Sử học phương Đông thời trung đại

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 23 - 28)

Chương 3. Sử học thế giới thời trung đại

3.3. Sử học phương Đông thời trung đại

Các nước phương Đông bước vào thời kỳ phong kiến sớm hơn ở châu Âu, sử học phong kiến cũng ra đời sớm và không thoát khỏi sự kìm kẹp, khống chế của tư tưởng phong kiến. Tuy nhiên, sử học phong kiến phương Đông có một điểm khác với sử học phương Tây. Ở phương Tây nền sử học thời trung đại, dưới sự khống chế của tôn giáo và triều đình phong kiến đã tỏ ra có những bước lùi so với sử học thời cổ đại. Còn ở phương Đông thời trung đại, sử học không bị đình trệ mà vẫn tiếp tục phát triển theo hai dòng, dòng chính thống do Quốc sử quán triều đình đảm nhận và dòng tƣ nhân do các cá nhân biên soạn. Tiêu biểu là sử học Trung Quốc, các nhà sử học phong kiến đã có những đóng góp trong việc xác lập những thể loại và phương pháp sử học mô tả thực trạng các chế độ xã hội trong lịch sử. Nhìn chung, sử học phong kiến Trung Quốc có những thể loại sau đây:

24

“Đoạn đại sử” ghi chép lịch sử của các triều đại chứ không phải viết theo từng

“nước” nhỏ như trước đó. Ban Cố là người đầu tiên viết “Đoạn đại sử”. “Đoạn đại sử có bốn nội dung: Kỷ, Truyện, Biểu, Chỉ. Kỷ: viết về các hoàng đế. Truyện: nói về tầng lớp quan lại, hoặc họ hàng thân thích của nhà vua và một số nhân vật có tiếng tăm trong xã hội. Biểu: liệt kê nhân vật theo các loại như “Thân vương biểu”, “Bách quan công khanh biểu”, “Phi tần biểu”. Chỉ: ghi chép về một “nước” hay một địa phương về mọi mặt, trừ những hoạt động của con người. Các bộ “Đoạn đại sử” thường viết rất dài, mỗi bộ gồm tới hàng trăm tập nên các sử gia Trung Quốc chia mỗi bộ thành hai phần: “Hội yếu” (tóm tắt phần quan trọng nhất) và “Bản mạt” (phần gốc, phần phụ).

“Cương, mục” là thể loại lịch sử có từ đời Tống. “Cương” ghi tóm lược nội dung chủ yếu trong một đoạn ngắn; “Mục” ghi chép sự việc xảy ra một cách tỉ mỉ, cụ thể.

Nguyên tắc của lối viết sử theo cương, mục thể hiện tính khoa học ở sự chính xác về niên đại các sự kiện, về giải thích rõ việc lên ngôi, sự thoán nghịch, sự ban phong (đất đai, chức tước…). Vì vậy, thể loại này trở thành mẫu mực cho việc viết sử ở Trung Quốc và nhiều nước phương Đông. Thời Tống, Chu Hy viết bộ “Thông giám cương mục”, chép lịch sử theo thể biên niên và chia thành “cương”, “mục”. Mục đích của tác phẩm là đề cao chính thống, làm cho mọi người hiểu rõ, tuân thủ và bảo vệ chính thống. Do đó, lối viết sử “cương”, “mục” khó tránh khỏi chủ quan, phiến diện, thiên vị để tôn thờ nhà vua.

“Sử thông” là thể loại viết lịch sử cả nước, còn gọi là “thông sử”. Vào thế kỷ XI, dưới thời Tống, sử gia Tư Mã Quang đã chủ trì biên soạn bộ “Tư Trị Thông Giám” gồm 300 quyển. Mục đích của việc biên soạn đƣợc tác giả nêu rõ là “Thông các chính sự, hiểu biết mọi thời kỳ thái bình hay loạn lạc‟. Nhƣ vậy qua khảo sát một khối lƣợng tài liệu cẩn thận, kế thừa những thành tựu sử học đời trước, tác giả đã trình bày theo thứ tự thời gian những việc thịnh suy của các triều đại kế tiếp nhau trong 1.326 năm của lịch sử phong kiến Trung Quốc.

Đỉnh cao của sử học Trung Quốc thời phong kiến là tác phẩm “Sử ký” của Tƣ Mã Thiên.

