Chương 4. Sử học thế giới thời cận đại
4.1. Sử học tƣ sản
Giai cấp tƣ sản dần trở thành giai cấp thống trị: từ giai cấp tiến bộ đang lên nó dần trở thành phản động, cản trở sự phát triến của lịch sử. Sử học của giai cấp tƣ sản cũng thay đổi tính chất nhƣ vậy.
4.1.1. Sử học tƣ sản thời Khai sáng
Từ thế kỷ XVII, đặc biệt trong thế kỷ XVIII cuộc đấu tranh chống thế giới quan phong kiến, tôn giáo diễn ra quyết liệt. Trong cuộc đấu tranh này, sử học tƣ sản tuy mới hình thành, đã thể hiện thái độ khoa học đối với lịch sử. Trong buổi đầu của thời cận đại, sử học Khai sáng có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh chống thế giới quan phong kiến, tôn giáo – cơ sở tư tưởng của sử học phong kiến.
Trào lưu tư tưởng mới của giai cấp tư sản tiến bộ đã truyền bá rộng rãi các tri thức khoa học trong các tầng lớp nhân dân nhằm chống chế độ phong kiến, mà trước hết là giáo hội, chỗ dựa tinh thần của chế độ phong kiến. Trong bối cảnh thuận lợi đó, mặc dù ở các nước tư bản, sử học Khai sáng có những nét khác nhau, song có những nét chung nhất định. Nó là một bộ phận của trào lưu tư tưởng của thời đại chủ nghĩa tư bản đang
lên, khi mà cuộc đấu tranh chống chế độ chuyên chế biểu hiện trên mọi lĩnh vực và trở thành trung tâm của đời sống xã hội, mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Trong điều kiện mà những mâu thuẫn nảy sinh trong mối quan hệ kinh tế- xã hội mới của chủ nghĩa tƣ bản chƣa phát triển gay gắt, thì cuộc đấu tranh để giải phóng khỏi thế giới quan phong kiến, thần học về thực chất là cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến. Có thể nói, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng đã dọn đường cho cuộc đấu tranh xã hội mà phần thắng thuộc về giai cấp tư sản. Tùy tình hình cụ thể của mỗi nước ở châu Âu mà tư tưởng, văn hóa nói chung, sử học nói riêng của thời kỳ Khai sáng cũng khác nhau.
Ở Pháp, đại diện điển hình cho nền văn hóa, tư tưởng Khai sáng châu Âu, các nhà sử học đã nêu vấn đề về quy luật trong lịch sử mà từ trước đến nay chưa ai nêu được rõ ràng.
Trước đó, các nhà tư tưởng Anh, Hà Lan vào thế kỷ XVII như G-rô-si, Hôp-pơ cũng nên lên những vấn đề lý thuyết về sự phát triển xã hội, song lại đồng nhất quy luật tự nhiên với quy luật xã hội, xem lịch sử loài người là một quá trình bị chi phối chặt chẽ của quy luật tự nhiên. Các nhà sử học Khai sáng Pháp lại tìm quy luật lịch sử trong bản chất con người, trong mối quan hệ con người với tự nhiên. Những nhận thức về quy luật lịch sử có một ý nghĩa quan trọng để biến lịch sử thành một khoa học.
Các nhà sử học Khai sáng Pháp đề ra việc biên soạn lịch sử thế giới, vì họ xuất phát từ việc thừa nhận sự thống nhất của xã hội loài người, sự cần thiết phải nghiên cứu lịch sử các dân tộc phát triển từ thấp đến cao. Mông-te-x-ki-ơ nêu học thuyết về hoàn cảnh địa lý đến với sự phát triển của xã hội. Nhiều nhà sử học bác bỏ quan niệm bó hẹp việc nghiên cứu lịch sử trên lĩnh vực chính trị mà chủ trương nghiên cứu các mặt khác của đời sống xã hội (kinh tế, văn hóa, giáo dục, tư tưởng…).
