Quan tâm thể hiện thế giới nội tâm nhân vật

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết lịch sử nguyễn triệu luật (Trang 83 - 99)

Nhân vật là nơi nhà văn thể hiện rõ nhất tất cả những t- t-ởng, tình cảm của mình. Cũng vì thế, việc đi sâu khai thác thế giới bên trong con ng-ời, phần con ng-ời bên trong con ng-ời, đ-ợc các nhà văn đặc biệt quan tâm.

Tr-ớc đây, trong tiểu thuyết trung đại, các nhà văn hầu nh- chỉ chú ý tới việc miêu tả ngoại hình, hành động, lời nói của nhân vật, từ đó mà toát lên tính cách. Vì thế nhân vật trong tiểu thuyết trung đại thường là những “con ng-ời tiêu biểu”. Trái lại, tiểu thuyết hiện đại quan tâm đến “con người bình thường”. Dù cho nhân vật ở một địa vị xã hội như thế nào, hoàn cảnh sống như

thế nào, bản thân họ cũng vẫn chỉ là một con ng-ời với tất cả những cái tốt xen lẫn cái xấu. Bởi vậy, quan tâm thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật là một đặc tr-ng của tiểu thuyết hiện đại.

Nhà văn muốn xây dựng thành công nhân vật thì phải biết nhập thân vào nhân vật, sống đời sống của nhân vật để hiểu đ-ợc nhân vật hành động và

suy nghĩ nh- thế nào, có những cảm xúc ra sao. Chính điều này đã giúp cho tiểu thuyết hiện đại ngày càng đi sâu vào thế giới tinh thần của con ng-ời. Đó là một thế giới vô cùng phức tạp với những diễn biến của cảm xúc hết sức tinh vi. Tr-ớc đây, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng thủ pháp khắc hoạ nội tâm nhân vật thành công. Bằng nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình”, Nguyễn Du

đã lồng vào trong cảnh tất cả những rung động tình cảm, những diễn biến tâm lí tinh vi của con ng-ời, tiêu biểu là nhân vật nàng V-ơng Thuý Kiều. Tuy nhiên, lấy thiên nhiên để khắc hoạ con ng-ời vẫn là nét đặc tr-ng vủa văn học trung đại. Khi văn học Vịêt Nam b-ớc vào chặng đ-ờng hiện đại hoá, tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn đ-ợc xem là cột mốc trong tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc. Một trong những lí do chính đó là, việc Tự Lực Văn

Đoàn đã sử dụng thủ pháp miêu tả nội tâm nhân vật rất đặc sắc. Cuộc sống con ng-ời vốn rất phức tạp nh-ng cuộc sống tinh thần bên trong con ng-ời còn phức tạp hơn nhiều. Nhà văn phải thực sự hoà mình vào nhân vật để có thể diễn tả đ-ợc những trạng thái tình cảm vốn mong manh, tế nhị và tràn

đầy cảm xúc của con ng-ời.

Nguyễn Triệu Luật đã vận dụng thủ pháp miêu tả nội tâm nhân vật để thể hiện chân dung những nhân vật lịch sử. Nhờ vậy mà các nhân vật này trở nên sống động và “thật” hơn so với các sử liệu khô cứng. Qua đó, bạn đọc có thể hiểu rõ hơn những con ng-ời của lịch sử, một thời đại lịch sử đã sống và suy nghĩ nh- thế nào, từ đó mà bật lên tính cách của nhân vật. Thế giới nội tâm của nhân vật đ-ợc nhà văn thể hiện qua hình thức đối thoại và độc thoại néi t©m.

Đối thoại là một hình thức ngôn từ, một ph-ơng tiện để các nhân vật bộc lộ tính cách và các mối liên hệ với thế giới xung quanh. Nhà văn tạo ra các hoàn cảnh, xây dựng các tình huống để nhân vật tự ứng xử, qua đó bật lên

đ-ợc bản chất của nhân vật.

