Hợp đồng PPP là thỏa thuận hợp tácgiữa Nhà nước và khu vực tư nhântrong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vàcung cấp các dịch vụ công, theo đómột phần hoặc toàn bộ công việc sẽđược chuyển
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA KINH TẾ
HỌC PHẦN: KINH TẾ ĐẦU TƯ
Hà Nội, ngày 24, tháng 12, năm 2021
Mục lục
Trang 2ĐẦU TƯ THEO PHƯƠNG THỨC HỢP ĐỒNG BCC 4
II.Nội dung của yêu cầu về đầu tư trọng tâm, trọng điểm trong quản lý hoạt động
Trang 3Chi phí quản lý dự án là gì? 29
II Cách xác định chi phí quản lý dự án xây dựng 29
2 Sự tương tác của Quản lý dự án và Quản lý chức năng 38
CHỦ ĐỀ 1 ĐẦU TƯ THEO PHƯƠNG THỨC HỢP ĐỒNG BCC
VÀ ĐẦU TƯ THEO PHƯƠNG THỨC HỢP ĐỒNG PPP
I So sánh hợp đồng BCC và hợp đồng PPP
Bảng 1: So sánh hợp đồng BCC và hợp đồng PPP
Trang 4giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác
kinh doanh, phân chia lợi nhuận,
phân chia sản phẩm theo quy định
của pháp luật mà không thành lập
tổ chức kinh tế (Khoản 9 Điều 3
Luật Đầu tư 2020)
Hợp đồng PPP là thỏa thuận hợp tácgiữa Nhà nước và khu vực tư nhântrong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng vàcung cấp các dịch vụ công, theo đómột phần hoặc toàn bộ công việc sẽđược chuyển giao cho khu vực tư nhânthực hiện với sự hỗ trợ của Nhà nước.Doanh nghiệp dự án PPP thực hiện dự
án PPP theo quy định của Luật Đầu Tưtheo phương thức đối tác công tư 2020, bao gồm các loại hợp đồng sau đây:
Hợp đồng Xây dựng Kinh doanh Chuyển giao (Build - Operate -Transfer, sau đây gọi là hợp đồngBOT);
Hợp đồng Xây dựng Chuyển giao Kinh doanh (Build - Transfer -Operate, sau đây gọi là hợp đồngBTO);
-Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinhdoanh (Build - Own - Operate, sau đây
Trang 5gọi là hợp đồng BOO);
Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý(Operate - Manage, sau đây gọi là hợpđồng O&M);
Hợp đồng Xây dựng Chuyển giao Thuê dịch vụ (Build - Transfer - Lease,sau đây gọi là hợp đồng BTL);
Hợp đồng Xây dựng Thuê dịch vụ Chuyển giao (Build - Lease - Transfer,sau đây gọi là hợp đồng BLT);
-Hợp đồng hỗn hợp (-Hợp đồng hỗn hợp
là hợp đồng kết hợp giữa các loại hợpđồng)
Chủ Thể
Đầu tư
Ở hợp đồng BCC thì chủ thể hoàn toàn là các nhà đầu tư, các doanh nghiệp tư nhân (cả trong nước và ngoài nước) có nhu cầu hợp tác vớinhau cùng tìm kiếm lợi nhuận
Chủ thể một bên là nhà đầu tư, các doanh nghiệp tư nhân (cả trong nước
và ngoài nước) còn bên còn lại chủ thể
là sự tham gia của Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với tư cách là cơ quan công quyền và làmột chủ thể kinh tế có địa vị pháp lý bình đẳng như nhà đầu tư
Trang 6Lĩnh vực
đầu tư
Tất cả các lĩnh vực nhà nước khôngcấm
Theo Quy định tại Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công - tư thì lĩnh vực đầu tư theo phương thức PPP có 5 lĩnh vực sau:
1 - Giao thông vận tải;
2 - Lưới điện, nhà máy điện, trừ nhà máy thủy điện và các trường hợp Nhà nước độc quyền theo quy định của LuậtĐiện lực;
3 - Thủy lợi; cung cấp nước sạch; thoátnước và xử lý nước thải; xử lý chất thải
4 - Y tế; Giáo dục - Đào tạo;
5 - Hạ tầng công nghệ thông tin
- Về phía nhà nước: hợp tác với khu vực tư nhân để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp,
mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công nhằm giảm gánh nặng tài chính cho Nhà nước
– Về phía nhà đầu tư: Thu lợi nhuận và được hưởng các quyền và lợi ích ưu đãikhác do có sự tham gia của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Trang 7Nội dung
hợp đồng
Các thỏa thuận mang tính hợp tác kinh doanh, cùng bỏ vốn để cùng kinh doanh,
