Chương 4. Sử học thế giới thời cận đại
4.2. Sự ra đời và phát triển của sử học mác-xít
4.2.1. C.Mác và V.I.Lê-nin đối với việc xây dựng và phát triển nền sử học mới
Mặc dù có những tiến bộ nhất định, song sử học trước Mác vẫn giải thích một cách duy tâm những nguyên lý cơ bản của sự phát triển xã hội. Khởi sự phát minh của Mác và Ăng-ghen về quan niệm duy vật đối với lịch sử, việc áp dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên cứu xã hội làm cho khoa học Lịch sử có cơ sở khoa học thực sự về phương pháp luận. Quan niệm duy vật về lịch sử mở một bước ngoặt quan trọng trong việc nhận thức đời sống xã hội. Tuy nhiên sử học vẫn dựa vào những thành tựu của nhiều thế hệ sử học trước kia để phát triển trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Nói về sự phát triển của khoa học xã hội sau khi chủ nghĩa Mác ra đời, V.I.Lê-nin đã viết: “Trước hết các nhà kinh tế cổ điển trong khi phát hiện quy luật giá trị và sự phân
46
chia xã hội ra giai cấp đã xây dựng nên khoa học ấy; các nhà Khai sáng thế kỷ XVIII trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến và tăng lữ đã làm phong phú thêm khoa học ấy; các sử gia, triết gia đầu thế kỷ XX tuy có quan điểm không tiến bộ, nhƣng cũng giải thích rõ hơn vấn đề đấu tranh giai cấp, họ cũng góp phần phát triển phương pháp biện chứng đã áp dụng hoặc bắt đầu áp dụng vào đời sống xã hội. Tất cả những điều này đã góp phần đẩy mạnh khoa học xã hội. Cho nên chủ nghĩa Mác đã có những bước tiến to lớn trên con đường phát triển khoa học ấy. Và vì vậy mà sử học đạt được phát triển cao nhất, so với tất cả khoa học lịch sử, kinh tế học, triết học của châu Âu trước đó” (V.I.Lê- nin toàn tập (20) tiếng Nga).
Ra đời và phát triển nhƣ sự tổng hợp một cách khoa học “toàn bộ kinh nghiệm cách mạng và tư tưởng cách mạng của tất cả các nước trên thế giới” chủ nghĩa Mác đã chứng minh rằng, động lực của lịch sử là do sự sản xuất của cải vật chất, sự phát sinh, phát triển và diệt vong của những phương thức sản xuất kế tiếp nhau quyết định. Chính phương thức sản xuất lại sinh ra tất cả cấu trúc xã hội và những hình thức quan hệ giữa người với người. Trong những quy luật phát triển phương thức sản xuất, Mác tìm ra chìa khóa để nghiên cứu sự vận động của xã hội loài người. Chủ nghĩa Mác đã vạch ra con đường “nghiên cứu lịch sử một cách khoa học, như một quá trình thống nhất, hợp quy luật với tất cả tính chất đa dạng và mâu thuẫn của nó”. Việc áp dụng học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội làm nguyên tắc phương pháp luận để nghiên cứu, phân tích những hiện tương xã hội cụ thể, giúp cho chúng ta “phản ánh đúng, chân thực quá trình lịch sử cụ thể”.
Trên cơ sở ấy, Mác và Ăng-ghen đã chỉ rõ rằng, quá trình phát triển khách quan của lịch sử sẽ xác định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và cuộc đấu tranh thắng lợi tất yếu của cách mạng vô sản, xóa bỏ các giai cấp bóc lột và xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
Mác và Ăng-ghen đã đƣa ra sự phân kỳ lịch sử có cơ sở khoa học từ chế độ cộng sản nguyên thủy đến chế độ cộng sản, qua các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tƣ bản chủ nghĩa.
Trong tác phẩm của mình, Mác, Ăng-ghen chỉ rõ từ khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng thì đấu tranh giai cấp và cách mạng là động lực và có ý nghĩa quan trọng của sự phát triển lịch sử.
Tất cả những nguyên lý ấy đã vũ trang cho khoa học lịch sử sự hiểu biết về những vấn đề chủ yếu và quyết định của sự phát triển xã hội. Mác và Ăng-ghen đã nêu ra những nguyên tắc về chủ nghĩa duy vật lịch sử, bác bỏ “chủ nghĩa lịch sử duy tâm” của nền sử học trước đây, song vẫn kế thừa có chọn lọc những di sản sử học quý báu của loài người.