Khảo sát tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật, chúng tôi nhận thấy có 146 đối thoại (Bà Chúa Chè: 41, Chúa Trịnh Khải: 33, Loạn Kiêu binh: 33, Hòm đựng ng-ời: 39) của rất nhiều hạng ng-ời. Có những cuộc thoại khá dài. Đây là cuộc đối thoại giữa hai cha con, ông đồ Đặng và con gái là nàng Đặng Thị Huệ (trong Bà Chúa Chè) sau buổi bà Tiệp d- về thăm đồi chè làng Ném:

- Mụ ta gọi con sang làm gì đó? ý chừng lại muốn mang con về kẻ chợ làm thị nữ trong v-ơng phủ hẳn thôi?

Ung dung nàng đáp:

- Thày hãy khoan thai rồi con xin nói. Việc này con nghĩ còn có chỗ phân vân. Đêm nay thày nên tĩnh tâm mà bàn cùng con cho kĩ.

- Thì việc gì?

- Đúng nh- lời thầy dự đoán. Bà tiệp d- muốn đem con về kẻ chợ làm thị nữ phủ chúa.

- Cái đó thì thày nhất định không bằng lòng. Dẫu rằng nhà ta nghèo túng, nh-ng đem thân con làm đứa nô tì thì không nên. Thà rằng chết đói ở s-ờn đồi này còn hơn làm đứa con đòi mà sống. Con nghĩ lại mà xem: con nhờ trời nhan sắc cũng có, lại thiên t- sáng suốt, gọi là cũng có dự phần bút nghiên, sao lại có thể hạ mình làm những việc hạ tiện ấy đ-ợc? Làm thị nữ

trong v-ơng phủ thì chẳng phải làm gì khó nhọc cả, nh-ng... con có thể dìm tấm thân vào hàng tôi tớ đ-ợc không? điều ấy thầy nhất định không nghe.

Chẳng phải bàn tán gì cả. Để mai thày sang tận nơi nói cùng ông Quản hoặc nói ngay với bà tiệp d-.

- Con đã nhận lời rồi. Con cũng biết thày chẳng bằng lòng. Nh-ng con

đã có định kiến.

Ông đồ chua chát:

- Định kiến làm con đòi! Thật toi cả công tao dạy bảo. Mày làm tủi nhục đến cả vong linh mẹ mày!

Rồi ông vùng vằng trở đi:

- Cái đó xin tuỳ cô, tôi không dám dự. Cô muốn nhởn nhơ áo lụa quần là thì mặc cô. Vâng! mời cô theo bà chúa sang kẻ chợ ngay, tôi không dám giữ, không cấm.

Nói xong, ông vùng vằng ra đi, Huệ chạy theo van lơn:

- Thày đừng giận con. Con hãy tạm náu mình cho qua lúc khó khăn này, rồi một mai con lại về quê nhà... Xin thày đừng giận con quá. Việc đời, không biết đâu là chừng cả. Biết đâu phúc mà tìm, biết đâu hoạ mà tránh. Tái

ông thất mã, an chi phi phúc?

Qua lời thoại của hai cha con, ng-ời đọc phần nào hình dung đ-ợc về con ng-ời Đặng Thị Huệ. Bằng những lời nhận xét của ông đồ, không cần phải miêu tả nhiều, ng-ời đọc cũng thấy đ-ợc vẻ đẹp, sự thông minh và tài học của nàng. Đặng Thị Huệ tuy là phận gái nh-ng rất có chủ kiến, đã quyết

định việc gì thì quyết làm cho đ-ợc, nhất là khi thời cơ đã có.

Hay nh- đoạn đối thoại của Đặng Thị Huệ - khi đã đ-ợc làm v-ơng phi - với chúa Trịnh Sâm trong Bà chúa Chè. Chúa vốn có một viên ngọc dạ quang mang từ Quảng Nam về, rất quý, đem đính ở trên mũ.

- Chúa th-ợng đeo hòn ngọc gì thế?

- Hòn ngọc này quý lắm. Đêm đến ánh sáng toả ra sáng đ-ợc một khu nhỏ để xem sách. Đeo vào trừ gió độc.