Tư Mã Thiên tự là Tử Trường, sinh năm 145 TCN ở Long Môn (nay thuộc huyện Hán Thành, tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc). Cha ông là Tƣ Mã Đàm đã làm Thái sử lệnh đời Hán và trước đó nhiều người trong dòng họ ông đã từng giữ chức sử quan đời nhà Chu. Thừa kế truyền thống gia đình về nghiên cứu, biên soạn lịch sử, Tƣ Mã Thiên còn có thiên tƣ đặc biệt nhất là bỏ công sức nhiều để tìm hiểu quá khứ. Ông không chỉ chăm chú đọc sách cổ mà còn đi du ngoạn rất nhiều nơi trong nước để thăm các di tích, thu thập tài liệu. Vì vậy trong tác phẩm nổi tiếng của ông, Sử ký đƣợc đánh giá là một trong những tác phẩm cổ điển xuất sắc của Trung Quốc.

Sử ký gồm 130 thiên với 52 vạn chữ, chia ra 5 phần: Bản kỷ, Biểu, Thƣ, Thế gia, Liệt truyện.

Bản kỷ gồm 12 quyển, chép sự tích các đế vương từ thời Ngũ đế đến Hạ, Thương, Chu, Tần, Sở của Hạng Vũ và nhà Hán bao gồm 12 bản kỷ. Về Hạ, Thương, Chu mỗi triều đại được ghi ở một bản kỷ. Nhà Tần có hai bản kỷ, một bản chép từ khi có nước Tần đến Tần Thủy Hoàng, một bản chép về Tần Thủy Hoàng. Một bản kỷ về Hạng Vũ. Hán có các bản kỷ về Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ. Hiện nay thiếu mất bản kỷ Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ.

Bản kỷ chép lại sự việc của những người, những nước đã chi phối cả thiên hạ. Ông chép riêng lịch sử nước Tần trước Tần Thủy Hoàng thành một bản kỷ, vì trong thời Chiến quốc nước Tần là nước chi phối vận mệnh của tất cả các nước. Dù Huệ Đế làm vua,

nhƣng Lữ Hậu thực sự cầm quyền nên ông vẫn làm bản kỷ về Lữ Hậu. Việc đặt một người đàn bà lên ngang hàng với địa vị các bậc “đế” là điều mà cả các sử gia đời sau của Trung Quốc cũng không dám làm. Ông còn dành cho Hạng Vũ những lời đẹp nhất, mặc dù Hạng Vũ là kẻ thù của nhà Hán và về danh nghĩa chƣa phải là “đế” mà trong thực tế là người có công nhất trong việc tiêu diệt nhà Tần. Điều này thể hiện Tư Mã Thiên rất tôn trọng sự thực khách quan.

Biểu: ghi chép năm tháng các biến cố của các nhân vật đế vương, của các nước chư hầu và của một số công thần, danh thần nhà Hán. Các biểu trong “Sử ký” đƣợc Tƣ Mã Thiên lập ra giúp người đọc có cái nhìn đối chiếu các sự kiện, hoặc căn cứ vào niên đại, hoặc căn cứ vào sự tương quan đồng thời giữa các nước để hiểu biết toàn diện về lịch sử một nước rộng lớn và bị chia cắt, phân tán như Trung Quốc.

Trong “Sử ký”, Tƣ Mã Thiên lập ra 10 biểu, gồm Thế biểu thời Tam đại; Niên biểu mười hai nước chư hầu; Niên biểu sáu nước thời Chiến quốc; Nguyệt biểu những việc xảy ra thời Hán Sở; Niên biểu của các nước chư hầu từ thời Hán; Niên biểu các công thần của Hán Cao Tổ; Niên biểu các nước chư hầu từ thời Huệ Đế và Cảnh Đế; Niên biểu các nước chư hầu từ niên hiệu Kiến Nguyên; Niên biểu các vị vương thời Vũ Đế; Niên biểu các danh thần từ khi nhà Hán lên ngôi.

Thư: gồm gó tám thư viết tám mặt thiết chế chủ yếu của lịch sử một nước. Đó là: Lễ thƣ, Nhạc thƣ, Luật thƣ, Lịch thƣ, Thiên quan thƣ, Phong thiên thƣ, Hà cừ thƣ, Bình chuẩn thƣ. Trong các thƣ nêu rõ sự biến đổi, những cống hiến về lễ, nhạc, luật lệ, việc làm lịch, thiên văn v.v… qua các thời đại. Lễ nghi đƣợc thể hiện trong “Lễ thƣ”; nhạc trong “Nhạc thƣ”; luật lệ trong “Luật thƣ”; thiên nhiên trong “Thiên quan thƣ”; việc mê tín, cúng tế của vua chúa trong “Phong thiên thƣ”; các con sông đào ở Trung Quốc trong

“Hà cừ thƣ”; tình hình kinh tế trong “Bình chuẩn thƣ”. Các tài liệu chính xác đến nỗi người đời sau thường dựa vào đó để đính chính những sai sót trong các sách nói về những thể chế xã hội.

