Vị trí của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết lịch sử nguyễn triệu luật (Trang 36 - 39)

Nguyễn Triệu Luật (? - 1946), ng-ời làng Du Lâm, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh.

Ông sinh tr-ởng trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Ông nội là Hoàng giáp Nguyễn T- Giản (Nguyễn Văn Phú), một đại thần triều Tự

Đức, làm đến chức Th-ợng th- bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần, có nhiều thơ văn đ-ợc truyền tụng đ-ơng thời. Nguyễn Triệu Luật còn là con cháu 5

đời của danh sĩ Nguyễn án thời Gia Long, tác giả của tập “Tang th-ơng ngẫu lục” (cùng soạn với Phạm Đình Hổ) còn lưu lại đến ngày nay.

Nguyễn Triệu Luật từng là sinh viên tr-ờng Cao đẳng s- phạm Đông D-ơng, ban xã hội. Sau đó, ông đi dạy học ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung, chuyên về hai môn văn học và sử học. Đây chính là một yếu tố quan trọng, giúp tác giả trang bị đ-ợc vốn hiểu biết sâu sắc về các thời kì lịch sử, sau này đ-ợc phát huy trong lĩnh vực văn ch-ơng.

Nguyễn Triệu Luật, cũng nh- nhiều thanh niên thời đại ông lúc bấy giờ, nung nấu lòng căm hờn đối với thực dân Pháp, muốn đem đóng góp tuổi thanh xuân của mình cho đất n-ớc. Năm 1929, ông gia nhập tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng. Tháng 2 - 1930 cuộc khởi nghiã Yên Bái do Việt Nam Quốc dân

đảng thất bại, ông bị Pháp bắt cùng với nhiều chiến sĩ cách mạng khác nh- Trúc Khê Ngô Văn Triện, Nh-ợng Tống Hoàng Phạm Trân...

Sau khi ra tù, Nguyễn Triệu Luật viết báo và viết văn. Ông viết nhiều cho các báo Trung Bắc tân văn, Tiểu thuyết thứ bẩy, Phổ thông bán nguyệt san... Những bài viết của ông chuyên về các vấn đề lịch sử n-ớc nhà và thôi thúc lòng yêu n-ớc tr-ớc cảnh sống nô lệ. Ông là một cây bút viết tiểu thuyết lịch sử đậm tính chân thực và có tiếng thời bấy giờ.

Sau cách mạng tháng Tám - 1945, ông tham gia trong các tổ chức chống Pháp ở Hà Nội và mất tích trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm l-ợc ở n-ớc ta.

Các tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật gồm: Hòm đựng ng-ời (1938), Bà Chúa Chè (1938), Loạn Kiêu binh (1938), Chúa Trịnh Khải (1940), Ng-ợc đ-ờng Tr-ờng Thi (1939). Căn cứ vào quảng cáo đầu cuốn Bà Chúa Chè thì sẽ có những cuốn: Công chúa Ngọc Hân, Chúa cuối mẻ, Đồ cuối mùa, Rắn báo oán, Cống Chỉnh sẽ lần l-ợt ra mắt bạn đọc. Nh-ng rồi cách mạng thành công, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm l-ợc bùng nổ, hoàn cảnh lịch sử lúc đó không cho phép nhà văn thực hiện những dự định của mình.

Cuộc đời của Nguyễn Triệu Luật còn nhiều điều mà độc giả ch-a đ-ợc biết đến, tuy nhiên, thông qua các tác phẩm mà tác giả để lại cho đời, chúng ta ghi nhận những giá trị về lịch sử, về t- t-ởng, về nghệ thuật của nhà văn.