Đặng Thị thò tay rút hòn ngọc ra ngắm nghía mãi rồi lại tung lên rồi lấy tay đỡ lấy để đùa.

Chóa nãi:

- Đừng đùa thế, lỡ ra rơi vỡ đó.

Đặng Thị sầm mặt lại:

- Lì vì th× sao?

- Đừng đùa nhảm!

Có thế mà nàng tru tréo lên:

- Chúa th-ợng quý vật hơn ng-ời! Lỡ ra vỡ thì chúa th-ợng giết thần thiếp chứ gì! Thôi thì tấm thân đã không đ-ợc chuộng bằng hòn đá Quảng Nam thì thà chết cho xong, sống làm gì. Đầu thần thiếp cùng ngọc này cùng vỡ!

Nói đoạn, nàng cầm hòn ngọc quật xuống thềm vỡ tan rồi ngồi phục xuèng:

- Tấm thân vứt bỏ xin chịu tội tr-ớc mặt chúa th-ợng.

Chúa Tĩnh Đô phải lấy tay đỡ nàng dậy rồi dỗ dành:

- Thôi đi! Cô Lạn T-ơng Nh-! Đây không phải triều đ-ờng n-ớc Tần mà cô cũng không phải sứ nước Triệu mà đe “thần đầu dữ bích câu toái” (đầu tôi cùng ngọc này cùng vỡ).

Nàng đứng dậy nói:

- Chúa th-ợng tiếc hòn ngọc là phải. Hòn ngọc ấy cũng có giá liên thành.

- Không phải là ta quý hòn ngọc hơn ái khanh, nh-ng hòn ngọc ấy quân sĩ đã v-ợt ngàn dặm mang về. Ta quý là quý t-ớng sĩ đã xông pha tên đạn, dãi gió dầm s-ơng, mới mang đ-ợc hai trấn Thuận Quảng với hòn ngọc ấy về.

Nay khanh đập vỡ thì thôi.

Những lời nói của nàng đều khéo dùng những điển cố văn ch-ơng khiến chúa Trịnh đã yêu lại càng thêm yêu, đã nể lại thêm phần bội nể. Qua cuộc thoại, chúng ta thấy Đặng Thị Huệ là ng-ời thông minh sắc sảo đến thế nào. Còn chúa Trịnh thì hiện lên bộ mặt của kẻ si tình. Hòn ngọc ấy quý giá, vì nó thấm bao nhiêu x-ơng máu của các t-ớng sĩ ngoài trận mạc đem về, vậy mà, ngài cũng chẳng nỡ trách tội ng-ời thiếp yêu. Bởi vậy, trong việc sụp đổ nhà Trịnh, Đặng Thị Huệ chính là kẻ đào hố, là kẻ khơi mào cho vận suy nhà Trịnh.

Cuộc đối thoại giữa Đoan Nam V-ơng Trịnh Khải và quân Kiêu binh (Loạn Kiêu binh), khi chúng kéo vào kimh thành làm loạn:

- Tam quân muốn giết D-ơng Tr-ởng phủ và Chiêm Võ hầu à?

- Chúng tôi muốn trừ hai thằng giặc hại n-ớc là D-ơng Khuông và Nguyễn Chiêm!

- Hại n-ớc, tức là hại ta, phải không?

- Chính là anh em định trừ hại cho v-ơng th-ợng.

- Thế là anh em định trừ hại chứ không định làm loạn?

- ChÝnh thÕ!

- Thế thì ta muốn anh em tha cho Quốc cữu vì lẽ Quốc cữu là quan Tr-ởng Phủ Sự, coi cả năm quân. Quan Tr-ởng Phủ dẫu có sai suyễn nh-ng cũng là ng-ời đứng đầu đô đốc phủ. Ta đã giáng xuống làm thứ dân, thế là đã

trị cái tội giết hại quân lính rồi. Nếu đòi giết D-ơng Khuông lúc y còn làm Tr-ởng phủ thì là làm loạn, mà làm loạn thì tam quân đã nói là không rồi. Nay D-ơng Khuông đã hạ làm thứ dân thì Tam quân là trảo nha của Nhà n-ớc, đâu lại giết một tên thứ dân.

