Cảm hứng phê phán

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết lịch sử nguyễn triệu luật (Trang 54 - 60)

2.3. Cảm hứng sáng tạo

2.3.2. Cảm hứng phê phán

Phê phán trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật đó là việc phơi bày một cách chân thực xã hội và con ng-ời trong một giai đoạn lịch sử có thật của dân tộc. Nh- trên chúng ta đã nói, đây là thời kì bão táp nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Ch-a bao giờ các tập đoàn phong kiến thống trị bộc lộ đầy đủ sự sa đoạ, sự tàn bạo, và suy thoái nh- lúc này. Do đó, trong tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật, ngoài cảm hứng lịch sử còn có cảm hứng phê phán. Nói cách khác, tái hiện lịch sử một cách chân thực cũng chính là thể hiện thái độ phê phán của tác giả. Nhà văn phê phán những cái xấu xa, bạo tàn, bất lực của lịch sử để làm bài học cho ngày hôm nay, cảnh tỉnh tấm lòng của những con ng-ời thời hiện tại đối với lịch sử của dân tộc. Bởi thế, những trang viết của Nguyễn Triệu Luật hết sức sâu sắc.

Những cuộc chiến tranh giành quyền lực của những ng-ời trong hoàng tộc là điều không hiếm trong chế độ phong kiến. Thời đại mà ng-ời làm vua có nghĩa là làm chủ đ-ợc thiên hạ, có quyền sinh quyền sát trong tay. Thế nên, mới xảy ra những chuyện rối ren nh- con giết cha, anh em giết hại lẫn nhau để

giành ngôi báu. Nguyễn Triệu Luật không đi ra ngoài mạch cảm hứng chung ấy. Nhà văn thẳng tay phê phán những yếu nhân của lịch sử. Chúa Trịnh Sâm (Bà Chúa Chè) phận là bề tôi nh-ng lại tiếm quyền của vua Lê. Bấy lâu, vua Cảnh H-ng chỉ còn là cái bóng, bổng lộc đều do nhà Trịnh phân phát, quản lí.

Nhà Trịnh cho mở phủ riêng, các đời truyền nhau nối ngôi Chúa, coi sóc tất cả

mọi việc trong n-ớc. Chúa Trịnh đặt ra các phiên, các quan lại để điều hành công việc. Việc lập phủ, tiếm quyền vua Lê của nhà Trịnh đã là tội phản nghịch, tội bất trung rồi. Mầm loạn đã có từ đó. C-ơng th-ờng đạo lí đảo lộn từ đó. Khi Trịnh Sâm lên làm thế tử, chỉ vì lòng đố kị và tham vọng làm bá

chủ mà Trịnh Sâm bức hại thái tử Lê Duy Vĩ. Trịnh Sâm còn là kẻ ham mê nữ

sắc. Vì sủng ái Đặng Thị Huệ mà Chúa Trịnh Sâm bỏ con tr-ởng lập con thứ.

Việc làm của Trịnh Sâm gieo vào lòng Trịnh Khải một nỗi thù hằn. Vì thế, khi nghe tin chúa Trịnh Sâm sắp mất, Trịnh Tông đã cùng bè đảng chuẩn bị quân lực để tiến hành đảo chính, giành lấy ngôi cao. Chính chúa Trịnh Sâm là đầu mối cho mối bất hoà trong quan hệ giữa ông với con trai Trịnh Khải, giữa bè

đảng Đặng Thị với vây cánh của Trịnh Khải... Việc làm của Trịnh Sâm không phải là việc làm của một ông vua hiền minh, biết vì t-ơng lai của xã tắc. Vì

chữ “quyền” và chữ “tình”, rút cục Trịnh Sâm không tránh khỏi cái chết, Trịnh Khải phải mổ bụng tự sát trong tay quân phản loạn.