Thế gia: gồm 30 thiên, chủ yếu viết về lịch sử các nước chư hầu (Tề, Lỗ, Triệu, Sở…) và những người có địa vị cao trong giới quý tộc gồm các thái hậu, những người được phong tước ở một nước như Chu Công, Thiệu Công và những người có công lớn như Trương Lương, Trần Bình... Tư Mã Thiên còn ghi ở phần này hai người thường dân không có một tấc đất phong, đó là Khổng Tử, một nhà tư tưởng lớn thời cổ đại và Trần Thiệp, người cố nông đã cầm đầu cuộc khởi nghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử thời Hán.

Liệt truyện: gồm 70 thiên viết về các nhân vật và sự kiện khác nhau. Danh từ “Liệt truyện” do chính Tư Mã Thiên đặt ra, ghi lại sự tích không chỉ những người có vị trí cao trong xã hội Trung Quốc như các danh tướng (Mông Điềm, Lý Quảng, Vệ Thanh) những vị quan to (Trương Thích Chi, Công Tôn Hoằng…) mà cả những nhân vật ở ngoài Trung Nguyên nhƣ (Nam Việt, Đông Việt, Triều Tiên, Tây Di, Hung Nô, Đại Uyển), cuộc đời và hành trang của những du hiệp, thích khách trọng nghĩa khinh tài (trong “Thích khách liệt truyện”, “Du hiệp liệt truyện”), những nhà tư tưởng như Lão Tử, Trang Tử, Tuân Khanh…, những nhà văn như Khuất Nguyên, Tư Mã Tương Như, những thầy bói, thầy thuốc, thậm chí cả những anh hề, những tên sâu mọt, đàn áp bóc lột dân chúng, những bọn ngoại thích lộng quyền và vô số những nhân vật ti tiện khác.

Có thể nói Tư Mã Thiên là “người cha của sử học Trung Quốc” về hai thể loại chủ yếu đầu tiên: Đoạn đại sử và Sử thông. Cả hai thể loại này đều bắt nguồn từ phương pháp biên soạn sử ký của Tư Mã Thiên. Ông là người đầu tiên viết lịch sử toàn Trung Quốc.

Trước đó chỉ có những người viết lịch sử từng “nước” nhỏ, như nước Lỗ, Tần, hoặc viết

26

về một sự kiện (nhƣ chiến tranh). Trong khi viết về lịch sử Trung Quốc, ông đã thấy có mối liên hệ nhất định giữa kinh tế với chính trị, luật pháp cũng nhƣ lịch sử trên mọi mặt của đời sống xã hội. “Sử ký” của Tƣ Mã Thiên mô tả toàn bộ lịch sử Trung Quốc trong suốt 3.000 năm, từ đời Hoàng đế cho đến đời Hán Vũ Đế, với một không gian lịch sử rộng lớn, gồm nhiều lĩnh vực của đời sống và các tầng lớp xã hội khác nhau.

Tƣ Mã thiên có một thái độ công minh, dứt khoát, không thiên vị đối với các nhân vật lịch sử. Lời khen chê của ông rất rõ ràng, đôi khi vƣợt qua sự ràng buộc của chế độ đương thời để nêu lên sự thật lịch sử. Ông đã dành những trang đẹp nhất để nói về Hạng Vũ, kẻ thù của nhà Hán, đó là một con người phi thường “tài năng và ý chí hơn người”,

“từ cận cổ đến nay chưa có ai được như thế”. Trái lại Lưu Bang, người sáng lập ra nhà Hán lại đƣợc mô tả là một kẻ “không lo làm ăn”, “tham tiền và ham gái, ngạo mạn và thô lỗ”. Ông phơi bày bức tranh đau thương của xã hội đương thời như cảnh vua chúa mê tín (trong Phong thiên thƣ), vua quan phung phí tài sản của nhân dân (trong “Bình chuẩn thƣ”), cảnh quan lại tàn ác (Khốc lại truyện”), cảnh nhà nho cầu an, giả dối (“Công Tôn Hoằng truyện”, “Thúc Tôn Thông truyện”).

Những phân tích, nhận xét của Tƣ Mã Thiên rất độc đáo, táo bạo vƣợt lên trên thời đại của mình. Ở một mức độ nào đó ông đã nhìn thấy sức mạnh nằm trong dân chúng. Ví dụ, trong “Cao Tổ bản kỷ” và “Trần Thiệp thế gia”, ông cho rằng mặc dù Lưu Bang và Trần Thiệp tài trí bình thường nhưng vì luôn nắm bắt nguyện vọng dân chúng nên đã lập nên công trạng.