cùng chia sẻ kết quả kinh doanh và rủi ro…
Các thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc xây dựng, kinh doanh và chuyển
giao công trình cho Nhà nước Việt Nam
Thời hạn
Thường ngắn (chủ yếu là các dự ánđầu tư ngắn hạn), tùy theo thỏa thuận của các bên
Thường dài hơn do các nhà đầu tư còn kinh doanh nhằm thu hồi vốn sau khi xây dựng xong công trình
Cùng quản lý, chia sẻ rủi ro và lợi nhuận dựa trên tỷ lệ góp vốn hoặc thỏa thuận của các bên
Thành lập doanh nghiệp dự án để tổ chức quản lý doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, nhân danh chính mình để thực hiện hoạt động kinh doanh Nhà đầu tư sẽ thu lợi nhuận trong quá trình kinh doanh, sau đó chuyển giao không bồi hoàn công trình cho Nhà nước
Chấm
dứt hợp
đồng
Hợp đồng chấm dứt khi hết hạn hợp đồng hoặc do thỏa thuận không trái pháp luật
của các bên Các bên không phải chuyển giao gì cho nhau
Nhà đầu tư chỉ có quyền kinh doanh trong một thời hạn nhất định sau khi xây dựng xong kết
cấu hạ tầng Hết thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam
II Một số ví dụ thực tế
Trang 8Dự án BOT Pháp Vân – Cầu Giẽ
Tuyến đường Pháp Vân - Cầu Giẽ vốn là dự án được Ban Quản lý dự 18(PMU18), Bộ GTVT xây dựng bằng ngân sách nhà nước, đến đầu năm 2014 BộGTVT đã đồng ý cho liên danh nhà đầu tư là Công ty cổ phần BOT Pháp Vân -Cầu Giẽ thực hiện dự án nâng cấp đường Pháp Vân – Cầu Giẽ từ 2 lên 4 làn xe vớitổng mức đầu tư 6.731 tỷ đồng
Đến tháng 10/2015, mặc dù dự án thi chưa xong giai đoạn 1, nhưng Bộ GTVT
đã chấp nhận cho nhà đầu tư thu phí phương tiện qua lại với mức 45.000 đồng/lượt
xe dưới 9 chỗ ngồi Với tổng mức đầu tư trên, nhà đầu tư được thu phí vòng 17năm 3 tháng
Doanh nghiệp thực hiên dự án là Cty Cổ phần BOT Pháp Vân - Cầu Giẽ Đây làdoanh nghiệp liên kết giữa 3 nhà đầu tư thực hiện nâng cấp đường Pháp Vân – CầuGiẽ Với tổng số vồn 6.731 tỷ đồng thực hiện dự án, nhưng 3 nhà đầu tư này chỉgóp có khoảng 12%, tương đương 800 tỷ đồng để thực hiện dự án, số còn lại là đivay ngân hàng và được trả dần qua thu phí phương tiện Cụ thể, trong tổng số 800
tỷ đồng, Cty Cổ phần Đầu tư phát triển Minh Phát góp 65%; Tổng Cty Xây dựngcông trình giao thông 1 – Cty CP Cienco1 góp: 18%; Cty Cổ phần Đầu tư và Xâydựng giao thông Phương Thành góp: 17%
Sau khi 3 liên danh này thỏa thuận liên kết và được Bộ GTVT phê duyệt dự án,
đã thành lập ra Cty Cổ phần BOT Pháp Vân - Cầu Giẽ thực hiện dự án, bà NguyễnCẩm Tú, được bầu giữ chức Tổng Giám đốc Với 65% tỷ lệ góp vốn, Cty Cổ phầnĐầu tư phát triển Minh Phát, có trụ sở chính tại số 181, Trần Hưng Đạo, thành phốBắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh do bà Nguyễn Cẩm Tú được nắm quyền kiểm soát.Những năm đầu, Cty Cổ phần BOT Pháp Vân - Cầu Giẽ có trụ sở tại tòa nhà Minh
Trang 9Tâm, Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội; nay được đặt tại nhà điều hành TrạmBOT Pháp Vân – Cầu Giẽ, xã Liên Ninh, Thanh Trì, Hà Nội
CHỦ ĐỀ 2 THẤT THOÁT VÀ LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ
- Lãng phí là mặt đối lập với tiết
kiệm Trong đầu tư xây dựng cơ
bản, mọi việc làm tăng chi phí
đầu tư so với mức cần thiết dẫn
đến làm giảm hiệu quả vốn đầu
tư được coi là sự lãng phí
- Theo Luật Thực Hành tiết kiệm,
chống lãng phí, cũng như Pháp
lệnh của uy ban Thường vụ Quốc
hội về thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí, lãng phí là sử dụng các
nguồn lực tài chính, lao động, thời
gian,…vượt quá định mức, tiêu
chuẩn, chế độ nhưng chất lượng đạt
thấp hơn hoặc không đúng mục
- Một trong những hành vi gây thấtthoát đầu tư điển hình đó chính là
tiêu cực và tham nhũng.
