1.2. Sự vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện đại
1.2.2. Sự vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
Cảm hứng yêu n-ớc và cảm hứng nhân đạo là hai nguồn cảm hứng chính của văn học Việt Nam. Yêu n-ớc gắn liền với th-ơng nòi, với lòng tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc trong cuộc đấu tranh dựng n-ớc và giữ
n-ớc. Vì thế mà cảm hứng yêu n-ớc gắn liền với cảm hứng lịch sử.
Trong văn học Trung đại Việt Nam, cảm hứng lịch sử trở thành nội dung chính trong các sáng tác của Nguyễn Trãi, Tr-ơng Hán Siêu, Lê Thánh Tông... Dần dần, các tác phẩm viết về đề tài lịch sử cũng có một diện mạo riêng. Tác phẩm nổi tiếng nhất về đề tài lịch sử thời trung đại là Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái. B-ớc sang thế kỉ XX, cùng với quá trình hiện đại hoá văn học, tiểu thuyết lịch sử có sự phát triển cả về số l-ợng và chất l-ợng. Quá trình phát triển này đ-ợc chia thành các giai đoạn sau:
Vào những năm đầu của thế kỉ XX (khoảng hai m-ơi năm đầu thế kỉ), tiểu thuyết lịch sử chủ yếu phát triển ở Nam Bộ, theo hướng “ngoại sử”. Nghĩa là, lịch sử đ-ợc dùng nh- một cái nền để tác giả mô tả đời t- của những con ng-ời cụ thể nh-ng không có thật trong lịch sử dân tộc. Các tác phẩm tiêu biểu: Phan Yên ngoại sử - Tiết phụ gian truân” (Tr-ơng Duy Toản), Oán hồng quần Phùng Kim Huê ngoại sử, Tô Huệ Nhi ngoại sử (Lê Hoằng M-u). ở tác phẩm Phan Yên ngoại sử - Tiết phụ gian truân kể về cuộc tình đầy gian truân của chàng V-ơng Thế Trân và nàng Nhan Khả ái. Sau nhiều biến cố, cuối cùng họ đ-ợc gặp lại nhau, tổ chức hôn lễ t-ng bừng và sống hạnh phúc trọn
đời bên nhau. Tác phẩm lấy bối cảnh thời Chúa Nguyễn - Tây Sơn, nh-ng tất cả các nhân vật đều h- cấu. Trong bối cảnh đ-ơng thời, phong trào Đông Du
phát triển rất mạnh mẽ. Viết tác phẩm này, tác giả nhằm đề cao chính nghĩa cần v-ơng phục quốc, ca ngợi phong trào đấu tranh chống Pháp của các sĩ phu và nhân dân ta lúc bấy giờ. Tác phẩm Oán hồng quần Phùng Kim Huê ngoại sử kể về cuộc đời ba chìm bảy nổi, bất hạnh của nàng Phùng Kim Huê. Tác phẩm lấy bối cảnh thời Pháp đô hộ. Tác phẩm Tô Huệ Nhi ngoại sử, lấy bối cảnh Trung Quốc hồi đầu thế kỉ, kể về mối tình của Châu Kỳ X-ơng và nàngTô Huệ Nhi. Tuy lấy bối cảnh Trung Hoa nh-ng tác phẩm lại thể hiện một tinh thần sôi nổi, cổ suý cho tầng lớp thanh niên hăng hái đi theo cái mới, v-ợt mọi trở ngại
để đấu tranh giành lấy hạnh phúc. Các tác phẩm thời kì này có khung cảnh, cốt truyện đều đ-ợc rút ra từ thực tế xã hội Việt Nam đ-ơng thời.
Cuối những năm 20, đặc biệt là từ năm 1930 đến năm 1945, tiểu thuyết lịch sử phát triển nhanh chóng ra miền Bắc và đi theo hướng “dã sử”. Nghĩa là các tác phẩm có nhân vật chính là anh hùng dân tộc, là những con ng-ời có thật trong lịch sử. Lúc bấy giờ phong trào yêu n-ớc đang dâng cao. Sự ra đời của tiểu thuyết lịch sử chính là sự cổ vũ nhiệt tình cho lòng yêu n-ớc đó. Đây là thời kì tiểu thuyết lịch sử phát triển với số l-ợng nhiều nhất trong số các tác phẩm viết về đề tài lịch sử của văn học Việt Nam trong suốt thế kỉ XX.