Tƣ Mã Thiên cũng là sử gia Trung Quốc đầu tiên viết về những dân tộc bị gọi là

“mọi rợ” mà tuyệt nhiên không tỏ thái độ khinh miệt.

Chính vì những thành công trên, “Sử ký” của Tƣ Mã Thiên đƣợc các nhà sử học đời sau đánh giá là một công trình biên soạn lịch sử vào bậc nhất của sử học phương Đông thời phong kiến, trở thành mẫu mực cho việc biên soạn lịch sử sau đó.

Nhìn chung, sử học Trung Quốc thời phong kiến, trải qua các triều đại từ Tần, Hán, Đường, Tống, đến Minh, Thanh đã phát triển với nhiều sử gia, nhiều công trình lịch sử nổi tiếng đánh dấu sự phát triển của một nền văn hóa rực rỡ. Dĩ nhiên sử học Trung Quốc không thể thoát khỏi việc chi phối của tư tưởng nho giáo nhằm bảo vệ trật tự xã hội phong kiến. Sử học Trung Quốc thời phong kiến không chỉ là công cụ nô dịch về tinh thần nhân dân trong nước mà còn phục vụ trực tiếp cho âm mưu xâm lược của phong kiến Trung Quốc với các nước láng giềng. Ví dụ, trước khi quân Minh xâm lược Đại Việt, với danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”, triều đình nhà Minh đã biên soạn hoàn thành quyển “Việt kiệu thư” tìm hiểu khá tỉ mỉ về đất nước Đại Việt.

Ngoài Trung Quốc, sử học thời phong kiến cũng khá phát triển ở nhiều nước khác của phương Đông như Việt Nam, Nhật Bản, Ấn Độ. Ở đây xin giới thiệu nhà sử học lớn nhất của người Ả Rập đó là Ibn Haldun (1332 – 1406). Trong “Phần mở đầu” của tác phẩm “Sách về những tấm gương rút từ lịch sử người Ả Rập, Ba Tư, Béc-be và các tộc người cùng sống với họ trên quả đất”, ông đã phát triển tư tưởng triết học- lịch sử khá tiến bộ, gần giống nhƣ quan điểm của các đại biểu tiên tiến của nền sử học nhân văn ở I- ta-li-a. Ibn Haldun bác bỏ sự giải thích bằng quan điểm của ý thức hệ tôn giáo. Ông xem lịch sử là sự thay đổi thường xuyên của đời sống và phong tục của con người, là một quá trình diễn biến không ngừng sự thịnh suy của các quốc gia. Ông nêu rõ rằng, trong nghiên cứu lịch sử phải “đi sâu nghiên cứu các hiện tƣợng riêng lẻ bằng cánh cửa lớn của nguyên nhân chung”; mặt khác lại phải đặt biệt chú trọng ý nghĩa to lớn của hoàn cảnh địa lý đến lịch sử xã hội.

Câu hỏi hướng dẫn học tập

1. Đặc điểm của sử học phong kiến châu Âu từ thế kỷ V đến thế kỷ XI?

2. Đặc điểm của sử học phong kiến châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII?

3. Nêu nét chung về thể loại chép sử, quan điểm sử học của sử gia phong kiến.

4. Những đặc điểm trong nghiên cứu lịch sử của Tư Mã Thiên (về mặt phương pháp sưu tầm tài liệu, biên soạn và về quan điểm).

5. Nêu giá trị lịch sử của tác phẩm Sử Ký của Tư Mã Thiên.

6. Cách viết lịch sử theo thời đại, “đoạn đại sử” của Trung Quốc ảnh hưởng như thế nào đến sử học nước ta thời phong kiến?

HƯỚNG DẪN ĐỌC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đỗ Thanh Bình (chủ biên). 2007. Lịch sử sử học thế giới. Hà Nội. NXB Đại học Sƣ phạm. (tham khảo từ tr. 36 đến tr. 62).

Phan Ngọc Liên, Trần Vĩnh Tường. 1995. Lịch sử Sử học thế giới. Bộ Giáo dục và Đào tạo-Đại học Huế. (tham khảo từ tr. 15 đến tr. 22).

Phan Ngọc Liên (chủ biên). 2006. Nhập môn sử học. Hà Nội. NXB Đại học Sƣ phạm. (tham khảo từ tr. 76 đến tr. 80).

Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia – Viện thông tin khoa học xã hội.

1998. Sử học những tiếp cận thời mở cửa. Hà Nội. NXB: Thông tin khoa học xã hội – chuyên đề.

28

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 23 - 28)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(153 trang)