N-ớc không thể không có quân lính. Họ là lực l-ợng bảo vệ cho sự bình yên của xã tắc cả trong thời bình cũng nh- khi có giặc giã. Vậy mà, trong tác phẩm Chúa Trịnh Khải và Loạn Kiêu binh, ta thấy chúng coi th-ờng tất cả từ vua, chúa đến tất cả bá quan văn võ trong triều. “Kiêu binh x-a kia tuy kiêu hãnh nh-ng sự kiêu hãnh ấy do chiến công mà ra. Họ chỉ kiêu hãnh với quan văn mà họ cho là vô ích cho nhà n-ớc, họ chỉ kiêu hãnh với dân gian mà họ cho là vì họ mới đ-ợc yên ổn làm ăn. Nh-ng đối với... chúa - nhất là đối với chúa - họ ch-a từng dám nghĩ ngợi gì tới, họ vẫn coi là một ng-ời thần thánh.

Đối với quan võ họ vẫn coi là thầy họ. Từ khi họ nổi loạn lên, giết Hoàng

Đình Bảo là ng-ời họ từng trăm trận trông thấy phất cờ thét loa chỉ huy trên mình voi, từ khi ấy, họ coi th-ờng cả quan võ. Ông t-ớng coi vạn quân, ông t-ớng đánh d- trăm trận kia họ còn móc trên mình voi xuống mà giết đ-ợc thì

các quan võ khác, họ coi ra chi? Từ khi họ nổi loạn lên, từ khi họ cõng một ng-ời tù là thế tử Khải đặt lên ngôi báu một vị chúa, từ khi ấy họ coi th-ờng nốt cả ng-ời mà x-a kia họ không dám nghĩ nghị tới, ng-ời mà x-a kia họ vẫn coi là thần thánh bất khả xâm phạm” [33,203]. Một đất n-ớc mà không còn tôn ti trật tự thì khó mà yên bình đ-ợc. Chúa Trịnh Khải lại là ng-ời nhu nh-ợc. Quân lính đã coi th-ờng cả mình rồi mà không biết làm thế nào để trị.

Chúa chỉ tìm cách thu phục họ bằng cách: cho chúng tiền, cho phẩm t-ớc.

Chúa làm thế càng nuôi thêm lòng kiêu hãnh của kiêu binh mà thôi. Chúa còn ban cho họ nhưng “không đầu sắc” để họ tự điền tên những người thân yêu vào. Làm nh- thế là Chúa đã chia sẻ một phần quyền bính của mình cho kẻ khác. Tiếp đó, quân Tam phủ đ-ợc đằng chân lân đằng đầu. Chúng kéo vào phủ Liêu đòi dựng Lê Duy Kỳ lên làm Hoàng thái tôn. Thế là ngôi chúa từ tay họ ra, ngôi thái tôn cũng ở tay họ ra. Làm vua không biết trị n-ớc. Làm lính mà giết t-ớng, ức hiếp vua, chúa, là làm loạn. Hai cuốn Chúa Trịnh KhảiLoạn Kiêu binh tuy rằng chép riêng từng việc nh-ng cả hai là những sự việc lồng vào nhau. Nếu Chúa không tham quyền cố vị, nuông chiều kiêu binh thái quá thì chúng đã không dám làm loạn đến thế. Nguyễn Triệu Luật phân tích một cách kĩ l-ỡng cả con ng-ời và sự kiện lịch sử, tìm thấy mối quan hệ giữa chúng, từ đó thể hiện tiếng nói phê phán tới chính quyền phong kiến đã đến lóc hÊp hèi.

Vua Lê chỉ còn trên danh nghĩa còn quyền hành nằm trong tay Suý phủ.