Ở Anh, các nhà sử học Khai sáng trên lập trường chống phong kiến, chống giáo hội đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lịch sử chế độ phong kiến trong thời trung đại nhƣ vấn đề ruộng đất của nông dân, viêc bóc lột địa tô phong kiến.
Ở Đức, nhà khai sáng nổi tiếng Hec-đe đã phát triển tư tưởng về sự thống nhất và tính quy luật của sự phát triển lịch sử. Ông nêu những mâu thuẫn trong quá trình phát triển lịch sử, song lại cho rằng sự phát triển này sẽ đến đỉnh cao nhất – lòng nhân đạo.
Quan điểm của Hec-đe vẫn còn tính chất duy tâm, song mang những yếu tố duy vật tự phát.
Ở Nga, vào thế kỷ XVIII tuy chế độ phong kiến nông nô còn ngự trị, song các nhà sử học cũng có những quan điểm tiến bộ nhƣ xem lịch sử là lịch sử chính trị của quốc gia. M.V. Lô-mô-nô-xốp muốn nghiên cứu lịch sử dân tộc trong phạm vi thế giới, tìm hiểu các giai đoạn thịnh suy thay nhau trong lịch sử. Lô-mô-nô-xốp xem lịch sử là một phương tiện giáo dục cho nhân dân lòng yêu nước và đạo đức. A.N. Ra-đi-xếp nghiên cứu lịch sử trên quan điểm cách mạng, làm công cụ chống chế độ chuyên chế và chế độ nông nô.
Nhìn chung, sử học Khai sáng đạt đƣợc những thành tựu cụ thể:
Thứ nhất, các nhà sử học Khai sáng đã có sự tiến bộ trong việc giải thích sự phát triển của lịch sử. Họ đã thoát khỏi những quan niệm sai lệch về nguyên nhân có tính chất huyền bí của sự phát triển xã hội (do thần linh, các lực lƣợng siêu nhiên tạo ra), tìm thấy động lực sự phát triển nằm ngay trong bản thân tự nhiên và xã hội đó là các nhân tố khí hậu, địa lý, văn hóa, kinh tế…
30
Nhân tố địa lý đƣợc các nhà Khai sáng rất chú trọng khi nghiên cứu lịch sử.
Mông-te-x-ki-ơ (1689 – 1755), một trong những người xây dựng lý luận địa lý – xã hội học cho rằng: bộ mặt tinh thần của một dận tộc, tính chất của pháp luật và những tổ chức của dân tộc đó phụ thuộc vào khí hậu, đất đai, diện tích rộng hẹp của lãnh thổ mà dân tộc đó sống. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, ông khẳng định, pháp luật không chỉ là kết quả của những mối quan hệ khách quan mà còn là do lý tính định ra. Lý tính dựa trên tinh thần dân tộc, mà tinh thần dân tộc lại do điều kiện địa lý quyết định. Hec-đe (1741 – 1803), nhà sử học Đức, trong tác phẩm “Những tư tưởng về triết lý lịch sử của loài người” khi phác họa bức tranh lịch sử phát triển của nhân loại đã coi địa lý là nhân tố quan trọng quy định tính chất dân tộc và tất cả các hiện tƣợng khác của dân tộc đó. Ông cho rằng, sự phân tán về chính trị của I-ta-li-a là do yếu tố địa hình núi non phức tạp của nước này, còn sự lạc hậu của châu Á là do tính đơn điệu của thiên nhiên châu Á.
Nhân tố văn hóa cũng đƣợc các nhà sử học Khai sáng tìm hiểu. Hu-mơ, nhà triết học Đức và là tác giả của bộ Lịch sử nước Anh gồm 19 tập cho rằng sự thay đổi về mặt xã hội chủ yếu là do kết quả của việc di dân và tiếp xúc văn hóa thông qua việc trao đổi, buôn bán. Ông đƣợc mệnh danh là “nhà quyết định luận văn hóa”, vì coi trọng yếu tố văn hóa trong sự phát triển của lịch sử.
