+ Đô thị hóa có các tác động không nhỏ đến sinh thái và kinh tế khu vực.Tâm lí và lối sống của người dân thay đổi, làm gia tăng khoảng cách giaothông, tăng chi phí đầu tư các cơ sở hạ t
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA KINH TẾ
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: KINH TẾ ĐẦU TƯ
Giảng viên hướng dẫn: Đặng Thị Thúy Duyên Lớp học phần : ECO14A03
Nhóm thực hiện : 05
1.Trịnh Thị Lan Anh - 22A4070063 2.Trần Thị Loan Anh - 22A4070110
3 Trịnh Thị Thuỳ - 22A4070207
4 Tô Thị Uyên - 22A4070158
5 Phan Thị Hương Mai - 22A4070173
6 Đỗ Thị Vân Anh - 22A4070003
7 Nguyễn Thị Minh Tâm - 22A4070202
Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2021
Trang 2Mục lục Bài tập số 1: Tìm hiểu những tác động của đầu tư trên khía cạnh xã hội –
I Tác động của đầu tư trên khía cạnh xã hội – môi trường 4
II Tác động tiêu cực của đầu tư đến xã hội và môi trường 5
Bài tập số 3: Khó khăn của Việt Nam trong thu hút đầu tư trực tiếp nước
1.2 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 11
III Khó khăn của Việt Nam trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2 Nội dung đầu tư theo chiều rộng 19
2.2 Nội dung của đầu tư theo chiều sâu 21
2.4 Vai trò của đầu tư theo chiều sâu: 23
Trang 3III Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
24
3 Vai trò của tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư 29
II Phân loại Theo quy định cụ thể tại Khoản 7 Điều 3 Nghị định
16/2016/NĐ-CP của Chính phủ thì chương trình được chia làm 4 loại:
36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 4Bài tập số 1: Tìm hiểu những tác động của đầu tư trên khía cạnh xã hội – môi trường (tích cực, tiêu cực) Ví dụ cụ thể
I Tác động của đầu tư trên khía cạnh xã hội – môi trường
1.M t tích c c ặ ự
Đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh
tế, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và góp phần nâng cao chất lượng laođộng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, gia tăng giátrị xuất khẩu
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gia tăng nguồn vốn, thúc đẩy công nghệphát triển
Đầu tư ý nghĩa trong việc giải quyết các vấn đề xã hội ở các nước phát triển:giảm thất nghiệp, giảm các tệ nạn xã hội Từng bước cải thiện thu nhập, nângcao đời sống cho người lao động nâng cao vị thế và vai trò của con người.Đầu tư đã khắc phục và giảm bớt sự ô nhiễm, cân bằng môi trường sinh thái.2.VD: Đầu tư vào ngành Du Lịch
Tác động tích cực: Du lịch góp phần tăng GDP cho nền kinh tế quốc dân Ởnhiều nước trên thế giới, du lịch từ lâu đã trở thành một ngành kinh tế mũinhọn, chiếm từ 40% đến 60% tỷ trọng nền kinh tế quốc dân
Tạo được doanh thu và lợi nhuận lớn hơn nhiều nếu cùng những hàng hóa đóđem xuất khẩu theo đường ngoại thương Du lịch tạo cơ hội giải pháp việclàm Với sự phát triển nhanh chóng và do đặc thù là dịch vụ nên ngành dulịch có hệ số sử dụng lao động rất cao
Du lịch làm thay đổi cấu trúc kinh tế của vùng Giá trị đất gia tăng do thayđổi mục đích sử dụng đất
Phát triển du lịch có lợi cho việc cải thiện môi trường đầu tư, xúc tiến, mởcửa với bên ngoài
Trang 5II Tác động tiêu cực của đầu tư đến xã hội và môi trường
1 Mặt tiêu cực:
+Mục đích của các nhà đầu tư là kiếm lời, nên họ chỉ đầu tư vào những nơi
có lợi nhất sẽ làm tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn vàthành thị Sự mất cân đối này có thể gây ra mất ổn định về chính trị, có thểgây ảnh hưởng xấu về mặt xã hội
+ Tài nguyên cạn kiệt
+ Nền kinh tế có thể dễ bị tổn thương trước các cú sốc từ bên ngoài
+ Tạo sức ép cho doanh nghiệp và sản phẩm
+ Bất bình đẳng trong thu nhập: Khi bất bình đẳng tăng cao sẽ dẫn đến bất ổn
xã hội và gây ra nhiều tệ nạn xã hội
+ Tạo nên sức mạnh độc quyền: Tạo ra sức mạnh độc quyền trong nền kinh tế