V-ơng nghỉ một lúc. Chúng cũng im. Thấy chúng im, V-ơng biết là lòng chúng đã dẹp rồi, liền nói tiếp:

- Tam quân không định làm loạn, tức là vẫn một lòng trung trinh với ta?

Chúng im lặng. Chúa lại nói tiếp:

- Đã trung trinh với ta thì ta muốn xin cho tên D-ơng Khuông, một tên thứ dân là cậu ruột ta.

Kiêu binh nói:

- Vâng, xin cúi đầu chiều ý Chúa th-ợng. Nh-ng bao nhiêu việc ác ở Nguyễn Chiêm cả, xin Chúa th-ợng trị tội cho.

Chúa không đáp câu ấy, chỉ nói một cách lững lờ, n-ớc đôi:

- §Ó ta xem xem sao.

Quân nhao nhao lên:

- Xem gì? Xem gì? Phải đ-a thằng Chiêm ra đây.

Chúa giận lắm nh-ng cũng cố nén:

- Nếu bay khinh ta đến nh-ờng này thì khi x-a đừng dựng ta nữa có

đ-ợc không?

- Muốn làm thì dựng. Không thì thôi! Ai ép? Ai ép?

Thông qua đoạn thoại này, ng-ời đọc hình dung đ-ợc cảnh hỗn loạn của sự kiện loạn Kiêu binh. Giữa đám quân lính hỗn loạn, chúa Trịnh Khải chỉ còn biết lấy lời lẽ mà xoa dịu, van xin chúng. Một vị cộng chủ thiên hạ mà để mất uy quyền đến vậy là do Trịnh Khải bất tài và quá nhu nh-ợc. Qua cuộc thoại, ng-ời đọc cũng thấy đ-ợc bối cảnh xã hội nhiễu nh-ơng lúc bấy giờ, c-ơng th-ờng đạo lý không còn tác dụng, xã tắc d-ờng nh- không còn nữa.

Sau khi xin kiêu binh tha cho Nguyễn Chiêm không đ-ợc, Chúa đành thí Nguyễn Chiêm cho quân lính hả cơn giận. Đây là cuộc thoại giữa Đoan Nam V-ơng với Nguyễn Chiêm:

- Quân trong nội phủ còn đ-ợc bốn đội. V-ơng th-ợng cứ để tiểu thần dẹp loạn, Kiêu binh phải tan.

- Bốn đội quân Thị nội ch-a đ-ợc hai trăm đứa mà hiện giờ Kiêu binh có đến hàng mấy ngàn. Đánh cũng không lại.

- Thế V-ơng th-ợng định vứt thần cho đàn beo sói ăn thịt à?

- Lòng ta đâu nỡ thế. Đó chẳng qua vì phúc ta bạc mà số ng-ơi xấu.

Nay Kiêu binh oán giận Quốc cữu, Quốc s- và nhà ng-ơi thâm nhập cốt tuỷ.

Nếu không thoả lòng chúng đôi chút thì xã tắc khó mà an toàn. Chết để cho xã

tắc đ-ợc an toàn, ta t-ởng cũng là một điều mà kẻ làm tôi trung trinh không tiÕc th©n.

Chiêm Võ cúi đầu không nói gì.

Đoan Nam V-ơng nói tiếp:

- Hay là, ta liều xuống cho Kiêu binh nó đâm chém.

Chiêm Võ vội đỡ lời:

- Chúa th-ợng nghi bụng tôi hay sao? Vua phải lo nghĩ thì bầy tôi phải nhục, vua phải nhục thì bầy tôi chết. Chúa th-ợng là trụ thạch của xã tắc,

không nói chuyện liều thân đ-ợc. X-a nay chỉ nghe nói bầy tôi chết thay vua chứ ch-a từng nghe nói vua chết thay bầy tôi bao giờ. Tôi sở dĩ ngẫm nghĩ ch-a nói là muốn tìm cách giúp rập chúa th-ợng rồi mới chết.