Nhân tố kinh tế đƣợc các nhà sử học Anh đặc biệt quan tâm, vì ở Anh đã có những thay đổi sâu sắc trong nền kinh tế do cuộc cách mạng công nghiệp sớm diễn ra vào thế kỷ XVIII đƣa lại. Giôn-min La-rô (1735 – 1801), nhà sử học X-cốt-len trong cuốn
“Quan sát những sự khác biệt của các trạng thái xã hội” khẳng định rằng, ngoài khí hậu và dân số, nhân tố kinh tế cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội. Ông xem nguồn gốc hình thành chính quyền là do sự xuất hiện của chế độ sở hữu và sự phân phối không đồng đều của chế độ đó. A-đam S-mít (1733 – 1790), nhà sử học Anh, trong tác phẩm
„Nghiên cứu về tự nhiên và những nguyên nhân giàu có của các dân tộc” cũng đã xem xét sự phát triển của xã hội gắn liền với các điều kiện kinh tế, con người là sản phẩm của hoàn cảnh chung quanh.
Nhân tố chính trị, luật pháp đƣợc Hên-vên (Helveins, 1715 – 1771), một đại biểu của chủ nghĩa duy vật và vô thần luận Pháp nêu ra. Hên-vên cũng cho rằng con người là sản phẩm của hoàn cảnh xung quanh, tính cách con người không phải bẩm sinh mà do hoàn cảnh sinh sống và các tổ chức chính trị quy định. Hoàn cảnh xã hội lại do luật pháp hiện hành tạo ra. Vì vậy, ông khẳng định “luật pháp tạo ra tất cả”, mà bản thân luật pháp lại do những tư tưởng đang thống trị xã hội quy định. Cách lập luận như vậy sẽ dẫn tới việc xác nhận vai trò quyết định của giai cấp cầm quyền.
Ngoài ra còn có những nhà sử học giải thích sự biến đổi của xã hội theo quan điểm quyết định luận. Tiêu biểu trong số này là nhà sử học I-ta-li-a, J.Vico (1668 – 1744). Một mặt Vico thừa nhận sự tồn tại của thƣợng đế khi ông cho rằng thƣợng đế vạch ra quy luật cho lịch sử, nhƣng mặt khác ông cũng thừa nhận rằng thƣợng đế không can thiệp vào tiến trình của lịch sử và nhân loại tiến hóa do những nguyên nhân nội tại của bản tính con người.
Tuy còn hạn chế, chƣa thoát khỏi những quan điểm duy tâm, thần bí, nhƣng quan niệm về sự phát triển của xã hội loài người là một bước tiến quan trọng trong tư duy – tìm nguyên nhân nguồn gốc sự phát triển của xã hội ở ngay bản thân xã hội.
Thứ hai, tư tưởng về sự tiến bộ của nhân loại và sự vận động của xã hội cũng xuất hiện trong thời Phục hƣng đƣợc các nhà sử học Khai sáng trình bày rõ ràng, có cơ sở khoa học.
Tuyêc-gô (Turgot, 1727 – 1781), nhà sử học Pháp cho rằng khả năng đạt đến sự hoàn thiện là một thuộc tính quan trọng nhất của con người và chính khả năng đó đã phân biệt con người với phần tự nhiên còn lại ở mình. Điều này mang tính quy luật, nhưng môi trường chủ yếu để thể hiện quy luật về sự tiến bộ là đời sống tinh thần. Đây là sự nhận thức tính quy luật một cách duy tâm.
Công-đóc-xê (Condorcet, 1743 – 1794), nhà tư tưởng Pháp trong tác phẩm “Phác họa về bức tranh lịch sử của trí tuệ con người” cũng cho rằng con người có khả năng to lớn trong sự hoàn thiện mình, vì tự nhiên không đặt ra một giới hạn nào cho sự tiến bộ này. Tuy nhiên, theo ông quá trình phát triển của lịch sử cũng phải trải qua 10 thời kỳ và thời kỳ cuối cùng kết thúc bằng sự chiến thắng vĩnh viễn của chế độ tƣ hữu tƣ bản chủ nghĩa. Điều hạn chế này phản ánh sự mâu thuẫn trong tư tưởng của ông, nhưng đây là hạn chế khó tránh khỏi trong thời kỳ chủ nghĩa tƣ bản đang lên.