Giai đoạn này, tiểu thuyết lịch sử chia làm hai khuynh h-ớng: khuynh h-ớng hiện thực và khuynh h-ớng lãng mạn. Những ng-ời viết theo khuynh h-ớng hiện thực chủ nghĩa th-ờng tôn trọng sự thật lịch sử. “Trong quá trình sáng tác các nhà viết tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trọng sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy cao độ vai trò của h- cấu, sáng tạo nghệ thuật. Nghiên cứu lịch sử một cách công phu, chính xác, đó là con đ-ờng của các nhà tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa” [11,167]. Bên cạnh việc tôn trọng sự thật lịch sử, các nhà văn viết theo khuynh h-ớng hiện thực vẫn chú trọng tới yếu tố h- cấu. Chính những yếu tố h- cấu này làm cho nhân vật lịch sử trở nên sống động, chân thực và toàn vẹn hơn. Tiêu biểu cho khuynh h-ớng này là các tác phẩm Hòm
đựng ng-ời, Chúa Trịnh Khải, Loạn kiêu binh của Nguyễn Triệu Luật, Tiếng sấm đêm đông (Nguyễn Tử Siêu)...
Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Triệu Luật đã khắc hoạ rất thành công các nhân vật lịch sử nh- Chúa Trịnh Sâm, Đặng Thị Huệ, Chúa Trịnh Khải, v-ơng tử Cán, Quốc công Hoàng Đình Bảo... Đây là những nhân vật nổi tiếng trong sử sách. Trong Bà Chúa Chè, Trịnh Sâm trong con mắt của Nguyễn Triệu Luật là một vị chúa m-u l-ợc, có tài quân sự nh-ng cũng thực si tình. Vì yêu Đặng Thị mà ngài sẵn sàng bỏ con tr-ởng lập con thứ, gây nên cái hoạ diệt vong cơ đồ hơn hai trăm năm của nhà họ Trịnh. Còn Đặng Thị Huệ là một cô thôn nữ thông minh, sắc sảo nơi đồi chè làng Ném. Không cam chịu làm “con công giữa bầy gà”, thành ra cô trở thành một thứ “quái vật”, chọn cách “đảo hành nghịch thi” để giành lấy những gì mình muốn hưởng thụ.
Trong tác phẩm Chúa Trịnh Khải, tác giả lại đi sâu khắc hoạ nhân vật Trịnh Khải từ khi bị phế truất phải ra ở nhà riêng của quan A bảo, cho tới khi đ-ợc quân Kiêu binh tôn phù, mối quan hệ giữa Chúa và quân Kiêu binh... Trong Loạn Kiêu binh và Hòm đựng ng-ời, tác giả lại đi vào miêu tả những sự kiện lịch sử đã từng xảy ra nh- việc quân Tam phủ cậy công lao mà trở thành Kiêu binh và làm loạn kinh thành, tục lệ lấy các cung nữ đem ra Sơn lăng hầu hạ những bậc quân v-ơng đã chết... Tác phẩm của ông là ng-ời thật, việc thật, ngoài cảm hứng tái hiện chân thực lịch sử còn có cảm hứng phê phán và cảm hứng nhân đạo. Vì thế, chất hiện thực trong tác phẩm của ông rất đậm nét.
Khuynh h-ớng thứ hai là các tác giả viết theo khuynh h-ớng lãng mạn.
Có nghĩa là yếu tố h- cấu trong tác phẩm rất đậm nét. Sự kiện lịch sử, thời đại lịch sử với nhà văn chỉ còn là cái nền để họ đi sâu khai thác những vấn đề riêng tư của con người, phục vụ “nghệ thuật”. Các tác phẩm tiêu biểu như Cái hột mận, Chiếc ngai vàng (Lan Khai), Tiêu Sơn tráng sĩ (Khái H-ng), Đêm hội Long Trì (Nguyễn Huy T-ởng), Bà Quận Mỹ (Chu Thiên)...
