Lựa chọn đề tài nh- thế nào để viết là một vấn đề đối với ng-ời nghệ sĩ.
Nhà văn phải trăn trở để lựa chọn xem mình nên viết cái gì và viết nh- thế nào
để có thể bộc lộ đ-ợc t- t-ởng, ý đồ nghệ thuật của mình. Cuộc sống vốn phức
tạp. Mỗi nhà văn chỉ có thể lựa chọn cho mình một mảng đề tài để khai thác, giống nh- những miếng ghép của một bức tranh lớn.
Nguyễn Triệu Luật sống trong một bầu không khí đặc biệt của thời đại.
Bản thân là một giáo viên dạy bộ môn lịch sử, có niềm yêu thích đặc biệt đối với lịch sử dân tộc, Nguyễn Triệu Luật đã lựa chọn tiểu thuyết lịch sử làm hướng sáng tác chính trong sự nghiệp của mình. Tự nhận mình là “người thợ vụng”, Nguyễn Triệu Luật đã để lại dấu ấn riêng của mình trên văn đàn Việt Nam lóc bÊy giê.
Nguyễn Triệu Luật viết tiểu thuyết lịch sử nh-ng không giống với các tác giả cùng thời, chọn viết lịch sử qua nhiều triều đại, xuyên thế kỉ. Nguyễn Triệu Luật có sự quan tâm đặc biệt tới giai đoạn lịch sử thời Lê mạt - Nguyễn sơ. Thế kỉ XVIII là thế kỉ bão táp nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Ch-a bao giờ các tập đoàn phong kiến thống trị bộc lộ đầy đủ sự sa đoạ, sự tàn ác, sự suy thoái nh- lúc này. Số phận con ng-ời trở nên trớ trêu, mong manh. Lúc này, tình hình trong n-ớc hết sức rối ren. Đất n-ớc bị chia cắt thành hai miền, lấy Đèo Ngang làm ranh giới. Từ Đèo Ngang trở ra Bắc nằm d-ới quyền cai trị của chính quyền Lê Trịnh, gọi là Đàng Ngoài. Vùng đất Thuận - Quảng đ-ợc gọi là Đàng Trong. Chiến tranh giữa Đàng Ngoài và
Đàng Trong diễn ra liên miên trong suốt 45 năm, dân tình hết sức khổ sở.
Riêng ở Đàng Ngoài, tình hình chính trị lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Triều đình nhà Lê không thể kiểm soát đ-ợc tình hình. Nhà Trịnh cho xây v-ơng phủ ngay bên cạnh cung điện và nắm hết quyền bính. Vua Lê chỉ còn trên danh nghĩa. Nhân dân bị thiếu đói, bị c-ờng hào ức hiếp, ngay Chúa Trịnh Cương cũng đã thừa nhận rằng “ruộng đất rơi hết vào tay nhà hào phú còn dân nghèo thì không có miếng đất cắm dùi”, lại thêm thiên tai địch hoạ,
“dân khổ không chịu nổi” phải bỏ làng mà đi. Làng xóm tiêu điều, xơ xác.
Chính những điều kiện đó làm bùng lên các cuộc khởi nghĩa nông dân mà lực l-ợng chính là những ng-ời nông dân nghèo đói. Tập đoàn Lê - Trịnh đã phải
rất vất vả mới dẹp yên đ-ợc các cuộc khởi nghĩa đó bằng những chính sách mang tính chất xoa dịu nỗi bất bình của ng-ời nông dân. Tuy nhiên, không giải quyết đ-ợc triệt để vấn đề.
Năm 1767, Trịnh Sâm lên ngôi. Ông là ng-ời lòng dạ hẹp hòi, thích ăn chơi h-ởng lạc. Trịnh Sâm rất sủng ái Đặng Thị Huệ, phong cho làm v-ơng phi, th-ờng cho luận bàn cùng những việc quốc gia đại sự. Do chơi bời hoang dâm vô độ, nên mới hơn 40 tuổi, chúa Trịnh Sâm mắc chứng bệnh nặng, ở lì
trong cung, mọi quyền hành tập trung trong tay Đặng Thị và tình nhân là Quận công Hoàng Đình Bảo. Hai ng-ời này âm m-u phế bỏ con tr-ởng của Trịnh Sâm là Trịnh Tông, dựng con của Thị Huệ là Trịnh Cán mới 6 tuổi lên ngôi thế tử. Tình trạng này kéo dài đ-ợc hai tháng thì quân Tam phủ làm loạn, giết chết Hoàng Đình Bảo, phế Trịnh Cán, đ-a Trịnh Khải lên ngôi chúa.