Trang 10Ví dụ Trường hợp 1: Lãng phí trong đầu
tư dự án xây dựng tuyến đường sắt
đô thị Cát Linh – Hà Đông
Tuyến đường sắt đô thị Cát Linh
-Hà Đông được khởi công năm
tháng 10-2011, có tổng mức đầu tư
ban đầu 8.770 tỉ đồng (552,86 triệu
USD); tổng mức đầu tư điều chỉnh
là 22.521 tỷ đồng 1668 tỷ cho 1km
(868,04 triệu USD), trong đó vốn
vay ODA của Trung Quốc là
Đường cao tốc chính thức khởi
công vào tháng 5 năm 2013 và đã
hoàn thành 65 km đầu tiên từ Nút
giao Tam Kỳ đến Túy Loan vàng
ngày 2 tháng 8 năm 2017 Ngày 2
tháng 9 năm 2018, toàn tuyến
đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng
Ngãi được thông xe kĩ thuật, riêng
Thất thoát trong dự án nhà máynhiệt điện Thái Bình 2 và dự ánVũng Áng- Quảng Trạch
Trịnh Xuân Thanh, nguyên Chủtịch HĐQT, nguyên Tổng Giámđốc Công ty cổ phần xây lắp dầukhí (PVC) và đồng phạm đã cóhành vi “cố ý làm trái quy địnhcủa Nhà nước về quản lý kinh tếgây hậu quả nghiêm trọng” và
“tham ô tài sản”, xảy ra tại PVC
và Công ty cổ phần Bất động sảnĐiện lực dầu khí Việt Nam (PVPland) Cụ thế, Trịnh Xuân Thanh
đã chỉ đạo cấp dưới ký hợp đồngtrái phép, để nhận tạm ứng tiền từPVN và sử dụng hơn 1.115 tỷđồng trong số tiền tạm ứng nàyvào mục đích khác, không đưavào Dự án Nhà máy nhiệt điệnThái Bình 2, gây thiệt hại choNhà nước số tiền gần 120 tỷđồng Ngoài ra, Trịnh XuânThanh đã chỉ đạo lập khống hồ
sơ, rút 13 tỷ đồng từ Ban điềuhành Dự án Vũng Áng – Quảng
Trang 11hai nút giao Chu Lai (Núi Thành,
Quảng Nam) và Dung Quất (Bình
Sơn, Quảng Ngãi) chưa hoàn thành
nên vẫn tiếp tục thi công Dự án
Cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi có
vốn đầu tư 34.516 tỉ đồng, nhưng
có nhiều đoạn đường vừa làm xong
đã hỏng do thi công vật liệu không
đủ tiêu chuẩn, không được nghiệm
thu
Trạch để chia nhau sử dụng cánhân
II Thất thoát và lãng phí trong đầu tư dự án đường sắt trên cao Cát Linh- Hà Đông
1 Tổng quan dự án đường sắt trên cao Cát Linh- Hà Đông
Tuyến số 2A (tên khác: Tuyến Cát Linh - Hà Đông hay Tuyến Cát Linh) là mộttuyến đường sắt đô thị đang được xây dựng, một phần của hệ thống mạng lướiĐường sắt đô thị Hà Nội, được đầu tư xây dựng bởi Bộ Giao thông Vận tải và vốnvay ODA của Trung Quốc ký năm 2008 Được khởi công xây dựng từ tháng 10năm 2011, toàn tuyến có tổng chiều dài là 13,5 km với 12 ga trên cao, với hướngtuyến từ ga Cát Linh ở quận Đống Đa và kết thúc ở ga Yên Nghĩa ở quận Hà Đông.Ngoài thiết kế ban đầu, Bộ Giao thông Vận tải còn có dự định kéo dài tuyến thêm
20 km qua Yên Nghĩa tới Xuân Mai trong tương lai Dự án được khởi công nămtháng 10-2011, có tổng mức đầu tư ban đầu 8.770 tỉ đồng (552,86 triệu USD); tổngmức đầu tư điều chỉnh là 22.521 tỷ đồng 1668 tỷ cho 1km (868,04 triệu USD),trong đó vốn vay ODA của Trung Quốc là 15.579 tỷ đồng (669,62 triệu USD) Do
Trang 12trong quá trình thi công và thử nghiệm còn gặp
nhiều rào cản, dự án đã có 8 lần thay đổi tiến
độ hoàn thành và khai thác thương mại Dự
kiến bắt đầu khai thác từ 2015, nhưng tính
trước tháng 11/2021, tuyến đường sắt đô thị