Sự bạc nh-ợc của vua Lê đ-ợc thể hiện ở vua Lê Hiển Tông. Khi Hoàng tôn Duy Kỳ đ-ợc trả về ngôi cũ, có ý dùng quân Kiêu binh để đánh đổ nhà Trịnh, dựng lại cơ nghiệp. Vua Hiển Tông đã nói với thái tôn rằng: “Từ ngày sáng nghiệp về sau thì quyền ở hoàng gia, từ ngày Trung h-ng đến nay, quyền về

V-ơng phủ. Sáng nghiệp dĩ hậu, quyền tại Hoàng gia, trung h-ng dĩ lai, quyền quy v-ơng phủ. Câu ấy đã thành câu quen miệng đi rồi. Vả lại, cái thế đôi bên Hoàng gia V-ơng phủ ỷ vào nhau để cùng còn mất, cái thế ấy đã thành thế bất dịch rồi. Thì thế nh- thế, ta c-ỡng làm sao? Thôi, cháu đừng nghĩ tới việc viển vông ấy làm gì cho hại vào thân. Mình cứ yên ổn thế này cũng đ-ợc rồi.

Cơ nghiệp của đức Thái tổ con cháu đã h-ởng linh trăm năm rồi. Tới khi n-ớc nhà gặp buổi bất tạo, họ Mạc thoán quốc, cơ nghiệp Hoàng gia đã tắt hẳn rồi. Sau này, tái tạo lại sơn hà là công ở Trịnh Thái v-ơng, Triết V-ơng cả. Từ đó về sau Hoàng gia mà còn giữ ngôi báu để nối vào việc phụng tự tông miếu là nhờ chút di trạch, di phúc của đức Thái tổ. Tổ tiên ta, về tiền triều, có dự gì đến Hoàng gia nữa đâu. Đ-ợc nh- thế này, ta t-ởng đã là phúc to lắm.

Cháu nên biết thì vụ một chút. Đừng như cha cháu mà mang vạ vào mình”

[33,287]. Sự nhún nh-ờng của vua Lê thể hiện ngài là ng-ời biết thời thế nh-ng cũng biểu hiện sự bạc nh-ợc của ông. Lê Hiển Tông trở thành ông vua vô tích sự nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam.

Không chỉ là những cuộc tranh giành của những ng-ời đứng đầu chính phủ, trong nội cung, cuộc chiến giữa các bà phi tần của chúa cũng khốc kiệt không kém. Ai cũng đem tài mình, sắc mình, mong thấu đến người “quyền khuynh thiên hạ”. Người thắng thì chăn ấm nệm êm, kẻ thua thì chăn đơn gối chiếc. Có ng-ời vào cung rồi bị bỏ quên mãi đến lúc chúa qua đời mà vẫn không đ-ợc sủng ái. Có ng-ời đ-ợc sủng ái thì nảy sinh lòng tham. Cuộc đua tranh giành ngôi thái tử về tay con mình đ-ợc họ thực hiện bằng những âm m-u và thủ đoạn. Thắng hay thua họ đều phải trả những giá đắt, có ng-ời phải bỏ cả mạng sống của mình.

Trong Hòm đựng ng-ời, ng-ời đọc lại thấy rùng mình sợ hãi khi chứng kiến cảnh từng đoàn cung nữ, quần áo trắng toát, lặng lẽ đi vào lăng mộ lạnh lẽo. Lúc sống, các đấng quân v-ơng dùng đủ mọi loại thuốc mong đ-ợc tr-ờng sinh bất tử. Nh-ng rồi, khi không thắng đ-ợc tạo hoá, các vị lại cho

xây dựng lăng tẩm, để khi chết đi rồi không bị cô đơn lạnh lẽo nơi chín suối.