sẽ làm sai lệch sự phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả và giảm thặng dưtiêu dùng Chính điều này có thể làm suy yếu các mục tiêu và phúc lợi quốcgia
+ Rủi ro về sức khoẻ, ăn toàn của người lao động
+ Tổn hại đến môi trường:
Hóa chất bảo vệ thực vật; rác thải sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp, chấtthải nguy hại trong khi việc xử lý chất thải, nước thải còn rất hạn chế
Có nhiều loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường, công nghệ sản xuất lạc hậu.Nguy cơ và hiện tượng ô nhiễm đến môi trường đất, nước và không khí đang
ở mức báo động
Ô nhiễm không khí: bụi, tiếng ồn…
2 Ví dụ: đầu tư vào đô thị hoá
Tác động tiêu cực được thể hiện ở:
Trang 6+ Đô thị hóa có các tác động không nhỏ đến sinh thái và kinh tế khu vực.Tâm lí và lối sống của người dân thay đổi, làm gia tăng khoảng cách giaothông, tăng chi phí đầu tư các cơ sở hạ tầng kĩ thuật và có tác động xấu đến
sự phân hóa xã hội do cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm đến các khó khăncủa khu vực trong đô thị
+ Đô thị phát triển tự phát thiếu quy hoạch, từ đó dẫn đến việc có một số đôthị thiếu hoặc rất kém về hạ tầng kỹ thuật và xã hội, ô nhiễm môi trường,cảnh quan suy thoái
+ Ngoài ra, đô thị hoá ở nước ta đã và đang dẫn đến mất cân đối trong sự hàihoà cần thiết giữa môi trường nhân tạo và môi trường tự nhiên Đồng thời,cũng làm mất đi sự cân đối và sự hài hoà cần thiết giữa các vùng dân cư, cácvùng kinh tế Vậy thì, đô thị hóa nhất thiết phải được tiến hành đồng bộ cảvùng bị đô thị hoá và các lãnh thổ chịu tác động của quá trình đó
+ Phân chia giàu nghèo một cách rõ rệt Sự phân tầng xã hội về mặt kinh tếtất yếu sẽ sinh ra phân tầng xã hội về giáo dục, về văn hoá, về hệ tư tưởng, từ
đó dẫn tới mâu thuẫn trong đời sống chính trị Đó là tiền đề cho những bất antrong đời sống xã hội
+ Đô thị hóa làm sản xuất ở nông thôn bị đình trệ do lao động chuyển đếnthành phố Thành thị phải chịu áp lực thất nghiệp, quá tải cho cơ sở hạ tầng, ônhiễm môi trường sống, an ninh xã hội không đảm bảo, các tệ nạn xã hội ví
dụ như thiếu việc làm sẽ nảy sinh ra nhiều vấn đè như nghèo đói lạc hậu, mùchữ, tệ nạn như trộm cắp, làm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phíđầu tư các cơ sở hạ tầng kĩ thuật và có tác động xấu đến sự phân hóa xã hội
do cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm đến các khó khăn của khu vực trong đôthị
+ Dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông
+ Dẫn đến ô nhiễm không khí và nước thải
Trang 7Bài tập số 2: Nguồn Vốn Đầu Tư Trong Nước
I Khái niệm
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của một nội bộ nền kinh tế baogồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp vàtiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội.Phân loại: có 2 loại chính
- Nguồn vốn đầu tư nhà nước
- Nguồn vốn của dân cư và tư nhân
a Nguồn vốn nhà nước
Khái niệm: Vốn ngân sách Nhà nước là tất cả các nguồn vốn được tính dựatrên các khoản thu, chi của Nhà nước, trong đó bao gồm các nguồn từ ngânsách trung ương tới ngân sách địa phương Giữ vai trò quan trọng trong đầu
tư cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia
Hình thành (khoản thu): Thuế, vay, nhận viện trợ, thu phí, lệ phí và các khoảnthu khác của ngân sách trung ương và địa phương
Đầu tư (khoản chi): Xây dựng CSHT, y tế, giáo dục, giảm nghèo, lương trảCBCNV, lãi vay, dự trữ quốc gia, chi mua hàng hóa-dịch vụ, và chi thườngxuyên cho các tổ chức của nhà nước
Theo luật Đầu tư 2020: Vốn nhà nước gồm những loại nguồn vốn sau đây:
· Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước Đây là nguồn chi của ngân sách nhànước cho đầu tư, đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lượcphát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sửdụng các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh, hỗ trợ các
dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước
Trang 8Chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế xã hội vùng lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
· Nguồn vốn tín dụng, đầu tư phát triển của nhà nước cùng với quá trình đổimới và mở cửa tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vaitrò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Bên cạnh đó, nguồnvốn tín dụng đầu tư của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng
kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước với cơ chế tín dụng các đơn vị sử dụngnguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đầu tư vàngười vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư sử dụng vốn tiết kiệm hơn Ngoài
ra, vốn đầu tư phát triển của nhà nước còn phục vụ công tác quản lý và điềutiết kinh tế vĩ mô thông qua nguồn tín dụng đầu tư nhà nước Thực hiện việckhuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành vùng, lĩnh vực theo địnhhướng chiến lược của mình
· Nguồn vốn từ quỹ đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước Nguồn vốnnày phải chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tạidoanh nghiệp nhà nước Theo bộ kế hoạch và đầu tư, thông thường, nguồnvốn của doanh nghiệp nhà nước tự đầu tư chiếm 14 đến 15% tổng vốn đầu tưtoàn xã hội, chủ yếu là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bịhiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp
· Nguồn vốn từ quỹ đầu tư phát triển của doanh nghiệp
Liên hệ:
Trong 6 tháng đầu năm 2021, nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng nặng nềcủa đại dịch COVID-19, hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều tập đoàn,tổng công ty vẫn ghi nhận kết quả khích lệ
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đạt tổng doanh thu hợp nhất 299.300 tỷđồng, vượt 20% kế hoạch 6 tháng, bằng 61% kế hoạch năm 2021 và tăng
Trang 922% so với cùng kỳ năm 2020, nộp NSNN thực hiện 6 tháng đầu năm 2021toàn Tập đoàn đạt 45,2 nghìn tỷ đồng.
Ủy ban đã cùng với 19 Tập đoàn, Tổng công ty có những đóng góp lớn, thiếtthực cho công tác phòng, chống dịch như: ủng hộ khoảng 2.600 tỷ đồng vàoquỹ vắc-xin phòng COVID-19; tặng hơn 100.000 máy tính cho chương trình
“Sóng và máy tính cho em”; hỗ trợ người dân về giá điện (khoảng 15.000 tỷđồng), viễn thông (gói cam kết ước tính 8.000 tỷ đồng), xăng dầu cùng vớinhiều trang thiết bị y tế khác phục vụ công tác phòng, chống dịch của đấtnước
II Nguồn vốn dân cư và tư nhân
- Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phầntích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Theo ước tính của
bộ kế hoạch và đầu tư tiết kiệm trong dân cư, các doanh nghiệp dân doanhchiếm bình quân khoảng 15% GDP Trong đó phần tiết kiệm của dân cư thamgia và đầu tư gián tiếp khoảng 3,7% GDP Chiếm khoảng 25% tổng tiết kiệmcủa dân cư Phần tiết kiệm của dân cư tham gia vào đầu tư trực tiếp khoảng5% GDP và 33% số tiết kiệm được
- Với khoảng vài trăm ngàn doanh nghiệp dân doanh, doanh nghiệp tư nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hợp tác xã đã và đang sẽ đi vàohoạt động, phần tích luỹ của doanh nghiệp cũng sẽ đóng góp đáng kể vàotổng quy mô của toàn xã hội Bên cạnh đó, nhiều hộ gia đình cũng đã trởthành các đơn vị kinh tế năng động trong các lĩnh vực kinh doanh, thươngmại, dịch vụ Sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở mức độ nhấtđịnh, các hộ gia
đình cũng sẽ là một trong những nguồn tập trung và phân phối quan trọngtrong nền kinh tế
Trang 10- Nguồn vốn trong dân cư còn phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộgia đình Quy mô tiết kiệm này phụ thuộc vào trình độ phát triển của đấtnước Ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiếtkiệm thấp Tập quán tiêu dùng của dân cư, chính sách động viên của nhànước thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp của xã hội.
