2.1. Khái niệm phong cách
2.1.2. Các ph-ơng diện biểu hiện phong cách
Mỗi một nhà văn đều có những ph-ơng tiện, ph-ơng thức khác nhau để làm nghệ thuật, nh-ng không phải ai cũng làm nên phong cách. Chỉ những nhà văn có tài năng và bản lĩnh mới để lại dấu ấn riêng trong tâm trí độc giả.
Phong cách chủ yếu đ-ợc biểu hiện trên các ph-ơng diện: sự lựa chọn đề tài, cảm hứng chủ đạo, đặc tr-ng riêng trong xây dựng nhân vật và ngôn ngữ, giọng điệu.
Sự lựa chọn đề tài là một trong những nét biểu hiện rõ nhất phong cách của một nhà văn. “Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm”
[21,20]. Có bao nhiêu loại hiện t-ợng của đời sống thì có bấy nhiêu đề tài.
Hiện thực đời sống với đầy đủ sự phong phú, bộn bề và phức tạp. Nhà vốn là những ng-ời rất nhạy cảm. Họ nắm bắt đ-ợc những vấn đề mà xã hội quan
tâm, dùng ngòi bút và tâm hồn của mình biến nó thành những trải nghiệm cuộc sống. Hiện thực trong tác phẩm không còn là hiện thực khách quan nh- nó vốn có mà đã bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Và cũng vì
thế, nhà văn để lại dấu ấn riêng của mình trong tác phẩm.
Vào những năm 30 - 45 của thế kỉ XX, xã hội Việt Nam có nhiều biến
động. Đời sống văn học hết sức đa dạng. Có ba trào l-u văn học cùng tồn tại và phát triển. Đó là trào l-u văn học lãng mạn, văn học hiện thực phê phán và văn học cách mạng. Trong trào l-u văn học lãng mạn, đề tài chủ yếu đ-ợc các tác giả lựa chọn là tình yêu, thiên nhiên, tôn giáo... Mỗi nhà thơ lựa chọn cho mình một đề tài sở tr-ờng, làm nên danh tiếng của mình. Sự thành công của các nhà thơ trong phong trào Thơ mới làm nên một v-ờn hoa đầy màu sắc.
Nhà phê bình Hoài Thanh khi tổng kết phong trào Thơ mới đã rất xuất sắc khi nhận ra những nét riêng của mỗi một nhà thơ: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam ch-a bao giờ ng-ời ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ
rộng mở nh- Thế Lữ, mơ màng nh- L-u Trọng L-, hùng tráng nh- Huy Thông, trong sáng nh- Nguyễn Nh-ợc Pháp, ảo não nh- Huy Cận, quê mùa nh- Nguyễn Bính, kì dị nh- Chế Lan Viên... và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [59,29]. Trong trào l-u văn học hiện thực phê phán, đề tài
đ-ợc các nhà văn lựa chọn là cuộc sống cực khổ, bần cùng của ng-ời nông dân; sự bóc lột của địa chủ phong kiến; cuộc sống mòn mỏi của những trí thức tiểu t- sản. Trong trào l-u văn học cách mạng, ta lại thấy một khí thế hừng hực của những ng-ời thanh niên sẵn sàng cống hiến tuổi trẻ và sức lực của mình cho Tổ quốc. Cả ba trào l-u văn học trên đã làm nên sự phong phú và đa dạng cho văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1445.
Sau khi cách mạng Tháng tám thành công, cả n-ớc lại b-ớc vào hai cuộc kháng chiến tr-ờng kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Lúc này, cả
n-ớc chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là đánh đuổi quân xâm l-ợc, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Vì thế, văn học thời kì này cũng thống nhất d-ới sự
lãnh đạo của Đảng, hình thành nên dòng văn học 45 - 75. ở đó, các nhà văn ca ngợi những con ng-ời anh hùng làm nên một đất n-ớc anh hùng. Nội dung của văn học thời kì này có đề cập tới cái chết, cái đau th-ơng, mất mát nh-ng
đó là cái chết hào hùng và bi tráng. Chủ nghĩa lãng mạn anh hùng cách mạng
đ-ợc phát huy hơn bao giờ hết. Người ta gọi văn học thời kì này là dòng “văn học sử thi”.
Sau năm 1975, đất n-ớc thống nhất. Chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, thế nh-ng những vết th-ơng mà nó để lại trong tâm hồn và thể xác của một dân tộc thì còn rất nặng nề. Đề tài đời t- thế sự đ-ợc các nhà văn quan tâm hơn cả.
ở đó, họ có thể giãi bày tất cả những lo toan, bi kịch, những phức tạp bộn bề của cuộc sống đời th-ờng mà trong suốt ba m-ơi năm chiến tranh, chúng ta không nói đến.
Nh- vậy, có thể thấy, đề tài trong văn học rất phong phú. Hiện thực cuộc sống thay đổi đến đâu, đề tài theo sát đến đấy. Nh- một bức tranh nhiều màu sắc, mỗi một nhà văn lựa chọn cho mình một mảng màu riêng, tự do sáng tạo, thể hiện tài năng và quan điểm của mình về cuộc sống, tạo nên sự đa dạng trong phong cách các nhà văn.
Khi lựa chọn đề tài để sáng tác, mỗi nhà văn luôn muốn thể hiện đ-ợc t- t-ởng của mình trong đó. T- t-ởng ấy là những vốn sống, những kinh nghiệm, thế giới quan, tài năng của nhà văn. Thông qua nhân vật, qua lời dẫn, qua cách miêu tả... tức là tất cả những gì có trong thế giới nghệ thuật để nhà văn nói lên một điều gì đó về cuộc sống. Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng “tầm cỡ của một nhà văn rút cục thuộc về tầm cỡ tư tưởng của ông ta” [55,8]. Một tác phẩm hay, có giá trị phải là một tác phẩm mang nội dung t- t-ởng.