Công lao của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác là làm cho khoa học lịch sử trở thành một khoa học thực sự chân chính. Nó không chỉ đặt nền móng cho việc nghiên cứu mọi vấn đề xã hội trên cơ sở lịch sử,”… không phải chỉ trong ý nghĩa giải thích quá khứ mà còn có ý nghĩa dự đoán tương lai và những hoạt động thực tiễn dũng cảm để thực hiện tương lai.
Với sự ra đời của chủ nghĩa Mác, sử học mác-xít đƣợc hình thành và hoàn thành công cuộc cách mạng trong khoa học xã hội.
V.I. Lê-nin đã kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa. Trong lĩnh vực sử học, Lê-nin có đóng góp nhiều cho sự phát triển khoa học này.
Trước hết, Lê-nin đã bảo vệ khoa học lịch sử mác-xít chống sự công kích của các nhà sử học tƣ sản và bọn xét lại, tấn công quan điểm duy vật về lịch sử, phủ nhận tính
quy luật của sự phát triển lịch sử và tiến bộ xã hội, phản đối việc thừa nhận khả năng nhận thức lịch sử.
Cống hiến lớn nhất của Lê-nin là việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về khoa học lịch sử. Học thuyết về sự phản ánh của Lê-nin giúp chúng ta giải quyết cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nhận thức quá khứ; Quá khứ có thể nhận thức đƣợc, nó là hiện thực khách quan. Sự nhận thức lịch sử, cùng nhận thức hiện thực nói chung phải xuất phát từ thực tiển.
Lê-nin đã hoàn chỉnh hơn nữa phương pháp nghiên cứu lịch sử. Người viết:
“Phương pháp của Mác trước hết là xem xét nội dung khách quan của quá trình lịch sử trong một thời điểm cụ thể nhất định, tìm hiểu xem trước hết hoạt động của giai cấp nào là động lực chính của sự tiến bộ có thể xảy ra trong hoàn cảnh cụ thể ấy”. Người đặc biệt lưu ý đến quan điểm lịch sử trong nghiên cứu, khi nghiên cứu một sự kiện này “không quên mối liên hệ lịch sử cơ bản, xem xét mỗi vấn đề trên quan điểm là một hiện tƣợng nào đó trong lịch sử đã ra đời nhƣ thế nào, những giai đoạn chủ yếu trong sự phát triển mà hiện tƣợng này trải qua, và trên quan điểm sự phát triển của nó mà xem một vật nhất định hiện nay trở thành cái gì”.
Ngoài những quan điểm nguyên tắc phương pháp luận sử học mác-xít nêu trên, trong các tác phẩm của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin còn tìm thấy nhiều tài liệu, sự kiện rất giá trị. Không ít tác phẩm của các ông là những công trình nghiên cứu lịch sử thực sự. Có thể nói rằng việc hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử có liên quan chặt chẽ với việc các tác gia kinh điển chủ nghĩa Mác – Lê-nin nghiên cứu những vấn đề lịch sử, từ những vấn đề xa xưa của xã hội công xã nguyên thủy đến những vấn đề đang xảy ra trước mắt các ông.
Mác và Ăng-ghen đã tìm hiểu sâu sắc “Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước”, những vấn đề của chế độ phong kiến đến các vấn đề “đang nhảy múa”, “vừa mới xảy ra”
nhƣ “Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ”, “Nội chiến ở Pháp”, Cách mạng 1848 – 1849 ở Pháp và châu Âu. Lê-nin nghiên cứu sâu sắc “Sự phát triển chủ nghĩa tƣ bản ở Nga”, những vấn đề về “Nhà nước và cách mạng”, về cuộc Cách mạng tháng Mười vừa mới thành công và nhiều vấn đề quan trọng cấp thiết của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Học tập, nghiên cứu lịch sử không chỉ phải nắm vững những quan điểm tư tưởng, lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin mà còn phải đi sâu tìm hiểu tài liệu – sự kiện, phương pháp nghiên cứu kỹ các tác phẩm lịch sử đã nêu.