E. Căng (Emmanuel Kant, 1724 – 1804), nhà triết học Đức, là người sáng lập ra triết học cổ điển Đức. Triết học của Căng đƣợc gọi là “triết học phê phán” với đặc điểm cơ bản là “sự điều hòa chủ nghĩa duy tâm với chủ nghĩa duy vật, là sự thỏa hiệp giữa hai học thuyết này với nhau, là sự kết hợp vào trong một hệ thống những xu hướng triết học khác nhau, đối lập nhau”. Những quan điểm triết lý lịch sử của Căng đánh dấu bước tiến trong nhận thức về tính phát triển của xã hội.
E. Căng đã dung hòa và kế thừa tư tưởng thần học của Bôt-xuy-ê và quan điểm đạo đức học của Rút-xô. Ông viết: “Lịch sử tự nhiên bắt đầu bằng cái thiện vì nó là sản phẩm của Chúa; lịch sử của tự do bắt đầu bằng cái ác vì nó là sản phẩm của con người”.
Và “tự nhiên ban cho con người sự thúc đẩy tới lòng nhân đạo mà không cho con người lòng nhân đạo”.
E. Căng khi thừa nhận sự phát triển của tự nhiên và xã hội đã khẳng định tính cộng đồng của con người tạo nên sức mạnh chứ không phải vai trò của cá nhân nào: “Về cá nhân những gì ta thấy qua hình dạng lộn xộn và bất thường song vẫn có thể nhận biết được trong cái tổng thể chung dưới dạng phát triển liên tục của các thiên hướng bẩm sinh dù rằng chậm chạp”. Tuy nhiên, Căng vẫn chƣa đƣợc giải thoát khỏi quan điểm duy tâm về sự phát triển xã hội nằm ngoài hoạt động của con người và bị tự nhiên chi phối:
“Người ta có thể xem xét lịch sử nhân loại nói chung như là sự thực hiện một kế hoạch huyền bí của tự nhiên để lập nên một thể chế chính trị hoàn hảo”. Theo ông, một thể chế chính trị hoàn hảo đó phải là một tổ chức dân chính mà ở đó luật pháp có thể trấn áp các lực lƣợng đối kháng và thiết lập các quyền tự do. Việc xây dựng thể chế này sẽ gặp hai trở ngại chính: vấn đề chính quyền và sự không hiểu biết giữa các dân tộc. Do đó, Căng đƣa ra yêu cầu cần có một ông vua công minh, chính trực làm trọng tài cho các lợi ích khác nhau. Ông cũng đề ra khái niệm “xã hội các dân tộc” nhằm bảo đảm an ninh cho các quốc gia.
Ông cho rằng chỉ thực hiện một xã hội chung cho các dân tộc, dưới quyền cai quản của một ông vua anh minh, con người mới được hạnh phúc, đi tới “Kỷ nguyên Ánh sáng”. Rõ ràng tư tưởng của Căng là sự dung hòa, sự pha trộn “một thứ mục đích luận sinh ra từ truyền thống Thiên Chúa giáo với một tƣ duy đạo đức học của thời đại Khai sáng”.
Căng và các nhà triết lý lịch sử thời Khai sáng dù còn những hạn chế nhất định, nhưng đã nêu tư tưởng về sự tiến bộ về quyền tự do của con người sẽ được mang lại. Dự báo này đƣợc xác nhận bằng những sự kiện của các cuộc cách mạng đầu tiên, đặc biệt là cuộc cách mạng tƣ sản Pháp thể kỷ XVIII. Ông ca ngợi sự kiện này: “Một sự kiện nhƣ thế trong lịch sử thế giới không bao giờ bị lãng quên, bởi vì nó đã phát hiện ra từ trong
32
sâu xa bản chất của con người một khả năng tiến bộ đạo đức mà không một chính khách nào cho đến nay đã ngờ đến đƣợc”.
