hợp đồng không? Vì sao? 15 3.8 Câu trả lời cho các câu hỏi trên có khác không nếu áp dụng các quy định tương ứng của BLDS 2015 vào tình tiết như trong Quyết định số 210? 15 IV.VẤN ĐỀ 4: HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU 16

A TÓM TẮT BẢN ÁN: 16

Quyết định số 26/2013/KDTM-GĐT ngày 13-8-2013 của Hội đồng thẩm phán

Tòa án nhân dân tối cao 16

Quyết định số 75/2012/DS-GDDT ngày 23/02/2012 của Tòa dân sự Tòa án

nhân dân tối cao 16

Trang 5

Bản án số 133/2017/DSPT ngày 15/5/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại

Hà Nội 17

B CÂU HỎI THẢO LUẬN: 18

4.1 Giao dịch dân sự vô hiệu có làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 18 4.2 Trên cơ sở BLDS, khi xác định Hợp đồng dịch vụ vô hiệu thì Công ty Phú Mỹ

có phải thanh toán cho Công ty Orange phần giá trị tương ứng với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện không? Vì sao? 18 4.3 Hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán về với khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện như thế nào? 18 4.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán liên quan tới khối lượng công việc mà Công ty Orange đã thực hiện khi xác định hợp đồng vô hiệu 19 4.5 Hướng xử lý của Hội đồng thẩm phán đối với khối lượng công việc mà Công

ty Orange đã thực hiện như thế nào khi xác định hợp đồng dịch vụ không vô hiệu? Nội dung xử lý khác với trường hợp xác định hợp đồng dịch vụ vô hiệu như thế nào? Suy nghĩ của anh/chị về chủ đề này như thế nào? 19 4.6 Trong Quyết định số 75, vì sao Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu? 20 4.7 Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao xác định hợp đồng vô hiệu trong Quyết định trên 20 4.8 Với thông tin trong Quyết định số 75 và pháp luật hiện hành, ông Sanh sẽ được bồi thường thiệt hại bao nhiêu? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 20 4.9 Trong Bản án số 133, Tòa án quyết định hủy giấy chứng nhận giấy chứng nhận cấp cho anh Đậu và ghi nhận cho ông Văn, bà Tằm quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có là hệ quả của giao dịch dân sự vô hiệu không? Vì sao? 21

Trang 6

NỘI DUNG THẢO LUẬN

Học sinh, sinh viên tập trung thảo luận vấn đề sau:

I.VẤN ĐỀ 1: NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CHỦ THỂ TRONG XÁC LẬP GIAO DỊCH

 Bị đơn: Bà L K Đ, sinh năm 1950, vắng mặt

Nguyên đơn là ông T và bà Ph khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Đ, giao trả toàn bộ tài sản cho nguyên đơn tổng giá trị khoảng 500.000.000 đồng Phía nguyên đơn có mua phần đất của bị đơn 2 lần vào ngày 31/05/2004 và ngày 02/06/2004 đồng thời bị đơn cam kết chỉ đứng tên giùm, khi nào nguyên đơn về nước sẽ trả nhà và đất tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận định giấy cho nền thổ cư ngày 31/05/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/06/2004 và giấy cam kết ngày 16/03/2011 không tuân thủ theo quy định pháp luật Nguyên đơn không thuộc trường hợp người Việt Nam định cư

ở nước ngoài được quyền sử dụng đất

Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn vô hiệu các loại giấy tờ nêu trên do vi phạm điều cấm buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn là 350.000.000 đồng

B CÂU HỎI THẢO LUẬN:

1.1 So với BLDS năm 2005, BLDS 2015 có gì khác về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự? Suy nghĩ của anh/chị về sự thay đổi trên

Tại Điểm a Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 về điều kiện liên quan đến chủ thể thì:

“Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập có nghĩa là chủ thể tham gia giao dịch dân sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân” Trong khi đó tại Điểm a Khoản 1 Điều 122 bộ luật dân sự

2005 thì điều kiện là: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; tức là chủ thể là cá nhân” Theo em đây là sự thay đổi đúng đắn toàn diện với việc mở rộng về chủ thể tham gia giao dịch dân sự đã phù hợp với thực tiễn đời sống vì trong thực tiễn đời sống cố một số giao dịch dân sự có pháp nhân là chủ thể tham gia giao dịch dân sự

Trong BLDS 2005, chủ thể chỉ cần có năng lực hành vi dân sự thì đã xác lập được giao dịch, nhưng BLDS 2015 quy định thêm “năng lực hành vi dân sự này phải phù