Các tác phẩm này đều lấy bối cảnh lịch sử, có các nhân vật lịch sử nh-ng các tác giả đi vào khai thác vấn đề tình yêu cá nhân tr-ớc thử thách của thời cuộc, những vấn đề riêng t- xoay xung quanh cuộc đời của một nhân vật lịch sử nào đó... Tác phẩm Cái hột mận của Lan Khai kể về mối tình tay ba giữa D-ơng Hậu - vợ vua Ngoạ Triều với Lý Công Uẩn và nàng Bội Ngọc.
D-ơng Hậu là kẻ phong tình, khi vua Ngoạ Triều ốm yếu, bà mang lòng yêu thầm chàng t-ớng trẻ tài ba là Lý Công Uẩn nh-ng không đ-ợc chàng đáp lại.
Tình yêu đơn ph-ơng khiến bà trở thành kẻ thủ đoạn và tàn ác. Mối tình giữa Lý Công Uẩn và nàng Bội Ngọc là mối tình thơ mộng của đôi trai tài gái sắc.
Bạn đọc không chỉ bị hấp dẫn bởi mối tình tay ba của những nhân vật bấy lâu chỉ đ-ợc nghe nhắc đến trong sách lịch sử, bạn đọc còn bị hấp dẫn bởi những tình tiết li kì, hấp dẫn xung quanh ba nhân vật này. Vua Ngoạ Triều không chỉ là kẻ hoang dâm vô độ mà còn là kẻ độc ác khi ông ta róc mía trên đầu nhà s-,
đi thuyền ngự xem trầm hà (dìm ng-ời xuống n-ớc cho chết) trên sông Nho Quan, xử nàng Bội Ngọc tội “lột trần tuốt nứa”. Đây là bút pháp nghệ thuật
đặc tr-ng của Lan Khai. Lịch sử với ông chỉ là cái nền để ông thực hiện
“khuynh hướng về nghệ thuật”, làm cho độc giả “mơ màng, say đắm”.
Đêm hội Long Trì ngoài những trang viết rất thực về Trịnh Sâm, Đặng Thị Huệ, Đặng Mậu Lân, tác giả còn xây dựng đ-ợc những nhân vật h- cấu hoàn toàn nh- Quỳnh Hoa, Bảo Kim, Nguyễn Mại. ở đó, có mối tình tuyệt vời của đôi trai tài gái sắc Quỳnh Hoa và Bảo Kim, mối tình này đối lập với thế lực của Đặng Mậu Lân dâm đãng, thô bỉ, lộng quyền. Chuyện kết thúc có hậu khi chàng võ t-ớng Nguyễn Mại chém đầu Mậu Lân. Tác phẩm không đi sâu vào mối quan hệ giữa ba nhân vật Trịnh Sâm, Đặng Thị Huệ và Đặng Mậu Lân, chủ yếu tác giả tập trung mối quan hệ giữa Đặng Mậu Lân với Quỳnh Hoa, Nguyễn Mại. Tác phẩm thể hiện thái độ bất bình của nhà văn và đông
đảo quần chúng nhân dân với những thế lực tàn bạo, xấu xa trong lịch sử và
trong cuộc sống đ-ơng thời, thể hiện khát vọng công lý xã hội, phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân.
Tiêu Sơn tráng sĩ là tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của Khái H-ng. Lấy bối cảnh xã hội cuối thế kỉ XVIII, Lúc Nguyễn Huệ mới đánh tan quân Lê - Trịnh và lên ngôi. Tác giả thể hiện rõ bút pháp lãng mạn qua việc lý t-ởng hoá
những đảng viên của đảng Tiêu Sơn, với những hành động phiêu l-u mạo hiểm kiểu giang hồ nghĩa hiệp.