III Liên hệ ở Việt Nam.
- Nguồn vốn từ dân cư: Theo thống kê, lượng vàng dự trữ trong khu vực xấp
xỉ 10 tỷ $ tiền mặt và các ngoại tệ khác chiếm xấp xỉ 80% tổng huy động vốncủa toàn thể hệ thống ngân hàng Thực tế, khi phát hành trái phiếu chính phủ
từ khu vực dân cư có thể huy động vốn hàng ngàn tỷ đồng Nhiều hộ kinhdoanh đã trở thành đơn vị kinh tế năng động trong lĩnh vực kinh doanh ở địaphương Ở một mức độ nhất định thì các hộ gia đình sẽ là một số các nguồntập trung và phân phối nguồn vốn quan trọng trong nền kinh tế
- Nguồn vốn từ các công ty, doanh nghiệp tư nhân:
Theo thống kê từ Vietnam Report, khối doanh nghiệp tư nhân trong các nước
có nhiều doanh nghiệp lọt vào bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất ViệtNam năm 2014, chiếm khoảng 44% nhưng tổng doanh thu lại ở mức thấpnhất với 18,6% tổng doanh thu toàn bảng, giảm 0,8% so với bảng xếp hạngnăm trước, cho thấy hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân trong nước thờigian qua đang có dấu hiệu đi xuống Cũng theo thống kê của Vienam reportcũng chỉ ra rằng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp tư nhân trongnước hiện đang ở mức cao nhất, trên 67%, điều đó chỉ ra rằng phần lớn tàisản của khối tư nhân trong nước hiện nay là từ vốn vay, do đó rủi ro tài chínhcủa khối doanh nghiệp này sẽ cao hơn các khối doanh nghiệp khc
Theo đánh giá của World Bank trong báo cáo cập nhật tình hình phát triểnkinh tế Việt Nam (12/2014) số doanh nghiệp trong nước đóng cửa hoặc tạmngừng hoạt động đang ngày càng tăng lên nguyên nhân do doanh nghiệp tư
Trang 11nhân trong nước dường như chịu tác động bởi 3 yếu tố là: tiếp cận nguồn vốnhạn chế, nhu cầu tiêu dùng trong nước thấp và sân chơi bình đẳng so với cáckhu vực doanh nghiệp nhà Chính vì vậy mà việc huy động vốn từ các doanhnghiệp tư nhân cũng trở nên khó khăn hơn, đòi hỏi có những các chính sách
hỗ trợ kèm theo
=> Như vậy, với tính chất phong phú, đa dạng, năng động, linh hoạt củanhiều sáng kiến thì đây là khu vực có cơ sở và trách nhiệm phải sử dụng cóhiệu quả nguồn vốn của mình Tuy nhiên, ở khu vực này cũng chứa đựng rấtnhiều hạn chế như là trốn thuế, nhiều cơ sở làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ gâytổn thất cho nền kinh tế Do đó, chính sách không thông thoáng, quản lý hànhchính lỏng lẻo đã tạo điều kiện cho các công ty “ma” ra đời, lừa đảo và chiếmdụng tài sản nhân dân, gây bức xúc trong xã hội Nhưng không thể phủ nhậnvai trò của các doanh nghiệp tư nhân đến nền kinh tế thị trường Việt Namhiện nay
Bài tập số 3: Khó khăn của Việt Nam trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian qua
I Khái niệm
1.1 Vốn đầu tư nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài được hiểu là nguồn vốn (dưới dạng tiền mặt hoặc tàisản) mà nhà đầu tư của một quốc gia bỏ ra để đầu tư, thực hiện một hoặc một
số hoạt động, dự án sản xuất kinh doanh trong một thời gian nhất định và tạimột, một số địa điểm cụ thể, dưới một hình thức đầu tư nhất định tại mộtquốc gia khác
Hiểu một cách đơn giản hơn, vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn từ nhà đầu
tư (tổ chức/cá nhân) của một quốc gia bỏ ra để đầu tư vào một dự án, hoạtđộng kinh doanh tại quốc gia khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Chẳng