Trang 7

hợp với giao dịch dân sự đã xác lập” Trên thực tế, có rất nhiều loại giao dịch dân

sự khác nhau và mỗi giao dịch cụ thể lại liên quan đến năng lực hành vi dân sự cụ thể của chủ thể Pháp luật quy định, người không có năng lực hành vi dân sự thì không được xác lập giao dịch dân sự, người có năng lực hành vi dân sự nhưng không đầy đủ có thể thực hiện một số giao dịch nhất định, người có năng lực hành vi dân

sự xác lập mọi giao dịch dân sự Tóm lại, tùy vào giao dịch dân sự cụ thể mà điều kiện của chủ thể cũng khác nhau

Điểm b Khoản 1 Điều 122 BLDS năm 2005 quy định: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” Còn Điểm c Khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 quy định: “Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” Ta thấy,

từ “pháp luật” trong Điều 122 BLDS 2005 đã được đổi thành từ “luật” trong Điều

117 BLDS 2015 Việc thay đổi này nhằm hạn hẹp điều cấm mà cá nhân có thể mắc phải

1.2 Đoạn nào của bản án trên cho thấy ông T và bà H không có quyền sở hữu nhà

ở tại Việt Nam?

Ông Ph J T và bà L Th H là người Việt Nam ở nước ngoài đã nhập quốc tịch Mỹ thì theo quy định của Luật đất đai 2003 và Điều 121 của Luật nhà ở 2005 thì người VN định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở VN khi thỏa mãn các điều kiện sau:

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Ủy ban thường

vụ Quốc Hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam” “Người Việt Nam định cư

ở nước ngoài không thuộc diện quy định này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” do

đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại VN

1.3 Đoạn nào của bản án trên cho thấy giao dịch của ông T và bà H với bà Đ đã bị Tòa án tuyên bố vô hiệu?

Đoạn của Bản án số 32/2018/DS-ST cho thấy giao dịch của ông T và bà H với Đ đã

bị Tòa tuyên bố vô hiệu:

“…do đó ông T và bà H không được sở hữu quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm tại Việt Nam, vì vậy các giao dịch cho nền thổ cư ngày 31/05/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/06/2004 và giấy cam kết ngày 16/03/2011 bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 117, Điều 123, Điều 129 của BLDS và căn cứ theo

Trang 8

Điều 131 của BLDS thì các đương sự phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả những gì đã nhận”

Trong phần quyết định của Bản án:

“Vô hiệu giấy nền thổ cư ngày 31/05/2004, giấy nhường đất thổ cư ngày 02/6/2004

và giấy cam kết ngày 16/3/2011 mà các bên đã xác lpa65 do vi phạm điều cấm của pháp luật

Buộc bà L Đ K hoàn trả cho ông J Ph (Ph J T) và bà A Th Ph (L Th H) số tiền là 350.000.000đ

1.4 Suy nghĩ của anh/chị (trong mối quan hệ với năng lực pháp luật của chủ thể)

về căn cứ để Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu?

Năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi Ông T, bà H là người nước ngoài nên năng lực pháp luật sẽ khác so với bà Đồng (công dân Việt Nam) Với Điều 5 Luật đất đai 2013 có thể thấy: người nước ngoài không có quyền

sở hữu về nhà ở nên không được phép mua bán ở tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại Điều 125 Luật nhà ở 2014

Vào ngày 31/5/2004 vợ chồng nguyên đơn mua nền thổ cư 200m2 với giá là 60.000.000đ Tuy nhiên việc mua bán này không có giấy giao tiền, còn chữ viết trong tờ xác nhận không rõ là ai ghi, còn chữ ký là của bị đơn Điều này dẫn đến việc giao dịch bằng giấy tờ không được rõ ràng, minh bạch, gây khó khăn trong việc xác định ai là người chịu trách nhiệm khi có vấ đề xảy ra

Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao gồm giấy cho nền thổ cư, giấy nhường đất thổ cư được lập ra giữa hai bên, nên xét về hình thức không tuân thủ theo quy định của pháp luật Cụ thể, các loại giấy tờ nêu trên không được công chứng, chứng thực theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 127 của Luật đất đai năm 2003 Như vậy hợp đồng giao kết của hai bên không phát sinh hiệu lực