Cát Linh - Hà Đông vẫn chưa xác định được
ngày vận hành chính thức
Ngày 5/5, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Trọng Đông đã ký văn bản
số 3972/VP-GPMB, yêu cầu UBND các quận: Đống Đa, Thanh Xuân, Hà Đông tổchức kiểm tra, xử lý các công trình vi phạm trật tự xây dựng, chiếm dụng mặt bằngnằm trong phạm vi ranh giới của dự án Nhưng sau 4 tháng, tình hình không đượccải thiện Ga Cát Linh trở thành bãi đỗ xe Trước khi giãn cách xã hội, khu vực nàycòn có quán trà đá
2 Nguyên nhân của việc đội vốn và chậm tiến độ hoàn thành.
Trang 13- Do phía Việt Nam không có quyền quyết định về việc chọn nhà thầu
Phía nhà thầu bên Trung Quốc chưa chưa có kinh nghiệm trong triển khai thựchiện dự án tổng thể theo hình thức hợp đồng EPC (là một loại hợp đồng xâydựng mà nhà thầu thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết
kế bản vẽ thi công, cung ứng vật tư, thiết bị đến thi công xây dựng công trình,hạng mục công trình và chạy thử bàn giao cho chủ đầu tư) Chưa thực hiện theođúng cam kết về tiến độ, thiếu kinh nghiệm trong việc thiết kế Đồng thời cũng
là lần đầu tiên tổng thầu Trung Quốc thực hiện dự án tại Việt Nam, khiến việcquản lý, điều hành của tổng thầu còn nhiều lúng túng và bất cập
- Hệ thống quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam về thực hiện hợp đồng EPC chưa đầy đủ, đồng bộ, đặc biệt là quy định về tính trọn gói giữa
các yếu tố kỹ thuật, tài chính, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh dự án
- Nguồn vốn giải ngân chậm
Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc (China Eximbank) là cơ quan quản lý,cung cấp nguồn vốn vay nhưng không thiết lập đại diện thường trú tại ViệtNam, ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành cấp vốn thực hiện dự án
- Công tác giải phóng mặt bằng tại trung tâm thành phố Hà Nội rất chậm
và phức tạp, không đáp ứng được yêu cầu của công tác khảo sát thiết kế kỹ
thuật
- Sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981 trong thềm lục địa của Việt
Nam đầu tháng 5.2014 ảnh hưởng trực tiếp đến thực hiện dự án (mất hơn 1 nămhạn chế các hoạt động xây dựng của tổng thầu)
-Lạm phát trong giai đoạn thực hiện năm 2008 (CPI là 19,9%) và giai đoạn
2010 - 2011 (CPI lần lượt là 11,8% và 18,13%), tổng tỷ lệ lạm phát của riêng 3năm này đã là 49,83% (ảnh hưởng lớn đến giá nhân công, vật tư, vật liệu xâydựng)
Trang 14III Một số giải pháp tránh thất thoát và lãng phí trong đầu tư
- Tự chủ về việc lựa chọn chủ thầu đầu tư hoặc hợp tác với các đối tác có kinhnghiệm khi thực hiện dự án (ví dụ: Nhật Bản, Hàn Quốc, WB,…)
- Nguồn vốn cần được giải ngân nhanh chóng và đầy đủ
- Tối giảm hoá quy trình, thủ tục giải phóng mặt bằng
- Với các dự án thực hiện từ nguồn vốn vay nước ngoài nên lựa chọn các nguồnvốn vay từ các chủ nợ uy tín như Nhật Bản, Hàn Quốc,…
- Tránh đầu tư vào gay đoạn xảy ra chiến tranh, thiên tai, bệnh dịch, lạm phát,suy thoái,…
CHỦ ĐỀ 3 CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ?