Trang 12hạn dự án đầu tư phát triển kinh tế của Việt Nam có vốn đầu tư từ một tổchức phi chính phủ tại Mỹ, thì nguồn vốn đó gọi là vốn đầu tư nước ngoài.1.2 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt làFDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nướckhác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công tynước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với cácnguồn vốn nước ngoài trực tiếp khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này khôngphát sinh nợ cho nước tiếp cận vốn Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhàđầu tư sẽ nhận dược phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động cóhiệu quả Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinhdoanh vào nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới,đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật công nghệ hay cần nhiều vốn
Vì thế, nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình côngnghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nướcnhận đầu tư
*Nguồn vốn FDI tại Việt Nam
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2020 Việt Nam đã thuhút được tổng số vốn đăng ký trên 377 tỷ USD với tổng số 33.148 dự án từcác quốc gia và vùng lãnh thổ Có 10 quốc gia cam kết với số vốn trên 10 tỷUSD Trong đó đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký 69,3 tỷ USD và9.149 dự án đầu tư (chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư); Nhật Bản đứng thứ haivới 60,1 tỷ USD và 4.674 dự án đầu tư (chiếm gần 15,9% tổng vốn đầu tư),tiếp theo lần lượt là Singapore và Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc chiếm14,8%, 8,9%, 6,6% và 4,7%
Trang 13
Hình 1: Cơ cấu đói tác FDI lớn tại Việt Nam lũy kế đến năm 2020
Trong giai đoạn 2016 - 2020, số quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào ViệtNam ngày càng tăng lên, tính đến cuối năm 2020 thì con số này lên tới 139quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó thì Hàn Quốc là quốc gia có nhiều vốnđầu tư tại Việt Nam nhất với tổng vốn đầu tư chiếm từ 17 - 19% tổng số vốnFDI Đứng thứ hai là Nhật Bản với vốn đầu tư luôn dao động trong khoảng
14 - 17% tổng vốn FDI vào Việt Nam Ngoài 2 nước có số vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài lớn kể trên thì trong giai đoạn 2016 - 2020, Việt Nam cũngnhận được rất nhiều các khoản đầu tư FDI từ các nước và vùng lãnh thổ khácnhư: Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, …
Giai đoạn từ năm 2010 - 2014 vốn FDI đăng ký có sự dao động liên tục vàtăng nhẹ từ 19,89 tỷ USD năm 2010 lên 21,92 tỷ USD vào năm 2014 Từ saunăm 2015 tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam có sự gia tăng mạnh mẽ vàliên tục, với tổng vốn đầu tư vào Việt Nam năm 2015 là 22,7 tỷ USD, thì đếnnăm 2019 con số này tăng lên 38,95 tỷ USD
Năm 2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nền kinh tế toàn cầu bị ảnhhưởng nghiêm trọng nên vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam có sựsụt giảm, chỉ đạt 28,53 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019
Trang 14
Hình 2: Dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2010-2020
Không chỉ gia tăng về số vốn đăng ký, mà vốn FDI thực hiện cũng tăng caohơn trong giai đoạn 2015- 2019, từ 14,5 tỷ USD lên 20,38 tỷ USD; số dự ánđầu tư đăng ký mới tăng từ 1.843 dự án năm 2015 lên 3.883 dự án năm 2019.Đến năm 2020, do chịu ảnh hưởng chung của đại dịch Covid-19, hoạt độngsản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nên các dự án FDIvào Việt Nam có sự sụt giảm cả về vốn đăng ký, và các dự án đăng ký mới,nhưng vốn thực hiện chỉ sụt giảm nhẹ, đạt 98% so với năm 2019 (Bảng 1)
Hình 3: Số lượng vốn và dự án FDI vào Việt Nam giai đoạn 2010-2020
II Khó khăn của Việt Nam trong thu hút vốn FDI
- Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ cho nền kinh tế còn kém so với cácnước khác, kể cả các nước trong khu vực Quy mô nền kinh tế thị trường Việt
Trang 15Nam còn nhỏ so với hầu hết các nước trong khu vực do thu nhập bình quânđầu người thấp.
