Chương 5. Sử học thế giới thời hiện đại
5.1. Khái quát sử học mác-xít từ năm 1917 đến năm 2000
Tiếp theo những thành tựu mà C.Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I.Lê-nin đã đạt đƣợc trong buổi đầu, sử học mác-xít từ sau Cách mạng tháng Mười phát triển mạnh mẽ, thu đƣợc nhiều kết quả to lớn trên nhiều mặt của khoa học lịch sử, dù có nhiều biến động lớn trên thế giới và trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Trước hết là những thành tựu về phương pháp luận sử học được các nhà sử học mác xít giải quyết ngày một hoàn chỉnh.
Các tác phẩm lớn như “Phương pháp luận sử học” của E.M.Giu-côp (Liên Xô),
“Phương pháp luận sử học” của Tô-pôn x-ki (Ba Lan) và của các nhà sử học mác xít khác đã góp phần lý giải đúng đắn nhiều vấn đề về nguyên tắc của phương pháp luận sử học, như phương pháp luận đối tượng và phương pháp luận nhận thức, phương pháp luận trình bày…
Sử học mác-xít đã góp phần quan trọng trong việc chứng minh rằng lịch sử là sự thay đổi hợp quy luật của các hình thái kinh tế - xã hội; quá trình lịch sử là quá trình phát triển biện chứng, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của lịch sử, các tổ chức nhà nước, luật pháp tư tưởng, văn hóa phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, xã hội… Cụ thể, những vấn đề lớn mà các nhà sử học mác-xít đã triển khai nghiên cứu bao gồm: Phần lịch sử thời kỳ nguyên thủy, tập trung nghiên cứu kêt cấu kinh tế xã hội; phần lịch sử cổ đại, trung đại chú ý các cuộc đấu tranh giai cấp, sự tiến bộ về kinh tế - xã hội, văn hóa; phần lịch sử cận đại, các vấn đề trọng tâm đƣợc nghiên cứu là các cuộc cách mạng tƣ sản, lịch sử công nghiệp tư bản chủ nghĩa, tình cảnh giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, lịch sử của chủ nghĩa Mác; phần lịch sử hiện đại đƣợc chú ý nhiều với các trọng tâm: tính chất nội dung của thời đại ngày nay, vai trò và vị trí to lớn của hệ thống xã hội chủ nghĩa trong sự phát triển của lịch sử, các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga), công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, các cuộc chiến tranh thế giới, quá trình tan rã hệ thống thuộc địa và sự ra đời của các quốc gia độc lập, các vấn đề về chủ nghĩa đế quốc, lịch sử phong trào công nhân quốc tế, lịch sử đảng…
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học, các nhà sử học mác-xít đã sưu tầm được một khối lƣợng lớn nhiều tƣ liệu khác nhau về đời sống xã hội. Để lấp dần những khoảng trắng trong lịch sử quá khứ, sử học mác-xít luôn mở rộng phạm vi nghiên cứu, vươn tới mọi mặt và mọi lĩnh vực hoạt động xã hội. Có thể khẳng định rằng, không một vấn đề, một biến cố hay quá trình nào trong đời sống xã hội mà khoa học lịch sử mác-xít không chú ý nghiên cứu.
52
Sử học mác-xít không chỉ sưu tầm, thu thập sự kiện và sắp xếp thành hệ thống mà còn xác định mối quan hệ giữa các sự kiện, phát hiện những quy luật trong sự phát triển của các biến cố, bởi vì sử học mác-xít tái tạo quá khứ để đòi hỏi quá khứ phải giải thích hiện tại và dự đoán tương lai.
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt đƣợc, sử học mác-xít cũng có những hạn chế. Ngay từ sớm, những biểu hiện của bệnh xơ cứng, giáo điều đã xuất hiện trong sử học mác-xít. Đặc biệt, sau khi Ăng-ghen qua đời (1895), đã xuất hiện mầm mống của các khuynh hướng xa rời chủ nghĩa Mác hoặc biến chủ nghĩa Mác thành thành một thứ “khoa học thực chứng”. Các công trình này dựa trên các khái niệm một cách công thức, không thấy sự phát triển của bản thân lịch sử và sử học cũng nhƣ các khoa học có liên quan, không nhìn thấy mối quan hệ biện chứng giữa các hiện tƣợng của thƣợng tầng kiến trúc với hạ tầng cơ sở (Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các tác phẩm “Học thuyết kinh tế của C.Mác‟ (1887), “Cách mạng xã hội” (1902), “Con đường tới chính quyền” (1910) của K.Kaustky). V.I.Lê-nin đã vạch trần các khuynh hướng sai lầm này. Trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm của Mác về vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử để tìm hiểu các sự kiện lịch sử. Điều này thể hiện trong các quyển “Sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản ở Nga” (1898) hay “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tƣ bản”
(1916). Lê-nin rất chú trọng sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn, giữa tri thức thực tiễn và hành động cải tạo thực tiễn. Điều này đƣợc phản ánh trong những tác phẩm như “Làm gì” (1902), “Nhà nước và cách mạng” (1917). Đáng tiếc là những hạn chế của một số nhà sử học mác-xít không đƣợc khắc phục sau khi Lê- nin qua đời (1924).