Thứ ba, các nhà sử học Khai sáng đã đạt đƣợc kết quả trong công tác phê phán sử liệu, nâng lên một trình độ mới cao hơn khi xây dựng các cơ sở làm tiêu chí cho việc xác minh tƣ liệu trong nghiên cứu lịch sử.
Trước hết, các sử gia Khai sáng rất thận trọng khi sử dụng các tài liệu lịch sử.
Tính chân xác của sử liệu đƣợc coi trọng đặc biệt. Vôn-te (Voltaire, 1694 – 1778) đã nêu lên một tấm gương về ý thức tôn trọng tính chân xác của sử liệu. Ông cho rằng thông tin của nhà sử học phải chắc chắn và nhà sử học phải chú ý làm thỏa mãn người đọc bằng cách ngắn gọn và không nên chất đầy những chi tiết vô bổ vào tác phẩm của mình. Về tác phẩm của mình, ông viết: “Chúng tôi viết nên những tác phẩm lịch sử này dựa trên chuyện kể của các nhân vật nổi tiếng đã nhiều năm ở bên cạnh Charles VII và Pie đại đế.
Những người này sau khi hoàng đế mất đã lui về ở nước tự do và không hề có ý định che giấu sự thật”.
Đi đầu trong công tác phê phán sử liệu là các nhà sử học thuộc giáo đoàn Bê-nê- đit-tanh (Bénédictins), những người được xem là trường phái học giả uyên bác của thế kỷ XVIII. Một trong những phương châm mà họ đặt ra là “Phụng sự chân lý, vây dồn sai lầm bằng cách thắp sáng ngọn lửa phê bình…”. Những nguyên tắc trong phê phán sử liệu đã được trình bày cụ thể trong quyển “Phương pháp nghiên cứu lịch sử” của Lăng-gơ-lê đơ Phơ-rết-noa (Langlet de Fresnoy) sử gia Pháp.
Đó là những yêu cầu đối với nhà sử học:
Phải so sánh tài liệu gốc và bản sao chép có điểm gì khác nhau hay không.
Có những hiểu biết cần thiết ngoài nguồn sử liệu, quan trọng nhất là tri thức về tôn giáo và pphong tục, tập quán.
Phải xem xét thông tin có đƣợc phản ánh khách quan hay không.
Độ tin cậy của nguồn sử liệu (có phản ánh đúng hiện thực lịch sử hay không, có đƣợc xác nhận ở mức độ nào).
Những nguyên tắc trên chứng tỏ rằng các nhà sử học Khai sáng không chỉ kế thừa mà còn phát huy xu hướng xác định văn bản (phê phán bên ngoài sử liệu) có từ thời Phục hƣng.
Về phương pháp luận, các nhà sử học Khai sáng đã nhận thức được sự cần thiết phải hiểu lịch sử trong bối cảnh rộng lớn hơn. Điều này thể hiện trong nhiều tác phẩm của Vôn-te, Mông-te-x-ki-ơ, Ghi-bông… Vôn-te cho rằng, lịch sử trở thành một khoa học tùy thuộc vào sự phát triển của công tác phê phán và vào tầm mắt rộng lớn của nhà sử học đối với lịch sử và muốn xây dựng một hình ảnh chân thật về quá khứ cần phải có sự hiểu biết đối với toàn bộ lịch sử trong mọi biểu hiện của chúng. Vì thế khi nhìn lại một số tác phẩm của mình, Vôn-te viết” Tôi xấu hổ vì đã nói nhiều đến các trận đánh nhau… Tôi sẽ làm tốt hơn bằng cánh tránh tất cả các chi tiết về các cuộc chiến đã xảy ra… Tôi xem trọng một khoảng đất đƣợc khai hoang hơn là một đồng bằng phủ đầy xác chết.. Những ý kiến trên đây cho thấy sử học đã đƣợc các học giả xem xét với tƣ cách là một khoa học.
Còn Ghi-bông trong tác phẩm “Về sự sụp đổ của đế quốc Rô-ma” đã cho rằng nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của đế quốc Rô-ma là sự phát triển của đạo Thiên Chúa.