Trong quá trình sáng tạo, không phải lúc nào nhà văn cũng có đ-ợc ngay lập tức những xúc cảm thẩm mĩ. Cảm hứng chỉ có thể đến khi ng-ời nghệ sĩ thăng hoa trong cảm xúc. Đó là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say
đắm, xuyên suốt trong tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một t- t-ởng xác
định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động tới cảm xúc của ng-ời tiếp nhận” [21,38]. Trong dòng văn học hiện thực phê phán 30 - 45, các nhà văn lấy đề tài là cuộc sống khổ cực của ng-ời nông dân bị đè nén, áp bức bởi c-ờng hào ác bá và bọn tay sai thực dân. Vì thế, cảm hứng chủ đạo của các tác phẩm này là cảm hứng phê phán. Đến văn học giai đoạn 45 - 75 viết về đề tài chiến tranh cách mạng, cảm hứng chủ đạo lại là cảm hứng ngợi ca, tôn vinh những con người anh hùng của một dân tộc anh hùng. “Nghệ thuật vận dụng những quy luật riêng của tình cảm”, vì thế mà niềm tin, sự say mê, tình yêu, khát khao khẳng định lí t-ởng làm cho cảm hứng trong tác phẩm th-ờng thiên về nhân vật của mình. Nhân vật chính là nơi để nhà văn bộc lộ rõ nhất cảm hứng và t- t-ởng của mình.
“Nhân vật văn học vốn là con người được miêu tả trong văn học bằng các phương tiện văn học” [34,277]. Nhân vật ấy có thể là những ng-ời có tên hoặc không có tên, có thể đ-ợc miêu tả toàn vẹn hoặc có thể chỉ là đôi nét phác hoạ... Tuy vậy, một tác phẩm văn học không thể nào thiếu đ-ợc nhân vật.
Nhân vật chính là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới một cách hình t-ợng. Nhà văn sáng tạo ra nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất
định và quan niệm về các cá nhân đó. Nói cách khác, nhân vật là ph-ơng tiện khái quát các tính cách, số phận con ng-ời và các quan niệm về chúng. Bởi vậy, mỗi một nhà văn đều lựa chọn cho mình một kiểu nhân vật “ưa thích”
riêng. ở đó, mỗi nhà văn có thể phát huy tài năng của mình trong sáng tạo, thể hiện một cách “thoải mái” nhất tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của mình. Chẳng hạn nh- Vũ Trọng Phụng thành công khi xây dựng những nhân vật thuộc tầng lớp t- sản thành thị, sống băng hoại về đạo đức. Nam Cao lại thành công với những nhân vật ng-ời nông dân bị bần cùng hoá đến mức l-u manh hoá, hay những anh nhà giáo nghèo, sống như “mòn ra, gỉ đi” giữa một bên là lí tưởng cao cả với một bên là hiện thực áo cơm... Có thể nói, sáng tạo ra đ-ợc những nhân vật độc đáo chính là một yếu tố làm nên phong cách riêng của nhà văn.
Bên cạnh sự lựa chọn đề tài, cảm hứng sáng tạo và hệ thống nhân vật thì
ngôn ngữ, giọng điệu là yếu tố không thể thiếu giúp nhà văn định hình nên phong cách riêng của mình. Tất cả những tính cách của nhân vật, những đặc sắc trong văn phong của nhà văn đều đ-ợc biểu hiện trên bề mặt ngôn ngữ.
Nói nh- Đỗ Lai Thuý thì “Hiện nay tìm hiểu phong cách cần phải dựa trên tác phẩm, cụ thể hơn là ngôn ngữ tác phẩm”.
Giọng điệu chính là hoạt động ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm mĩ, giúp cho nhà văn xây dựng đ-ợc hình t-ợng văn học và tái hiện đ-ợc thế giới t- t-ởng của con ng-ời. Một nhà văn có phong cách là một ng-ời có khả năng làm chủ đ-ợc ngôn ngữ và giọng điệu, đ-a đến cho ng-ời đọc những khám phá mới mẻ về con ng-ời và hiện thực thông qua tác phẩm văn học.
Nh- vậy, thông qua sự lựa chọn đề tài, hệ thống nhân vật, cảm hứng sáng tạo và ngôn ngữ, giọng điệu, các nhà văn tìm ra con đ-ờng đi riêng cho mình, để hình thành nên một phong cách riêng, độc đáo. Thế mới có một Nguyễn Công Hoan trào phúng đến chua cay, một Vũ Trọng Phụng là “ông vua phóng sự đất Bắc”, một Nam Cao “ông hoàng truyện ngắn”... Để có đ-ợc phong cách là cả một quá trình phấn đấu không ngừng ở bản thân mỗi nhà văn. Bên cạnh những yếu tố thuộc về nghệ thuật kể trên, chúng ta còn phải nói
đến trình độ, vốn sống, tài năng và sự nhạy cảm của nhà văn, tới hoàn cảnh, thời đại mà nhà văn sống... Tất cả những yếu tố đó làm nên cái gọi là cá tính sáng tạo của nhà văn - điều cốt yếu làm nên phong cách.
Trên cơ sở nhận diện các ph-ơng diện biểu hiện của phong cách, chúng tôi tiến hành khảo sát tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật, từ đó ghi nhận phong cách riêng của tác giả.