NGUỒN NÀO LÀ QUAN TRỌNG NHẤT ?
I Khái Niệm
Nguồn vốn đầu tư là nguồn tài sản tích lũy của xã hội, của các đơn vị sản xuấtkinh doanh, nguồn tiền tiết kiệm của dân… được dùng để tái sản xuất xã hội, tạo racác tiềm lực mới thông qua dự án đầu tư
II Các nguồn huy động vốn chủ yếu
1 Nguồn vốn nước ngoài
1.1 Nguồn vốn ODA:
1.1.1 Khái niệm: Nguồn vốn ODA (Official development assistance - hỗ trợ phát
triển chính thức): là nguồn tiền mà chính phủ, các cơ quan chính thức các nướchoặc các tổ chức phi chính phủ, quốc tế cho các nước đang và kém phát triển vay
để phát triển kinh tế – xã hội
Ví dụ:
Trang 15Tính từ năm 1992 đến nay, ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam đạt gần 31
tỷ USD, chiếm khoảng 35% tổng ODA của cộng đồng quốc tế cam kết với ViệtNam Dự án cầu Nhật Tân - cây cầu hữu nghị Việt-Nhật kết nối trung tâm Thủ đô
Hà Nội với các tỉnh phía Bắc, đồng thời rút ngắn tuyến đường từ trung tâm Thủ đôđến sân bay nội Bài với tổng mức đầu tư hơn 13.626 tỷ đồng (dự toán 13200 tỷ)trong đó 54,2 tỷ yên tương đương hơn 10000 tỷ là vốn vay ODA Nhật Bản Dự áncông trình xây dựng Nhà ga hành khách T2 của Cảng hàng không quốc tế Nội Bài
có tổng đầu tư gần 900 tr USD, trong đó có gần 700 tr USD là nguồn vốn ODA củaNhật Bản
1.1.2 Ưu điểm:
● Đây là nguồn vốn vay có lãi suất thấp, thường dưới 2%/ năm (trung bình
khoảng 0.25%/năm) Vì thế đây là một nguồn vốn quan trọng đối với các
nước đang và kém phát triển để phát triển kinh tế – xã hội
● Thời gian cho vay dài, từ 25 năm – 40 năm; thời gian ân hạn cũng kéo dài
▪ Các nước nhận viện trợ phải mua các sản phẩm từ nước viện trợ, sử
dụng nhân lực của họ, thuê dịch vụ,… Những sản phẩm này có thể là khôngcần thiết đối với nước tiếp nhận ODA và chi phí dịch vụ và nhân lực thìkhông hề rẻ
Trang 16▪ Nguồn vốn viện trợ ODA thường đi kèm với những điều khoản mậu dịch, đặc biệt là nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ.
▪ Các danh mục dự án ODA phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, họ không trực tiếp điều hành dự án nhưng lại có thể tham gia gián tiếp
dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia Như vậy, sẽ đem lại nguồnlợi rất lớn cho nước viện trợ
▪ Sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên rất cao.
▪ Trong quá trình sử dụng vốn, sẽ xảy ra tình trạng tham nhũng, thất thoát, lãng phí.
▪ Gia tăng áp lực trả nợ trong tương lai.
1.2 Nguồn vốn từ đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
1.2.1 Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt
là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước
khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
1.2.2 Ưu điểm
● Đối với nhà đầu tư
- Ưu đãi thuế quan
- Chi phí lao động tương đối thấp hơn
- Tỷ lệ trợ cấp
- Các ưu đãi thuế khác nhau
- Đa dạng hóa thị trường
Trang 17● Đối với nước nhận đầu tư
- Nhiều cơ hội việc làm hơn dẫn đến tăng việc làm
- Một lượng lớn chuyên môn, kỹ năng, kiến thức và công nghệ của nhà quản lý
- Phát triển vốn con người
- Kích thích kinh tế
- Cung cấp công nghệ cho các nước đang phát triển
- Cung cấp tài chính cho các nước đang phát triển
- Các dự án thường mang lại tiêu cực đối với môi trường ( Vụ Fomosa xả chất thải
ra biển gây ô nhiễm ở Hà Tĩnh)
- Không phù hợp với các ngành quan trọng chiến lược: Các quốc gia không nên cho phép nước ngoài sở hữu các công ty trong các ngành quan trọng chiến lược Điều đó có thể làm giảm lợi thế so sánh của quốc gia (Ví dụ: ngành du lịch ở Việt Nam)
1.3 Nguồn vốn từ đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII)
1.3.1 Khái niệm
Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Indirect Investment) là Các giao dịch
xuyên biên giới liên quan đến các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; nhưng không trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý và điều hành doanh nghiệp nhận đầu tư
Trang 181.3.2 Ưu điểm.