Sức mạnh của sử học mác-xít từ sau Cách mạng tháng Mười thắng lợi thể hiện ở cuộc đấu tranh trên lĩnh vực sử học nói chung, trên mặt trận quan điểm tư tưởng về phương pháp luận nói riêng. Cuộc đấu tranh này rất gay go phức tạp, vì những kẻ thù của chủ nghĩa Mác, của chủ nghĩa xã hội ra sức xuyên tạc lịch sử và tấn công vào học thuyết Mác – Lê-nin về lịch sử. Cuộc đấu tranh này không chỉ diễn ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ra đời từ năm 1945 mà còn diễn ra quyết liệt ở các nước tư bản, kể cả trong hàng ngũ những nhà sử học mác-xít. Cuộc đấu tranh đƣợc tiến hành trên trận địa chống xuyên tạc lịch sử, tập trung vào chủ đề về các cuộc cách mạng vô sản, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế, các nước xã hội chủ nghĩa. Trên mặt trận tư tưởng, lý luận sử học, cuộc đấu tranh bao giờ cũng diễn ra quyết liệt, đặc biệt việc tấn công vào các học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.
Trong cuộc đấu tranh này các nhà sử học mác-xít ở nhiều nước tư bản đế quốc, ở các nước xã hội chủ nghĩa, các nước thuộc địa hay các nước mới giành được độc lập bao giờ cũng tỏ ra dũng cảm, thông minh, sáng tạo. Với những thành tựu to lớn đã đạt đƣợc trong nghiên cứu lịch sử, sử học mác-xít không chỉ vạch trần các luận điệu phản động mà còn có sức thuyết phục đối với đông đảo quần chúng nhân dân. Tính ƣu việt của sử học mác-xít đƣợc thể hiện ở nhiều công trình lịch sử có giá trị khoa học.
Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy những yếu kém của sử học mác-xít từ Cách mạng tháng Mười Nga 1917. Đó là các bệnh công thức, giáo điều trong việc vận dụng một cách máy móc, rập khuôn chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào nghiên cứu lịch sử. Đó là sự phát triển khá chậm của việc ứng dụng khoa học – kỹ thuật vào công tác nghiên cứu.
Dù có những sai lầm, hạn chế, song sử học mác-xít từ sau 1917 có điều kiện và khả năng phát triển, cống hiến cho nhân loại nhiều công trình thực sự có giá trị trong việc khôi phục diện mạo của quá khứ, tiên đoán sự phát triển hợp quy luật của tương lai. Sử
học mác-xít là phương tiện, vũ khí trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân bị áp bức trên thế giới, đang đấu tranh cho độc lập tự do, văn minh và tiến bộ xã hội.
Chúng ta tìm hiểu những thành tựu của sử học mác-xít ở một số nước xã hội chủ nghĩa.
Ở Liên Xô, sau Cách mạng tháng Mười, sử học mác-xít trở thành sử học chính thống của đất nước Xô Viết.. Nền sử học Xô Viết được ra đời trên cơ sở các tác phẩm của Lê-nin về lịch sử. Đồng thời, các sử gia Xô Viết cũng đã tiếp thu có chọn lọc, có phê phán di sản của sử học tƣ sản.
Những năm sau Cách mạng tháng Mười, sử học mác-xít ở Liên Xô đã đấu tranh chống các quan điểm lịch sử của tƣ sản, địa chủ, Men-sê-vích để xác lập sự thắng lợi của phương pháp luận sử học mác-xít. Chính phủ Xô Viết coi trọng, tạo điều kiện cho công tác nghiên cứu lịch sử phát triển như mở các phòng lưu trữ, thành lập các cơ quan nghiên cứu lịch sử, thành lập các Viện Hàn lâm xã hội chủ nghĩa (1918), Ban nghiên cứu lịch sử Đảng và Cách mạng tháng Mười (1920), Viện Mác – Ăng-ghen – Lê-nin (1921 – 1923), xuất bản nhiều tạp chí khoa học… Trong bối cảnh đất nước đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng của tình hình sau Cách mạng tháng Mười, những hoạt động trên đây nói lên sự quan tâm của chính quyền Xô Viết đối với sử học.