Vì vậy, Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu là thuyết phục

II.VẤN ĐỀ 2: GIAO DỊCH XÁC LẬP BỞI NGƯỜI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG NHẬN THỨC

Trang 9

Toàn Tài sản của 2 ông bà có tạo lập được 1 ngôi nhà gắn với quyền sử dụng đất 167,3m2 Năm 2007 ông Hội bị tai biến nằm một chỗ không nhận thức được Ngày 08/02/2010 bà Hương tự ý bán căn nhà và diện tích đất trên cho vợ chồng ông Hùng với gián 580 triệu mà không hỏi ý kiến các con Ngày 09/02/2020 cán bộ địa chính đến nhà làm việc và bảo ông Hội điểm chỉ vào hợp đồng mua bán nhà Ngày 12/02/2020 UBND phường 1 mời chị đến hòa giải nhưng khi chị đến nơi đã hòa giải xong và nội dung chỉ thể hiện cha chị tự nguyện chỉ điểm vào hợp động Ngày 10/08/2020 tòa án tuyên bố ông Hội mất năng lực hành vi dân sự và ngày 29/10/2020 thì ông chết Nay chị yêu cầu hủy giao dịch dân sự giữa ông Hội, bà Hương và ông Hùng vì cho rằng ông Hội không nhận thức được, từ đó xảy ra tranh chấp

B CÂU HỎI THẢO LUẬN:

2.1 Từ thời điểm nào ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức và từ thời điểm nào ông Hội bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự?

Thời điểm ông Hội thực chất không còn khả năng nhận thức là vào năm 2007 khi ông bị tai biến nằm một chỗ không nhận thức được

Vào ngày 07/5/2010, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa quyết định tuyên bố ông Hội bị mất năng lực hành vi dân sự

2.2 Giao dịch của ông Hội (với vợ là bà Hương) được xác lập trước hay sau khi ông Hội bị tuyên mất năng lực hành vi dân sự?

Giao dịch của ông Hội diễn ra vào ngày 08/2/2010 Do đó giao dịch này được xác lập trước khi ông được Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa ra quyết định rằng ông

bị mất năng lực hành vi dân sự (07/5/2010)

2.3 Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giao dịch của ông Hội có vô hiệu không?

Vì sao? Trên cơ sở quy định nào?

Từ năm 2007 ông Hội bị tai biến nằm liệt giường, không còn khả năng nhận thức

Do đó việc ông Hội điểm chỉ tay để ký kết hợp đồng chuyển nhượng đất có tính chất không tự nguyện dẫn đến vi phạm Điểm b Khoản 1 Điều 117 và Điều 122 BLDS 2015 Vì vậy phần giao dịch của ông Hội không có hiệu lực

Điều 128 BLDS 2015 cũng quy định: "Người có năng lực hành vi dân sự nhưng

đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành

vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu”,

nên giao dịch của ông Hội và vợ có phần bị vô hiệu

2.4 Trong thực tiễn xét xử, có vụ việc nào giống hoàn cảnh của ông Hội không và Tòa án đã giải quyết theo hướng nào? Cho biết tóm tắt vụ việc mà anh/chị biết

Trong thực tiễn xét xử có vụ việc giống hoàn cảnh của ông Hội Đó là bản án 941/2006/DSST ngày 01/09/2006 của Tòa án nhân dân thành phố HCM Ngày

Trang 10

19/09/2003 ông Tình đến phòng công chứng kí hợp đồng tặng một căn nhà cho bà Nga, tại bản án dân sự sơ thẩm 40 ngày 17/11/2003 Tòa án nhân dân Quận 3 thành phố HCM tuyên bố ông Tình mất năng lực hành vi dân sự Ở đây ông Tình xác lập hợp đồng trước ngày Tòa án tuyên bố ông mất hành vi dân sự Tòa án nhận định ông Tình đã có một quá trình dài bị bệnh tâm thần phải điều trị liên tục từ năm 2000 Điều đó cũng có nghĩa là ông Tình xác lập hợp đồng sau khi thực tế mất hành vi năng lực dân sự Hướng giải quyết của Tòa án là dựa trên điều 141 BLDS 1995, điều 130 của luật dân sự 2015, Tòa đã tuyên bố hợp đồng tặng cho

giữa ông Tình và bà Nga là vô hiệu

2.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao trong

vụ việc trên (liên quan đến giao dịch do ông Hội xác lập)? Nêu cơ sở pháp

lý khi đưa ra hướng xử lý

Việc hủy bỏ bản án dân sự phúc thẩm số 35/2015/DSPT ngày 10/07/2012 của tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và bản án dân sự sơ thẩm số 98/2011/DSPT ngày 22/12/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuy Hòa chứ không hủy toàn bộ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 08/02/2010 là đúng đắn vì:

 Việc chuyển nhượng này là phần đất này là giao dịch hợp đồng nên phải có

sự thỏa thuận của các bên, tuy nhiên ông Hội trên thực tế đã không còn khả năng nhận thức trước khi thực hiện giao dịch Mặc dù giao dịch được xác lập vào thời điểm trước khi Tòa có tuyên bố ông Hội mất năng lực hành vi dân

sự, nhưng theo điều 128 BLDS 2015: " Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân

sự đó là vô hiệu”, nên giao dịch của ông Hội và vợ có phần bị vô hiệu

 Mảnh đất vốn là tài sản chung của bà Hương và ông Hội nên nếu hủy bỏ toàn

bộ hợp đồng chuyển nhượng thì đồng thời sẽ hủy bỏ luôn quyền sở hữu với phần tài sản thuộc về bà

 Theo hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 8/2/2010 giữa vợ chồng ông Hội,

bà Hương và vợ chồng ông Hùng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Hội, bà Hương chuyển nhượng cho ông Hùng quyền sử dụng 120m vuông với giá 300,000,000 đồng chứ không phải 163m vuông với giá 580,000,000 đồng Ở phiên tòa phúc thẩm chưa xác minh rõ phần diện tích 43,7m vuông đất (chưa có chứng nhận về quyền sử dụng đất và không có

trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 08/02/2010

2.6 Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì giao dịch đó

có bị vô hiệu không? Vì sao?

Trang 11

Nếu giao dịch có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì về bản chất nó sẽ làm phát sinh thêm quyền và lợi ích cho ông Hội Theo Khoản 2 Điều 141 BLDS

2015 quy định: “Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Như vậy, trong trường hợp này nếu giao dịch

có tranh chấp là giao dịch tặng cho ông Hội thì chị Ánh (người đại diện ông Hội)

sẽ có quyền xác lập và thực hiện giao dịch này, nếu chị đồng ý xác lập thì giao dịch này vẫn có hiệu lực

III.VẤN ĐỀ 3: GIAO DỊCH XÁC LẬP DO CÓ LỪA DỐI

A TÓM TẮT BẢN ÁN:

 Quyết định số 521/2010/DS-GĐT ngày 19/8/2010 của Tòa dân sự Tòa án

nhân dân tối cao

Hợp đồng mua bán nhà giữa bên bán là ông Đô và bà Thu, bên mua là bà Phố

đã công chứng chứng thực, hoàn thành thủ tục sang tên đăng kí quyền sở hữu mang tên bà Phố nhưng vẫn còn 100 lượng vàng chưa thanh toán Mặc dù chưa thỏa thuận với bà Phố, 19/05/2004 bà Thu ông Đô và anh Vinh thỏa thuận hoán nhượng nhà đất trị giá 100 lượng vàng và bà Phố không phải trả số tiền còn lại Tuy nhiên tại thời điểm giao dịch, UBND đã ra quyết định về việc thu hồi đất

và giao đất xây dựng khu đô thị mới, Tòa án xét thấy anh Vinh và người liên quan là ông Toàn, bà Vân, họ hàng anh Vinh không thông báo cho ông Đô, bà Thu về tình trạng nhà đất là có sự gian dối Trong thỏa thuận hoán nhượng không có chữ ký của ông Đô nên giao dịch này vô hiệu Vì các lẽ trên Tòa án quyết định hủy bản án phúc thẩm và sơ thẩm để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật

 Quyết định số 210/2013/DS-GDDT ngày 21/5/2013 của Tòa dân sự Tòa án

nhân dân tối cao

Nguyên đơn là bà Nhất trình bày: vợ chồng bà có tài sản chung là 5 lô đất Sau khi từ Đài Loan về, hai người li hôn, lúc này bà mới biết ông Dưỡng chồng bà

đã bán lô đất đứng tên bà cho ông Tài Bà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với ông Tài vì ông Dưỡng đã giả chứ ký của bà để bán phần tài sản chung

Ông Dưỡng (bị đơn) trình bày: Trong thời gian bà Nhất đi Đài Loan thì ông Dưỡng một mình nuôi 3 con, vì cần tiền nuộ con ăn học nên ông đã bán 5 lô đất

đó, trong đó có lô đất đứng tên bà Nhất, ông ký tên bà để sang tên cho ông Tài Hai vợ chồng ông có tài sản chung là 2 lô đất, 1 lô đất bà Nhất đứng tên, 1 lô

Ngày đăng: 13/03/2022, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w