Đoan Nam V-ơng thở dài:

- Còn có cách gì nữa. Cứ để thế này mãi, Kiêu binh nó cũng phá cung quyết. Khi đó ngọc thạch câu toái thì chẳng biết ai còn ai mất thế nào. Mà để

đến nỗi cung quyết bị phá huỷ, tông miếu tro tàn, tội ta đối với Tiên V-ơng lại càng nặng lắm

- Tôi xin chết. Tôi xin ra cho Kiêu binh nó giết. Nh-ng xin v-ơng th-ợng ba điều...

- Ng-ơi cứ nói, nghìn điều ta cũng cho.

- Một là, sau khi tôi chết đi, xin V-ơng th-ợng quản cố cho vợ con tôi.

Hai là, tôi vì xã tắc mà chết, xin v-ơng th-ợng phong cho tôi làm phúc thần và xin đ-ợc nhìn thấy cái lọng vàng rồi hãy chết. Ba là, xin V-ơng th-ợng cho tôi dùng thanh kiếm “Phượng Huy” Vương thượng ban cho dạo nọ để giết giặc. Tôi giết quân loạn thần tặc tử ấy thêm đ-ợc đứa nào, chết mát dạ thêm chừng ấy.

- Điều thứ ba thì ta xin nhà ng-ơi. Chỉ vì Quốc cữu, Quốc s- và nhà ng-ơi - nhất là nhà ng-ơi - gây nên chuyện chết chóc chúng nên chúng mới thù oán mà làm loạn nên thế. Nay ng-ơi lại giết chúng nó thì d-ờng nh- ta cho ng-ơi ra giết hại chúng. Nh- thế chúng sẽ oán ta, nó lại làm loạn nữa.

Thôi thì nhà ng-ơi đã biết lấy thân báo chúa thì nên làm cho chót lọt mọi việc.

Chung quy nhà ng-ơi vẫn phải chết thì nên chết làm sao cho yên bụng Tam qu©n.

- Thế là chúa th-ợng cho tôi là kẻ có tội đó?

- Không phải thế. Đó là ý chúng nh- thế mà ta phải chiều theo... Ta phải chiều theo là vì sao, ng-ơi biết đó! Thày học ta, cậu ruột ta chúng nó còn dám buộc tội kia mà! Thôi ta nói thế là đủ... Ng-ơi nên thể tình cho ta. Vợ con

ng-ơi, ta nuôi tử tế. Ta phong ngay ng-ơi làm Trung nghĩa Tráng liệt đại v-ơng và thảo sắc ngay cho nhà ng-ơi trên gác Kì Lân này, lấy lọng vàng che cho ng-ơi từ trên gác này xuống.

Nói đoạn chúa Trịnh tay thảo tờ sắc phong rồi sai lính mang ngay lọng vàng đến. Chiêm Võ đứng d-ới lọng vàng, tay cầm tờ sắc vàng đọc. Đọc hết chàng c-ời to:

- Sung s-ớng nh- thế này, ta chẳng chết thì còn đợi gì nữa. Đoan Nam v-ơng cũng c-ời:

- T-ớng quân che lọng vàng lúc sống kể còn đích đáng hơn Đinh t-ớng quân khi x-a. Đinh t-ớng quân đánh lừa Tiên v-ơng lấy chiếc lọng vàng, chứ nh- t-íng qu©n...

Chúa không nói đ-ợc hết lời, vì cảm động quá. Chiêm Võ vái chúa:

- Thần dẫu gan óc lầy đất cũng không báo đ-ợc ơn đãi ngộ này. Tờ sắc vàng này xin để lại cho con cháu. Thần muốn xin Đại v-ơng mấy chữ sắc phong để nuốt vào bụng rồi chết.