- Cơ sở hạ tầng pháp lý còn nhiều bất cập, hệ thống pháp luật chưa hoànthiện, còn chung chung, nên phải dựa vào nhiều văn bản hướng dẫn mới đượcthi hành
- Nguồn nhân lực của Việt Nam còn nhiều điểm hạn chế: thiếu đội ngũ quản
lý doanh nghiệp chuyên nghiệp; chất lượng lao động không cao, thể hiện ởchỗ phần lớn số này thiếu kỹ năng chuyên môn như về luật pháp, thị trườngtrong khi một số khác lại bị hạn chế bởi ngôn ngữ
- Công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam vẫn kém phát triển cả về số lượng và chấtlượng Rất ít doanh nghiệp trong nước sản xuất linh kiện, phụ tùng đáp ứngđược yêu cầu của các nhà đầu tư về thiết kế kiểu dáng, tiêu chuẩn chất lượng
và thời hạn giao hàng Do vậy, các dự án gia công, lắp ráp có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài thường phải nhập khẩu linh kiện, phụ tùng, dẫn đến giá thànhcao, sức cạnh tranh giảm
- Mức độ kết nối, lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài đến khu vực đầu tưtrong nước còn thấp, thu hút và chuyển giao công nghệ từ khu vực đầu tưnước ngoài đến khu vực đầu tư trong nước còn chưa đạt được như kỳ vọng,chủ yếu là gia công lắp ráp, tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành thấp, giá trịgia tăng trên một đơn vị sản phẩm chưa cao
- Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam trước hết là vì mục tiêu lợinhuận Hầu hết họ mong muốn làm ăn nghiêm túc, hợp tác với nước chủ nhà
để cùng chia sẻ thành công và lợi ích nhưng cũng có một bộ phận nhà đầu tưthiếu năng lực, thiếu thiện chí Hiện tượng doanh nghiệp chuyển giá, trốnthuế hoặc chưa nghiêm túc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường vẫncòn phổ biến
Trang 16- Chưa có nhiều tập đoàn đa quốc gia trong các lĩnh vực sử dụng công nghệcao, công nghệ nguồn, tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triểncòn ít Thu hút đầu tư nước ngoài vào một số ngành, lĩnh vực ưu tiên và từcác tập đoàn đa quốc gia còn hạn chế.
- Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam
về cơ bản sử dụng công nghệ trung bình hoặc trung bình tiên tiến so với khuvực Một số dự án còn tiêu tốn năng lượng, thâu dụng tài nguyên, gây ônhiễm môi trường
- Chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập, công tácquản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài còn thiếu sự phối hợp từ Trung ươngđến địa phương; Hiệu quả sử dụng đất của nhiều dự án đầu tư nước ngoàichưa cao…
- Có những doanh nghiệp FDI chưa bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng củangười lao động Việt Nam, tuyển dụng lao động nước ngoài, trong đó có laođộng phổ thông, không đúng quy định của pháp luật… Thực trạng này cũngkhiến cho quan hệ lao động trong nhiều thời điểm trở nên căng thẳng, gây bất
ổn chính trị, kinh tế xã hội địa phương, ảnh hưởng không tốt đến môi trườngkinh doanh, đầu tư tại Việt Nam
III Khó khăn của Việt Nam trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đại dịch Covid 19
Đại dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp tiếp tục có tác động không nhỏtới hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp
Trước sự sụt giảm đáng kể số lượng dự án cấp mới và điều chỉnh vốn của các
dự án FDI, lãnh đạo Cục Đầu tư nước ngoài chỉ ra một số nguyên nhân là dothiếu hụt lao động; việc hạn chế nhập cảnh và chính sách cách ly dài ngày;đồng thời, việc phong tỏa nhà máy và hạn chế di chuyển của người lao độngtrong các khu công nghiệp làm đình trệ sản xuất, đứt gãy chuỗi cung ứng
Trang 17cũng góp phần làm ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư mới đang có kếhoạch đầu tư vào Việt Nam.
Một thực tế không thể phủ nhận đó là tác động của Covid-19 tới toàn cầu ởmọi khía cạnh, trong đó có Việt Nam Trong thời gian vừa qua, dưới tác độngcủa Covid-19, hoạt động kinh doanh thương mại chịu ảnh hưởng lớn Bêncạnh đó, việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam cũng gặpnhững khó khăn nhất định Việc hạn chế đi lại giữa các quốc gia đã khiến cácnhà đầu tư nước ngoài phải hủy chuyến công tác tại Việt Nam, việc này đã trìhoãn cơ hội tìm hiểu và quyết định đầu tư tại Việt Nam
Dòng vốn đầu tư nước ngoài toàn cầu suy giảm mạnh cũng làm ảnh hưởngđến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Sự cạnh tranh trong thu hútđầu tư nước ngoài giữa các quốc gia ngày càng gia tăng Hoạt động mua bán
và sáp nhập doanh nghiệp (M&A) toàn cầu giảm sút
Thực tế dòng vốn vào các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi gặp nhiềuthách thức do tác động của dịch bệnh cũng như việc cơ cấu lại chuỗi cungứng toàn cầu Tâm lý lo ngại rủi ro toàn cầu tăng đột biến đã kích hoạt hoạtđộng vốn cổ phần, đặc biệt từ các nền kinh tế đang phát triển và thị trườngmới nổi ở Đông Á và Thái Bình Dương Đặc biệt, làn sóng Covid-19 đangbùng phát mạnh tại khu vực Đông Nam Á đang khiến dòng vốn FDI chảy vàokhu vực này có xu hướng chậm lại
Đối với Việt Nam, việc suy giảm dòng vốn FDI trong thời gian qua ngoàiviệc ảnh hưởng do dịch bệnh thì việc đang áp dụng chính sách thu hút đầu tư
có chọn lọc cũng là một trong những lý do dòng vốn FDI giảm Bên cạnh đó,các thủ tục đầu tư kinh doanh vẫn còn là một rào cản; hoạt động xúc tiến đầu
tư thiếu sự chủ động, kém hiệu quả cũng đã ảnh hưởng tới kết quả thu hút đầu
tư nước ngoài của Việt Nam
Trang 18Vốn đầu tư thực hiện của các dự án đầu tư nước ngoài trong 9 tháng năm