4.2.2. Một số quan điểm cơ bản của sử học mác-xít a. Sử học là một khoa học thực sự, chân chính
Trong tác phẩm “Lut-vích Phơ-bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, Ph. Ăng-ghen viết: “Cái gì là đúng đắn khi áp dụng vào tự nhiên thì cũng áp dụng đƣợc vào lịch sử xã hội trong tất cả các ngành của nó. Lịch sử phát triển xã hội lại khác về cơ bản với lịch sử phát triển của tự nhiên ở một điểm: Trong tự nhiên chỉ có những nhân tố mù quáng vô ý thức tác động lẫn nhau và trong sự tác động tương hỗ của chúng hiện ra quy luật chung… Còn trong lịch sử xã hội chỉ có hoạt động của con người, những con người có ý thức hoạt động theo lý trí hoặc say mê nhằm vào những mục đích nhất định. Ở đây không có cái gì xảy ra mà không có ý đồ, không có mục đích đã định một cách có ý thức. Nhƣng sự khác biệt này mặc dầu là quan trọng đối với công tác nghiên cứu lịch sử, nhất là trong việc nghiên cứu từng thời đại và từng sự cố, nó không thể thay đổi chút nào một sự kiện là quá trình lịch sử bị chi phối bởi những quy luật chung bên trong”. (C.Mác, Ph. Ăng-ghen. Toàn tập. tập 21, tr 306, bản tiếng Nga).
48
Đây là quan điểm khởi đầu để xây dựng nền sử học mới, độc lập và có mối liên hệ chặt chẽ với các khoa học tự nhiên và xã hội khác. Mặc dù có điểm giống nhau, nhƣng khoa học lịch sử không thể sao chép hoàn toàn phương pháp của khoa học tự nhiên, vì đối tượng của khoa học tự nhiên là những vật vô ý thức, còn của sử học là con người có ý thức với những biểu hiện phức tạp của lý trí và nguyện vọng trong mỗi con người. Nếu nhƣ quy luật của tự nhiên đƣợc biểu hiện qua sự lặp lại giống nhau của các hiện tƣợng thì quy luật của lịch sử phải đƣợc nhận thức qua xem xét tổng thể các sự kiện và mối liên hệ giữa các sự kiện, vì “có vô số những lực giao nhau và những nhóm bình hành lực và tổng hợp tất cả những lực lại tạo nên một hợp lực tức là biến chuyển lịch sử” (C.Mác, Ph.
Ăng-ghen. Toàn tập. tập 21, tr 395, bản tiếng Nga).
Phương pháp duy vật biện chứng khi áp dụng để xem xét lịch sử xã hội đã dẫn đến sự hình thành lý luận và phương pháp của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khám phá ra cơ chế của sự phát triển, đƣa ra một mô hình về việc giải thích sự phát triển của lịch sử qua việc diễn giải ba mâu thuẫn nội tại của xã hội và cũng có thể hiểu nhƣ là những quy luật cơ bản của sự phát triển xã hội:
Mâu thuẫn thứ nhất quy định về sự phát triển của xã hội là mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên (đây là mâu thuẫn chủ yếu). Đó là mâu thuẫn của ý thức với vô ý thức. Con người bằng hành động của mình, tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên, bắt tự nhiên phải hoạt động theo ý muốn của mình. Việc giải quyết mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên làm cho lực lƣợng sản xuất ngày càng phát triển. Mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa lực lƣợng sản xuất với quan hệ sản xuất. Lực lƣợng sản xuất là nhân tố động, phát triển không ngừng, đến một lúc nào đó không còn phù hợp với quan hệ sản xuất đang chi phối, và phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, làm nảy sinh một quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lƣợng sản xuất phát triển. Mâu thuẫn thứ ba là mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thƣợng tầng. Khi quan hệ sản xuất cũ bị phá vỡ, quan hệ sản xuất mới đƣợc thiết lập, thƣợng tầng kiến trúc cũ không còn phù hợp nên mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất mới (cơ sở hạ tầng) với kiến trúc thượng tầng cũ (tư tưởng chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, triết học và những thể chế tương ứng như nhà nước, chính đảng, giáo hội…) đã dẫn đến sự phá vỡ kiến trúc thƣợng tầng cũ và hình thành nên kiến trúc thƣợng tầng mới phù hợp với quan hệ sản xuất mới. Với đối tượng, chức năng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của mình, sử học là một khoa học.
b. Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội
Các hệ thống lực lƣợng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thƣợng tầng hợp thành một cấu trúc xã hội mà C.Mác gọi là hình thái kinh tế - xã hội. C.Mác và Ph.Ăng- ghen đã chứng minh rằng: trong quá trình phát triển, xã hội loài người đã trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội và nhƣ vậy toàn bộ thời kỳ lịch sử đã qua là sự phát sinh, phát triển và diệt vong của các hình thái kinh tế - xã hội.