Cái thói trăng hoa, dâm dục của họ đến chết vẫn còn, khiến cho hàng trăm cô

gái tuổi xuân mới hé nụ phải sống uổng phí một đời ng-ời. Không những vậy, trong cuốn tiểu thuyết này, Nguyễn Triệu Luật còn phục dựng lại những hình tra tấn dã man. Qua hai nhân vật ấu Mai và nàng hầu Thuý Hồng vì bị tội nên phải chịu cực hình tra tấn. Ng-ời đọc sẽ đ-ợc trải qua những giây phút kinh sợ

đến thót tim và xót xa th-ơng cảm cho ng-ời bị tội, thấy căm phẫn cho sự dã

man của hình phạt. Nguyễn Triệu Luật khi thuật lại những hình tấn cũng phải thốt lên “ngòi bút, vì nó có tâm hồn, chắc nó phản kháng chẳng chịu cho soạn giả đây dùng viết những lời máu sa thịt rụng như thế” [33,486]. Chúng tôi xin trích dẫn những hình tấn khủng khiếp mà hai nàng ấu Mai và Thuý Hồng phải chịu đựng

Hình thứ nhất: Hình roi kim. Roi kim dùng bằng sợi mái già, xung quanh đầu roi ghép toàn kim thép. Đàn bà chịu hình roi khác đàn ông ở chỗ

đàn bà không phải nằm, mà phải quì cho khỏi gục sấp xuống, hai tay chống xuống đất, bị buộc chặt vào hai cái cọc, đóng thật chắc. D-ới hàm cũng có một cái cọc đỡ. Sợ kẻ chịu hình khi bị đau đập hàm vào đầu chiếc cọc, bọn ngục lại, họ để một cái gối bông vào giữa hàm và đầu chiếc cọc. Quần phải chật cho hở hai mông ra. Ng-ời nào bụng mang dạ chửa, họ cho nằm sấp xuống, để bụng chửa lọt vào cái hố đ-ợc đào sẵn, bốn chân tay có bốn cọc, buộc chặt ngang mình một sợi dây vắt qua, hai đầu thiết chặt vào hai chiếc cọc đóng sát cạnh s-ờn. Khi hình bắt đầu, tên Đầu roi giơ roi lên cao, đánh bạt một cái vào mông bên trái, từ tả sang hữu; roi lại giơ lên, đánh cái thứ hai vào chỗ cũ, mũi roi lại đi từ hữu sang tả; roi lại đi cao lên lần thứ ba bổ mạnh vào hai vết tr-ớc, khi cái roi thứ ba cất lên, một miếng thịt bắn ra, theo một dòng máu chảy xuống đất. Tiếp đến là mông bên phải, lại ba roi nh- thế.

Hình thứ hai: Hình kìm chín. Kìm đ-ợc nung đỏ trong lò lửa. Trong lò luôn có sẵn ba chiêc kìm nung đỏ. Tội nhân phải cởi trần. Đầu kìm dùng kìm

dí vào má ng-ời bị tội. Khi mũi kim bập vào má, mọi ng-ời nghe một tiếng xèo xèo, rồi mùi thịt cháy bay ra, ngửi ghê ghê nh- mùi tóc đốt. Cứ thế cho

đến mũi thứ m-ời.

Hình thứ ba: Hình kìm sống. Nghĩa là hình kìm lạnh. Ng-ời chịu tội bị trói vào chiếc ghế dựa, quần phải vén đến tận hông. Hình kìm sống đau đớn hơn hình kìm chín nhiều lắm. Kìm chín kẹp vào tuy thịt có bị cháy, nh-ng

đồng thời thịt bị chết, cảm giác thần kinh bị h- hỏng, ng-ời ta không thấy đau nữa. Mỗi một miếng kìm chín chẳng qua nh- một miếng bỏng to mà thôi.

Kìm sống thì vặn vào thịt t-ơi, trong khi mũi kìm nhai thịt, máu đào ròng ròng chảy, miếng thịt vẫn sống nguyên, thần kinh vẫn còn nguyên, mà chịu hết cái

đau đớn xé ruột xé gan. Cứ thế cho đến mũi thứ m-ời.