2021 giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước và giảm 5,5 điểm phần trăm sovới 8 tháng năm 2021 Cùng với đó, vốn đầu tư đăng ký mới và vốn đầu tưđiều chỉnh tiếp tục duy trì tăng và đạt mức tăng mạnh hơn so với 8 tháng.Tuy nhiên số lượng dự án cấp mới, điều chỉnh vẫn giảm so với cùng kỳ(tương ứng 37,8% và 15%) Việc suy giảm số dự án này chủ yếu tập trungvào nhóm dự án quy mô nhỏ dưới 5 triệu USD; trong khi số lượng các dự ánquy mô lớn, trên 50 triệu USD vẫn duy trì tăng mạnh trong 9 tháng năm2021
Ví dụ: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam từ năm 2018 đến nay
Trong năm 2020, do tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 mà dòngvốn FDI vào Việt Nam bị sụt giảm sau khi bùng nổ vào năm 2019 (với tổng
số đăng ký lên tới 38,02 tỷ USD) Trong năm 2020, các dự án đầu tư trực tiếpnước ngoài đã giải ngân được 19,98 tỷ USD, bằng 98% so với cùng kỳ năm
2019, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhàđầu tư nước ngoài đạt 28,53 tỷ USD, bằng 75% so với cùng kỳ năm 2019.Trong năm 2020, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành lĩnh vực,trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tưđạt 13,6 tỷ USD, chiếm 47,7% tổng vốn đầu tư đăng ký
Dòng vốn FDI vào Việt Nam năm 2020 có sự sụt giảm, tuy nhiên, trong năm
2021 được kỳ vọng sẽ gia tăng trở lại Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tưnước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoViệt Nam tăng mạnh trong 3 tháng đầu năm 2021 Cụ thể là, tính đến ngày20/3, tổng số vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần củanhà đầu tư nước ngoài đạt 10,13 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ nămtrước Đây là một con số rất ấn tượng, bởi vì cả năm 2020 tổng vốn FDI của
cả nước mới chỉ đạt gần 29 tỷ USD Bên cạnh đó, vốn thực hiện của dự ánFDI ước đạt 4,1 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ
Trang 19Trong 3 tháng đầu năm 20201, sự chuyển tiếp giữa Luật Đầu tư 2014 và LuậtĐầu tư 2020 đã ảnh hưởng tới tình hình cấp mới, điều chỉnh các dự án đầu tưnước ngoài tại Việt Nam Bên cạnh đó, dịch Covid-19 bùng phát trở lại ởnhiều quốc gia và tại Việt Nam cũng làm ảnh hưởng tới việc đi lại cũng nhưcác quyết định đầu tư mới và mở rộng dự án của các nhà đầu tư Vì vậy, số dự
án cấp mới, điều chỉnh vốn cũng như góp vốn mua cổ phần
Bài tập số 4 ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG VÀ THEO CHIỀU SÂU
1 Đầu tư theo chiều rộng
1.1 Khái niệmĐầu tư theo chiều rộng là hình thức đầu tư trên cơ sở cải tạo và mở rộng cơ
sở vật chất kĩ thuật hiện có, xây dựng mới nhưng với kĩ thuật công nghệkhông đổi Đầu tư theo chiều rộng cũng chính là đầu tư mới
Có thể hiểu một cách đơn giản là đầu tư chiều rộng mở rộng sản xuất căn cứvào số lượng, tăng quy mô nhưng không tăng được năng suất lao động vìcông nghệ kĩ thuật không đổi
1.2 Nội dung đầu tư theo chiều rộng
● Đầu tư theo chiều rộng là đầu tư xây dựng mới nhà cửa, cấu trúc hạtầng theo thiết kế đựic phê duyệt lần đầu VD: Đối với lĩnh vực pháttriển của đô thị phát triển theo chiều rộng có thể xem như sự mở rộng
về mặt địa lý, nhưng cũng có nghĩa là mở rộng về mặt hành chính Giảipháp này cho phép tăng các nguồn tài nguyên của đô thị và vì vậy đô thị
ấy sẽ hấp dẫn đầu tư hơn.Đô thị có thể sẽ có nguồn kinh phí dồi dào đểphát triển.Các vùng lãnh thổ của đô thị này sẽ vó thể được đầu tư pháttriển đồng bộ hơn do cùng một cơ quản lý
● Là hoạt động mua sắm máy móc thiết bị để đổi mới thay đổi những thiết
bị cũ theo một dây chuyền công nghệ đã có từ trước.VD: trong một