Sự thay đổi từ hình thái xã hội này sang hình thái xã hội khác đƣợc tiến hành thông qua cách mạng xã hội. Cách mạng xã hội nổ ra khi mâu thuẫn giữa lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất không thể điều hòa và chỉ thông qua cách mạng xã hội thì quan hệ sản xuất lạc hậu mới bị phá bỏ để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Thừa nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, đi tới chấp nhận thuyết đấu tranh giai cấp.
c. Học thuyết về đấu tranh giai cấp
Chủ nghĩa Mác vạch rõ những nguyên nhân của sự phân chia giai cấp trong xã hội và chứng minh vai trò của cuộc đấu tranh giai cấp trong sự phát triển của xã hội. Năm 1852, C.Mác viết: “Tôi không hề có công phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại và sự đấu tranh giữa những giai cấp đó. Điều mới mẻ mà tôi đã làm là chứng
minh rằng: 1/Sự tồn tại của giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển của sản xuất. 2/ Đấu tranh giai cấp tất nhiên dẫn đến chuyên chính vô sản. 3/ Bản thân sự chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến lên xóa bỏ mọi giai cấp và tiến lên một xã hội không có giai cấp”. (C.Mác, Ph. Ăng-ghen. Tuyển tập, tập 2. NXB Sự thật, Hà Nội, tr. 552).
Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội và đấu tranh giai cấp là hai hòn đá tảng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Nó giải thích đúng đắn sự phát triển đi lên, hợp quy luật của xã hội loài người. Nó là những quan điểm cơ bản của phương pháp luận sử học. Vì vậy, kẻ thù của giai cấp vô sản đã tấn công mạnh mẽ vào học thuyết này.
d. Chức năng nhiệm vụ của khoa học lịch sử
Sự phát hiện ra những quy luật cơ bản chi phối sự vận động của xã hội đã cho phép các nhà sử học xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của sử học. C.Mác đã chỉ rõ rằng sự hiểu biết về quá khứ là sức mạnh to lớn nằm trong tay con người, là công cụ không chỉ để nhận thức thế giới mà còn để cải tạo thế giới. Những điều C.Mác nói với các nhà triết học trong cuốn “Luận cương về Phơ-bách” cũng chính là nói về lịch sử: “Các nhà triết học trước kia giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau. Song vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới” (C.Mác, Ph. Ăng-ghen. Tuyển tập, tập 2. NXB Sự thật, Hà Nội, tr. 493).
e. Phương pháp nghiên cứu lịch sử
Chủ nghĩa Mác có công lao to lớn trong việc đề ra phương pháp nghiên cứu lịch sử. Sự phê phán sử liệu của khoa học lịch sử trước Mác mặc dù đã đạt được những thành tựu rất to lớn nhƣng vẫn mắc phải nhƣợc điểm rất cơ bản là nó chỉ có thể vạch ra từ nguồn sử liệu những động cơ tư tưởng biểu hiện quyền lợi cá nhân của bản thân tác giả sử liệu. Chủ nghĩa Mác chỉ rõ rằng đằng sau lợi ích cá nhân là lợi ích của tập đoàn xã hội và các giai cấp khác nhau của xã hội. Điều này cho phép các nhà sử học đi sâu vào bản chất và cấu trúc của tƣ liệu, phê phán sử liệu đầy đủ và chính xác.
Chủ nghĩa Mác có vai trò hết sức to lớn, quan trọng đối với sử học cũng nhƣ sự phát triển của sử học. Ngay sau khi ra đời chủ nghĩa Mác đã nhanh chóng tác động đến sử học, làm hình thành một nền sử học mác-xít trẻ tuổi trong nhiều nước châu Âu.
Tính khách quan của chủ nghĩa Mác trong việc lý giải vấn đề lịch sử và phương pháp nghiên cứu lịch sử chính là cơ sở để sử học mác-xít chiến thắng trong cuộc đấu tranh tư tưởng với các sử gia tư sản. Vận dụng chủ nghĩa Mác vào nghiên cứu lịch sử, các nhà sử học chân chính ngày càng có thêm khả năng khám phá ra bản chất của lịch sử, góp phần đắc lực trong việc thúc đẩy quá trình phát triển của xã hội.
Câu hỏi hướng dẫn học tập
1. Nêu những nét chính bối cảnh ra đời của sử học Khai sáng ở châu Âu.
2. Nêu nội dung chủ yếu của sử học Khai sáng ở một số nước.
3. Phân tích tính chất biện chứng và duy tâm trong triết lý lịch sử của Hê-ghen.
4. Sử học tư sản vào nửa thế kỷ XIX có những đóng góp gì vào sự phát triển khoa học lịch sử?
5. Nêu những nội dung cơ bản của các khuynh hướng sử học tư sản nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
6. Giải thích vì sao với sự ra đời của chủ nghĩa Mác, lịch sử trở thành một khoa học thực sự chân chính?