Trịnh Khải lên ngôi càng làm cho tình hình chính trị trở nên rối ren hơn. Lực l-ợng quân Tam phủ trở thành Kiêu binh, không sao tiết chế nổi.
Triều đình mục ruỗng, dân tình lâm vào cảnh khốn cùng, cơ đồ hơn hai trăm năm của nhà họ Trịnh bị lung lay.
Hoài Nam khi nhận định về tiểu thuyết lịch sử đã quan niệm rằng: “Viết tiểu thuyết lịch sử, nhà văn đặt trọng tâm trong việc tái hiện một cách sinh
động chủ nghĩa anh hùng Việt Nam trong chiến đấu ngoại xâm, ca ngợi những võ công oanh liệt, nêu bật những tấm g-ơng danh nhân đã làm rạng danh cho non sông đất n-ớc, để qua đó, khơi dậy ở con ng-ời hiện tại niềm tự hào tr-ớc quá khứ đẹp đẽ của dân tộc. Trong tr-ờng hợp ng-ợc lại, khi nhà văn viết về những thất bại trong lịch sử hoặc tái hiện những nhân vật phản diện, những gương mặt “xấu” của lịch sử, khi đó một bài học hoặc một lời cảnh tỉnh đã
đ-ợc rút ra từ quá khứ trao cho hiện tại” [46]. Tiểu thuyết lịch sử giai đoạn 1930 - 1945, hầu hết các tác giả viết về những tấm g-ơng danh nhân, những anh hùng lịch sử của dân tộc. Nguyễn Triệu Luật ng-ợc lại, ông viết về mặt bên kia của lịch sử, những nhân vật của thời loạn lạc. Thông qua đó, tác giả
thể hiện sự phê phán triều đình phong kiến mục ruỗng, thể hiện niềm th-ơng cảm sâu sắc tới số phận con ng-ời. Và hơn hết, là sự chiêm nghiệm bài học mà lịch sử để lại.
Bất cứ một cuốn tiểu thuyết nào, dù là tiểu thuyết lịch sử cũng đều là
ánh xạ của đời sống thực tại. Phan Cự Đệ đã nhận xét: “Tiểu thuyết lịch sử 45 năm đầu thế kỉ XX của n-ớc ta th-ờng có khuynh h-ớng dùng lịch sử để so sánh những vấn đề hiện tại” [11,180]. Chúng ta biết rằng giai đoạn 1930 - 1945 cũng là một giai đoạn lịch sử nhiều sóng gió. Cũng nh- nhiều thanh niên thời đại ông lúc bấy giờ, nung nấu lòng căm hờn với chế độ thực dân Pháp,
ông tham gia đấu tranh trong các phong trào yêu n-ớc chống Pháp. Sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái do tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng lãnh đạo thất bại, Nguyễn Triệu Luật cùng nhiều đảng viên khác phải vào tù. Sau khi ra tù, với vốn tri thức lịch sử và văn hoá của mình ông chuyển sang viết văn. Ông mong muốn bằng các tác phẩm của mình, sẽ nâng cao sự hiểu biết của ng-ời dân về lịch sử n-ớc nhà, thôi thúc lòng yêu n-ớc của họ tr-ớc cảnh sống nô lệ.
Các cuốn tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật ra đời, tập trung vào quá
trình diệt vong cơ đồ hơn hai trăm năm của nhà Trịnh. Đọc truyện x-a để nhớ tới hiện tại, đó chính là lí do thôi thúc tác giả lựa chọn giai đoạn lịch sử thời kì
Lê mạt làm đề tài cho các tập tiểu thuyết của mình.