Sử học Xô Viết đã có nhiều đóng góp to lớn trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941 – 1945), thông qua các công trình nghiên cứu lịch sử Nga, lịch sử các nước cộng hòa trong Liên bang Xô Viết, lịch sử các nước đế quốc (Anh, Pháp, Mỹ, Đức…), lịch sử các nước thuộc địa và phụ thuộc (Trung Quốc, Ấn Độ…) Phạm vi nghiên cứu khá rộng lớn từ những vấn đề lịch sử nguyên thủy đến lịch sử hiện đại, các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… những vấn đề lý luận, chẳng hạn những công trình khoa học có giá trị về thời cổ đại của Jebelep, Misulin, thời trung đại của Ti-khô-mi-rốp, X-mi-a-nốp, về các cuộc cách mạng tƣ sản của A. Ê-phi- mốp…
Trên cơ sở học thuyết mác-xít về quy luật và bản chất của phương thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, lần đầu tiên các nhà sử học mác-xít làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lịch sử thời kỳ tƣ bản chủ nghĩa nhƣ Cách mạng công nghiệp ở Pháp (của F.V.Potemkin), lịch sử công nghiệp tƣ bản chủ nghĩa và tình trạng giai cấp công nhân. Lịch sử về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng nhƣ lịch sử về phong trào giải phóng dân tộc là những trọng tâm nghiên cứu của sử học Xô Viết đã đạt đƣợc nhiều thành tựu. Tiêu biểu là các công trình “Lịch sử phong trào công nhân ở Anh” của F.A.Rôt-kin, “Lịch sử phong trào công nhân ở Nga” của A.M.Pa-nu-tô-va, về nguồn gốc và sự hình thành của giai cấp công nhân ở nhiều nước của A.G.Ra-sin, L.M.Iva-nốp, về phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông của A.A.Kim, g.Gube…
Những thành tựu lớn về sử học Xô Viết thể hiện tập trung trong các công trình nhiều tập về “Lịch sử thế giới”, “Lịch sử Liên Xô”, “Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941 – 1945)”, bộ “Bách khoa toàn thƣ lịch sử Xô Viết”.
Tuy nhiên, những sai lầm về nhận thức chủ nghĩa xã hội, việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, tệ sùng bái chủ nghĩa cá nhân, chế độ quan liêu bao cấp… ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của sử học Xô Viết. Không ít công trình chỉ là sự minh họa, áp đặt của đường lối chính trị, ý kiến cá nhân. Một số tài liệu lịch sử bị bưng bít hay xuyên tạc làm cho người nghiên cứu không có điều kiện nhận thức sự thật, điển hình như những vấn đề đƣợc nêu trong quyển “Lịch sử Đảng cộng sản (b) Liên Xô” (1938), những cuộc thanh trừng lớn năm 1936 – 1938, công cuộc tập thể hóa nông thôn…
54
Những sai lầm, hạn chế nhƣ vậy không thể làm lu mờ những thành tựu của sử học Xô Viết và ảnh hưởng tích cực của nó trên thế giới.
Từ sau khi Liên Xô sụp đổ, sử học Nga tuy có xem xét lại nhiều vấn đề nghiên cứu của sử học Xô Viết, song vẫn trân trọng những thành tựu đã đạt đƣợc về tìm hiểu, đánh giá lại một số vấn đề nhƣ về X-ta-lin, về những chiến công lẫy lừng của Liên Xô trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trong xây dựng đất nước…
Ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây, ở Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba, Việt Nam sử học mác-xít cũng phát triển và có nhiều thành tựu đáng kể.
Ở Trung Quốc, việc tổ chức nghiên cứu lịch sử đến năm 1953 – 1954 thì hoàn thành, các Viện sử học hiện đại, Viện Khảo cổ học cũng đƣợc thành lập thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc.
“Lƣợc khảo lịch sử Trung Quốc” trình bày lịch sử dân tộc từ thời cổ đại đến thế kỷ XX là một công trình quy mô lớn đầu tiên, do giáo sƣ Viện sĩ Quách Mạt Nhƣợc chủ biên. Công trình đề cập và giải quyết nhiều vấn đề quan trọng, đƣợc tranh luận nhiều năm trong giới sử học nhƣ vấn đề về hình thái của thời cổ đại và trung đại Trung Quốc, đặc trƣng của chế độ nô lệ và chiếm hữu nô lệ Trung Quốc, chế độ tỉnh điền, công xã cổ đại Trung Quốc, những cuộc khởi nghĩa nông dân.