- Đối với nhà đầu tư:
Có thể thực hiện hoạt động đầu tư ở bất cứ lĩnh vực nào, dễ dàng chuyển đổi lĩnh vực đầu tư, đa dạng hóa danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro
- Đối với quốc gia nhận đầu tư:
• Gia tăng nguồn vốn trên thị trường vốn nội địa, giúp giảm chi phí
vốn trên thị trường
• Thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội địa
• Thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của chính phủ
1.3.3 Nhược điểm
- Đối với nhà đầu tư:
Đối mặt với các rủi ro trên thị trường chứng khoán như: rủi ro đầu cơ, rủi ro lãisuất, rủi ro sức mua
- Đối với quốc gia nhận đầu tư:
• Chủ yếu mang tới vốn bằng tiền, nước nhận đầu tư không có cơ hội tiếp thu côngnghệ, kỹ thuật và trình độ quản lý tiên tiến
• Làm xuất hiện nguy cơ phát triển kinh tế quá nóng, đặc biệt là tại các thị trườngtài sản
• Khiến cho hệ thống tài chính trong nước dễ bị tổn thương và rơi vào khủng hoảngtài chính một khi gặp phải các cú sốc
• Làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái
1.4
Vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
1.4.1 Khái niệm
Trang 19Tín dụng thương mại quốc tế trong tiếng Anh là Commercial Loans Tín
dụng thương mại quốc tế là các khoản vay thương mại thường ở dạng các khoản
vay ngân hàng được phát hành bởi một ngân hàng trong nước cho các doanh
nghiệp ở nước ngoài hoặc chính phủ của các quốc gia đó (Theo Investopedia, Foreign Investment)
Ví dụ
Ngân hàng Shinhan Bank với 100% vốn đầu tư Hàn Quốc tại Việt Nam,khoảng 30% số khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng shinhan hiện nay là cáccông ty Việt Nam, số còn lại là các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư tại Việt Nam.Hiện có khoảng 40 lĩnh vực sản xuất kinh doanh củacông ty Việt Nam liên quanđến ngân hàng Shinhan
Trang 20● Hiệu quả sử dụng vốn thường thấp do bên nước ngoài không trựctiếp thamgia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư mà hiệu quả sự dụng vốn sẽphục thuộc vào nước đi vay.
● Phụ thuộc vào nước cho vay
● Thay đổi cơ cấu kinh tế
● Ảnh hưởng môi trường
● Tín dụng quốc tế có rủi ro do bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của tỷ giá hốiđoái quốc tế
2 Nguồn vốn trong nước
2.1 Vốn ngân sách nhà nước.
Vốn ngân sách Nhà nước là tất cả các nguồn vốn được tính dựa trên các khoảnthu, chi của Nhà nước, trong đó bao gồm các nguồn từ ngân sách trung ương tớingân sách địa phương Giữ vai trò quan trọng trong đầu tư cho chiến lược pháttriển kinh tế xã hội quốc gia Tuy nhiên, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước luôn bịhạn chế về số lượng ( các năm gần đây Việt Nam liên tục bội chi ngân sách nhànước Dự toán năm 2021 bội chi 343670 tỷ đồng~ 4% GDP)
VD: Hàng tháng hoặc hàng năm thu thuế từ cá nhân và tổ chức có thu nhập chịu
thuế theo quy định pháp luật Doanh nghiệp đóng các khoản thuế như: thuế giá trịgia tăng, thuế thu nhập cá nhân và các khoản thuế khác Tổ chức thu thuế củaDoanh nghiệp có nguồn thu đó được gọi là nguồn vốn ngân sách Nhà nước
2.2 Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước
Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước là nguồn vốn do các doanhnghiệp Nhà nước quản lý, là nguồn vốn tích lũy được của doanh nghiệp nhà nướcđược đem đi tái đầu tư hoặc đầu tư ngoài ngành nhằm mục đích gia tăng lợi nhuận
Trang 21VD: Năm 2020, Viettel với 11 thị trường đầu tư của mình đã hoàn thành kế hoạch
sản xuất kinh doanh với tổng doanh thu hơn 264 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 4,4%
so với 2019) đạt 102,4% so với kế hoạch năm, lợi nhuân trước thuế đạt 39,8 nghìn
tỷ đồng (tăng 4,1%) đạt 103,9% kế hoạch năm.