Hình thứ t-: Hình kìm đai. Một chiêc đai sắt hình bán nguyệt buộc vào nhau. Chỗ nối nhau, khi tấn, hai tên lính kìm kẹp chặt lại. Khi kẹp chặt hai chỗ nối lại, đai sắt nhỏ vòng lại thiết chặt vào trán gáy kẻ chịu hình. Ba mũi

đanh liền vào đai ăn sâu vào thái d-ơng và trán rất đau đớn.

Hình thứ năm: Hình kẹp tay. Hai miếng tre đực, một miếng để trên lòng bàn tay, một miếng để trên mu, hai đầu có dây buộc nối vào nhau. Dây một

đầu buộc chặt, một đầu buộc lỏng. Đầu lỏng, dây thừa một đoạn. Chỗ thừa ấy, khi tấn, tên ngục lại cho chiếc que sắt vào xoay. Que càng xoay dây càng chặt, hai miếng tre càng kẹp vào hai đầu ngón tay. X-ơng kêu răng rắc. M-ời ngón tay máu đọng to ra trông nh- m-ời qủa phù quân chín.

Hình thứ sáu: Hình nêm chân. Hình này dùng những miếng tre rộng chừng một tấc. Những phiến tre ấy có chỗ xâu dây, nối lại cùng nhau. Ngục lại đem ấp những miếng tre ấy quanh ống chân ng-ời chịu hình rồi lấy dây tam cố thật bền buộc lại. Khi tấn, ngục lại lấy miếng gỗ nghiến là thứ gỗ vừa dẻo thớ, vừa chắc nhất - thuôn thuôn đầu nhỏ đầu to vào giữa dây tam cố và những miếng tre bọc ống chân. Đầu thuôn thuôn xuống d-ới, đầu to ở trên.

Đoạn họ lấy búa giội thật mạnh lên đầu miếng nêm. Nêm vào bao nhiêu thì

miếng kẹp thiết vào bấy nhiêu. Hai chân ng-ời bị tội tụ máu s-ng phù, đau buốt đến tận x-ơng.

Hình thứ Bảy: Hình kẹp vú. Hình này sơsài lắm, chỉ có miếng tre chẻ

đôi, chỗ đốt có dính lại, cho kẹp vào đầu vú. Sức miếng tre đực kẹp lại, đầu vú bẹt hẳn lại nh- miếng trầu nhá nhỏ.

Hình thứ tám: Hình này còn đau đớn hơn nhiều so với các hình kìm chín, roi kim, nêm chân... Hình tấn này là bắt ng-ời chịu tội phải chịu khát.

Các hình khác dẫu có đau, song chỉ đau một phần trong thân thể; hình này thì

toàn thân phải chịu đau khổ, mà chịu một cách vô hình, vô ảnh. Các hình khác dẫu có đau, nh-ng còn mong vì đau quá ngất đi mà giải thoát đ-ợc; hình này thì mỗi phút thêm một nỗi đau, càng lâu nỗi đau càng thấm thía.

Sau khi chịu đủ các cực hình dã man đó, ng-ời không chịu nổi thì chết ngay trên bàn tấn. Ngoài ra còn các hình khác nh- bị tội giảo (tội thắt cổ), tội lăng trì xử tử, tội xử tử kiêu thử (bêu đầu) ba ngày, bị tứ mã phanh thây, tội voi giầy... Đặng Phi Hiển là Tiến sĩ, bị tội, nên phải đục bia Tiến sĩ ở Văn Miếu, và t-ớc tên trong Hoàng triều đăng khoa lục.

Qua những trang viết sinh động của mình, Nguyễn Triệu Luật muốn bạn đọc nhớ tới quá khứ của dân tộc với những bài học lịch sử, từ đó mà nảy sinh tình cảm với Tổ quốc mà lúc đó đã rơi vào tay thực dân Pháp. Biết đâu, trong số bạn đọc, có ng-ời đ-ợc thức dậy lòng yêu mến đối với đất n-ớc quê h-ơng mà làm đ-ợc gì chăng?

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết lịch sử nguyễn triệu luật (Trang 54 - 60)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(126 trang)