Chúa Trịnh lấy tờ giấy vàng, viết sáu chữ Trung nghĩa Tráng liệt đại v-ơng đ-a cho Chiêm Võ. Chiêm Võ cầm tờ giấy bỏ vào mồm nhai nuốt chửng đi:

- Bụng dạ bây giờ là bụng dạ ông thần Trung nghĩa tráng liệt.

Phục xuống sàn gác, Chiêm Võ lạy Chúa:

- Thần xin cùng v-ơng th-ợng biệt từ đây. Kiếp tái sinh xin lại đầu vào cửa viên để báo ơn V-ơng th-ợng.

Chúa Trịnh đỡ dậy:

- Xin trời đất quỷ thần chứng giám cho: Ngày nay cung quyết bị loạn quân áp bức, Nguyễn Chiêm bỏ thân cứu chúa. Ngày sau xã tắc đ-ợc yên, ta mà quên ng-ơi, xin cung điện hoá thành rừng rú.

Còn rất nhiều đoạn thoại khác nữa trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật đã thể hiện rõ nét tính cách nhân vật và hoàn cảnh xã hội lúc bấy

giờ. Tuy nhiên trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật, tr-ớc các lời thoại, tác giả th-ờng có các câu dẫn giải kiểu nh-: Quốc s- nói, Đoan Nam V-ơng nói rằng... Lời thoại dài, không có độ gấp gáp, đó cũng là đặc điểm của tiểu thuyết khi viết về đề tài lịch sử thời phong kiến.

Ngoài đối thoại thì độc thoại nội tâm đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, bộc lộ quá trình tự nhận thức của nhân vật. Do vậy, trong tiểu thuyết hiện đại, độc thoại nội tâm ngày càng có vai trò quan trọng. Chính quá trình tự nhận thức của nhân vật thông qua độc thoại nội tâm là điều kiện gia tăng chiều sâu tâm lí cho tác phẩm.

Độc thoại nội tâm đ-ợc biểu hiện d-ới nhiều hình thức phong phú nh-:

lời nhân vật, lời tác giả nh-ng mang giọng điệu của nhân vật... d-ới các dạng khác nhau: ghi nhật kí, viết th-, tự đối thoại với chính mình, dòng suy nghĩ của nhân vật, đối thoại với một ng-ời vắng mặt...

Độc thoại nội tâm vốn là những ý nghĩ thầm kín bên trong tâm hồn của con ng-ời, Nguyễn Triệu luật đã vận dụng thủ pháp nghệ thuật này để bộc lộ tính cách con ng-ời ở chiều sâu xa nhất, tâm can nhất.

D-ới dạng dòng suy nghĩ của nhân vật, Nguyễn Triệu Luật đã để cho các nhân vật của mình sống với những giằng xé trong tâm hồn, giữa cái xấu xa và cái tốt đẹp, giữa cái thiện và cái ác. Những suy nghĩ, trăn trở của Đặng Thị Huệ (Bà Chúa Chè) từ khi còn là cô thôn nữ hái chè đã phản ánh bi kịch của cuộc đời cô sau này. Là một cô gái nghèo, nh-ng Đặng Thị Huệ luôn ý thức

đ-ợc bản thân mình, tôn trọng bản thân mình nh-ng không thể làm đ-ợc gì

hơn do hoàn cảnh gia đình và gánh nặng áo cơm. Là ng-ời có học, lại thông minh và rất nhạy cảm, Đặng Thị Huệ hiểu rất rõ thế mạnh của mình và cũng hiểu đ-ợc những bất công trong xã hội. Nàng ao -ớc làm đ-ợc một điều gì đó

để thay đổi cuộc sống này. “Nàng băn khoăn mãi về mấy chữ nàng vừa sực nhớ đến ban chiều. Nhật mộ đồ viễn, mới là trời tà đ-ờng xa chứ cha con mình

đây thì đến nhật mộ đồ cùng nữa cũng có. Đ-ờng xa còn phải đảo hành

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết lịch sử nguyễn triệu luật (Trang 83 - 99)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(126 trang)