Công tác thu thập, hệ thống hóa và chú giải tƣ liệu lịch sử, những văn kiện… đƣợc coi trọng và hoàn thành các tập “Sưu tầm những tư liệu lịch sử nông nghiệp của Trung Quốc thời hiện đại”… Các công trình chuyên khảo lịch sử đƣợc công bố trong bộ sách nhiều tập “Trung Quốc lịch sử toàn thƣ”, các tạp chí “Nghiên cứu Lịch sử”, “Tân nghiên sách”, “Khảo cổ” đã công bố nhiều công trình khoa học chất lƣợng.
Trong thời kỳ “Cách mạng văn hóa” và nhiều năm sau đó, việc nghiên cứu lịch sử Trung Quốc bị đình trệ. Việc khắc phục hậu quả của “Cách mạng văn hóa” cũng nhƣ những tư tưởng không lành mạnh về “Chủ nghĩa dân tộc”, tư tưởng “Dân tộc lớn”, những khuynh hướng “tả” … là nhiệm vụ cấp bách của sử học Trung Quốc. Trước yêu cầu đó, tại Hội nghị Trung ƣơng III lần thứ 11, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã vạch rõ sai lầm
“tả khuynh” và bắt đầu thời kỳ mới của sử học Trung Quốc.
Trải qua một thời kỳ dài chống tư tưởng “tả khuynh”, sử học Trung Quốc đã có những bước tiến dài trong việc khẳng định địa vị và tác dụng của sử học trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc. Những vấn đề nhƣ: công năng xã hội của sử học; mối quan hệ giữa sử học với sự nghiệp xây dựng hiện đại hóa; sự sống còn của sử học trong điều kiện kinh tế thị trường… đều là những vấn đề được giới sử học quan tâm và thảo luận sôi nổi. Với tinh thần “Giải phóng tư tưởng thực sự cầu thị”, công tác nghiên cứu lịch sử ở Trung Quốc đã có những đổi mới và đạt đƣợc những thành tựu to lớn: công tác nghiên cứu lịch sử ngày càng gắn với hiện thực; đối tƣợng của nghiên cứu lịch sử ngày càng trở nên đa dạng, phong phú; công tác nghiên cứu lịch sử văn hóa, lịch sử xã hội, lịch sử chế độ chính trị, nghiên cứu hiện đại hóa ở Trung Quốc… càng được đẩy mạnh. Một số hạn chế trước đây trong nghiên cứu về lịch sử Trung Quốc như quá coi trọng đấu tranh giai cấp, xem đó là động lực phát triển xã hội; coi “hiện thực cách mạng chủ yếu là cách mạng nông dân và chiến tranh nông dân…” đã đƣợc khắc phục. Từ đó một số nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử như Phong trào Dương Vụ đã được nghiên cứu và đánh giá lại. Việc nghiên cứu hiện đại hóa cũng đƣợc xây dựng và đẩy mạnh trên cơ sở những nhận thức mới về công tác nghiên cứu lịch sử. Tất nhiên, việc nghiên cứu khắc phục hậu quả của “Cách mạng văn hóa” cũng như những tư tưởng không lành mạnh về
“chủ nghĩa dân tộc”, tư tưởng “dân tộc lớn”, những khuynh hướng “tả”… đang đòi hỏi các nhà sử học Trung Quốc nỗ lực nhiều hơn trong công tác nghiên cứu của mình.
Sử học mác-xít ở các nước xã hội chủ nghĩa khác cũng có nhiều bước tiến đáng kể trong nghiên cứu lý luận (Ba Lan, Cộng hòa dân chủ Đức…) và biên soạn lịch sử. Trong sự khủng hoảng của chế độ xã hội chủ nghĩa, sử học ở các nước này cũng phạm phải không ít sai lầm mà Liên Xô đã phạm phải.
Sử học mác-xít trong những năm 50 – 70 của thế kỷ XX cũng phát triển ở các nước tư bản, đế quốc, các nước độc lập dân tộc. Cuộc đấu tranh chống các khuynh hướng sử học phi mác-xít đã diễn ra gay go, phức tạp, song sử học mác-xít cũng tỏ rõ sức mạnh, ƣu thế của mình.
Sau khi Liên Xô tan vỡ, chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Đông Âu, sử học mác-xít gặp không ít khó khăn, song đang được đổi mới ở Việt Nam, Trung Quốc… và sẽ vươn lên mạnh mẽ.