1.3.2. Nhìn chung về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật

Văn học Việt Nam từ cuối những năm 20 của thế kỉ, đặc biệt là từ năm 1930 đến năm 1945 chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt tác giả viết tiểu thuyết lịch sử nh- Nguyễn Tử Siêu, Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật, Nguyễn Huy T-ởng, Lan Khai, Khái H-ng... Bằng các tác phẩm cụ thể, họ đã

góp phần khẳng định sự tồn tại và thành công của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Với những tác giả nh- Nguyễn Tử Siêu, Phan Trần Chúc, Đào Trinh Nhất... trong cách viết còn nặng về ghi chép sự kiện lịch sử, bị ảnh h-ởng bởi lối viết kể chuyện ch-ơng hồi của văn học truyền thống. Với Lan Khai, Khái H-ng, Chu Thiên... lịch sử chỉ là cái cớ để nhà văn đi sâu khai thác những câu chuyện tình giai nhân diễm lệ, những anh hùng hảo hán hành động phiêu l-u, mạo hiểm kiểu giang hồ nghĩa hiệp... Cách viết của họ thể hiện rõ khuynh h-ớng lãng mạn chủ nghĩa. Riêng đối với Nguyễn Triệu Luật, lịch sử với ông là lịch sử chân thực. Tác giả có sự trung thành tuyệt đối với các nhân vật và sự kiện lịch sử.

Nguyễn Triệu Luật có 5 cuốn tiểu thuyết lịch sử, có thể nói tiểu thuyết lịch sử là đề tài chính trong sự nghiệp sáng tác văn học của tác giả. Không nh-

nhiều tác giả cùng thời, Nguyễn Triệu Luật không lựa chọn đề tài lịch sử trải qua nhiều thế kỉ, ông có sự quan tâm đặc biệt tới giai đoạn lịch sử thời mạt vận của tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh hồi thế kỉ XVIII. Có ng-ời viết th- trách hỏi ông, tại sao không viết về lịch sử đau th-ơng của dân tộc hồi cuối thế kỉ XIX. Nguyễn Triệu Luật đã trả lời rằng: “Lịch sử chỉ là cuộc diễn lại những trò cũ. B-ớc loạn vong, đông tây cổ kim vẫn t-ơng tự nh- nhau. Đã thế thì, gần xa âu cũng thế thôi, can chi phải xem việc gần mới biết việc gần. Con ng-ời ta, có ruột gan ra, thì chuyện ng-ời xa muôn dặm, ngàn năm cũng đủ cảm. Mà không có ruột gan chi, thì chuyện trong nhà, tr-ớc mắt, ruột thịt, cũng vẫn thờ ơ” [33,20]. Qua câu trả lời với độc giả thời ấy, Nguyễn Triệu Luật thể hiện rõ quan điểm của mình khi lựa chọn đề tài lịch sử. Chỉ cần là ng-ời có tình thì chuyện x-a hay chuyện nay cũng đều có ý nghĩa cả. Tiểu thuyết lịch sử vốn lấy chuyện x-a để nói nay. Đất n-ớc hiện tại đang trong cảnh nô lệ, Nguyễn Triệu Luật mong muốn bạn đọc nhìn vào quá khứ để thấy lại lịch sử dân tộc, đánh thức dậy tấm lòng yêu n-ớc.

Nguyễn Triệu Luật tự nhận mình là “người thợ vụng”, không phải là kẻ có tài. Theo quan điểm của ông, có tài tức là có mánh khoé giả trá trong đó.

Bản thân ông là “người thợ vụng, có thế nào làm nên thế, gốc tre già cứ để là gốc tre già chứ không có thể - vả cũng không muốn - hun khói lấy màu, vẽ vân cho thành gốc trúc hoá long” [33,18]. Tuy nhận mình là “người thợ vụng”

nh-ng Nguyễn Triệu Luật là nhà văn có phong cách riêng, có những đóng góp về mặt nội dung và nghệ thuật đối với tiểu thuyết lịch sử. Bởi vậy, đ-ơng thời, Lan Khai đã nhận xét rất chính xác về phong cách Nguyễn Triệu Luật: “Khác với tôi, ông Luật riêng chú trọng về sự thực... Các chuyện và ng-ời của ông hoạt động hiển nhiên, không đ-ợc ông tô điểm cho, nh-ng cũng không bị ông làm mất bản sắc... Ng-ời có thể mất đi rồi, cảnh có thể khác đi rồi, mà hình

ảnh vẫn là của những ng-ời và cảnh đã có thực” [33,15].

Ch-ơng 2

Phong cách tiểu thuyết lịch sử nguyễn Triệu luật Nhìn từ ph-ơng diện lựa chọn đề tài và cảm hứng

sáng tạo

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết lịch sử nguyễn triệu luật (Trang 36 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(126 trang)