2.3
Nguồn vốn của khu vực tư nhân
Bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của doanh nghiệp dân doanh,các hợp tác xã Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ giađình, phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh và các hợp tác xã chủ yếuđược sử dụng vào nhiệm vụ tái cơ cấu dân cư Tuy nhiên, nguồn vốn của doanhnghiệp ở các nước đang phát triển thường rất hạn chế vì chủ yếu là các doanhnghiệp có quy mô vừa và nhỏ ( Tại Việt Nam doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 97%trên tổng số doanh nghiệp)
VD: Các doanh nghiệp bảo hiểm đã huy động được nguồn tài chính to lớn từ các tổchức, tư nhân tham gia bảo hiểm tạo nguồn vốn đáng kể để cho đầu tư phát triểnkinh tế- xã hội Tính đến hết tháng 11/2020, thị trường có 69 doanh nghiệp kinhdoanh bảo hiểm, tổng tài sản doanh nghiệp đạt 542.8 nghìn tỷ đồng, tăng 20% sovới cùng kỳ năm 2019; các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế đạt449.4 nghìn tỷ đồng, tăng 22%
● Ưu điểm chung của nguồn vốn trong nước so với nguồn vốn nước ngoài
- Hạn chế được một số chính sách đầu tư (miễn thuế, giảm thuế, miễn, giảmtiền thuê đất,…)
- Tránh được sự cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệpnước ngoài Từ đó giúp phát triển các doanh nghiệp trong nước
- Giảm bớt gánh nặng trả nợ trong tương lai
Trang 22- Dễ dàng kiểm soát tác động của doanh nghiệp trong nước với môi trườngbởi với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể được “lơ là” trongkhâu kiểm soát hơn.
- Phân bổ nhiều hơn cho các vùng gặp khó khăn về điều kiện kinh tế- xã hội(Ví dụ: nguồn chi từ ngân sách nhà nước sẽ chi ra để xây dựng bệnh việntrường học tại các địa phương nghèo, khó khăn,…)
Kết luận:
Muốn đạt được tất cả 8 mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và 17 mục tiêuphát triển bền vững, đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì nguồnvốn trong nước đóng vai trò quan trọng hàng đầu Nguồn vốn bên ngoài sẽ giúpthúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ năng, trình độ quản lý của người lao độngnhanh hơn nhưng nó sẽ mang lại rất nhiều hệ luỵ sau này (phụ thuộc quá nhiều vàonguồn lực từ bên ngoài)
Tuy nhiên, trong nguồn vốn nước ngoài thì nguồn vốn FDI chiếm vai tròquan trọng nhất Bởi FDI là nguồn vốn có số lượng lớn, có thể mang lại cộng nghệcho nước nhận đầu tư hoặc nước đầu tư có thể học hỏi được phương pháp tổ chức,quản lý doanh nghiệp mới lạ của nước ngoài, từ đó nâng cao được chất lượng hoạtđộng sản xuất trong nước Ngoài ra khi các doanh nghiệp nước ngoài rót vốn FDIvào Việt Nam sẽ cung cấp cho thị trường một số những mặt hàng mới lạ, giúp chonền kinh tế gia tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
Bên cạnh đó, nguồn vốn quan trọng nhất trong nguồn vốn trong nước lànguồn vốn từ khu vực tư nhân Bởi nguồn vốn từ khu vực dân cư sẽ giúp tăng thucủa chính phủ, giúp tăng nhân sách, làm cho thị trường vốn trong nước được hoạtđộng một cách sôi nổi và quan trọng hơn Không chỉ có vậy, một quốc gia dân giàuthì nước mới mạnh, khi một quốc gia có nền kinh tế càng phát triền thì nguồn vốn