Nh- vậy, tiểu thuyết lịch sử ở giai đoạn này đều lấy t- liệu lịch sử làm sống lại những thời kì đã qua. Trong hoàn cảnh đất n-ớc bị giặc ngoại xâm, các nhà văn đều muốn thể hiện thái độ, tình cảm của mình với đất n-ớc, dân tộc. Bởi vì thế, nội dung chính trong tiểu thuyết lịch sử thời kì này là ca ngợi lịch sử dân tộc, ca ngợi con ng-ời Việt Nam anh hùng. Qua đó, đánh thức thực tại, khích lệ lòng yêu n-ớc, lòng tự hào dân tộc của ng-ời đọc.
Các tiểu thuyết lịch sử thời kì này đều mang dáng dấp của tiểu thuyết hiện đại. “Cùng với sự nở rộ của các trào lưu văn học lãng mạn và hiện thực, các áng văn đã chuyển sang khai thác những mối tình éo le và những chuyện
đời tư, giàu chất bi kịch trong đề tài lịch sử” [23,1728]. Các tác giả đi vào khai thác tâm lí nhân vật rất sắc sảo. Tuy nhiên, ở thời gian đầu, các tác phẩm vẫn còn bị ảnh h-ởng của lối viết kể chuyện ch-ơng hồi, kết cấu thời gian đơn tuyến, ngôn ngữ biền ngẫu, kết thúc có hậu nh- các tác phẩm của Nguyễn Tử Siêu, (Vua bà Triệu ẩu, Tiếng sấm đêm đông...), Phạm Minh Kiên (Việt Nam Lý trung h-ng)...
Trong những năm 1945 - 1975, văn học Việt Nam phát triển trong hoàn cảnh đất n-ớc có chiến tranh. Văn học lúc này có nhiệm vụ cổ vũ cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Hiện thực cuộc sống kháng chiến trở thành
đối t-ợng trung tâm của văn học, do vậy, các tác phẩm viết về đề tài lịch sử tạm thời lắng xuống. Mãi đến cuối những năm 60, mới xuất hiện trở lại tiểu thuyết lịch sử với Quận He khởi nghĩa (Hà Ân), Bóng n-ớc Hồ G-ơm (Chu
Thiên), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (Nguyễn Huy T-ởng)... Cảm hứng chủ đạo trong các tác phẩm này là ca ngợi truyền thống anh hùng của dân tộc thông qua các cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm và chống lại triều đình phong kiến thối nát. Thời kì này tuy số l-ợng tác phẩm không nhiều nh-ng lại đạt
đến độ nhuần nhuyễn trong việc xử lí mối quan hệ giữa lịch sử và h- cấu.
Sau năm 1975, hoà bình lập lại, nhiều mặt trong đời sống văn hoá - xã
hội của chúng ta thay đổi. Văn học cũng phải có những b-ớc phát triển mới cho phù hợp với thời đại. Những xu h-ớng đổi mới trong văn học kéo theo sự
đổi mới trong thi pháp tiểu thuyết. Với các tác giả lựa chọn đề tài lịch sử - đây quả là một thách thức lớn. Lịch sử là cái đã qua và đ-ợc nhiều ng-ời biết đến, vậy phải viết thế nào để đạt đ-ợc sự hài hoà giữa hai yếu tố lịch sử và h- cấu nghệ thuật. Tr-ớc vấn đề khó khăn này, có tác giả lựa chọn vùng an toàn là trung thành với cách viết truyền thống, tôn trọng tuyệt đối lịch sử. Bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần của Hoàng Quốc Hải gây đ-ợc tiếng vang lớn. Các nhân vật Trần Thủ Độ, Trần Thị Dung, Lý Chiêu Hoàng, Trần Cảnh... đ-ợc
đặt trong các mối quan hệ đời t- thế sự, làm cho nhân vật trở nên sinh động và chân thực hơn. Bên cạnh đó, có không ít các nhà văn muốn thể nghiệm những h-ớng sáng tác mới. Họ không bị lệ thuộc vào các sự kiện lịch sử, vào cảm quan lịch sử truyền thống mà họ có tham vọng “viết lại” lịch sử, “nhào nặn lại lịch sử” theo tinh thần hiện đại. Cái mà nhà văn quan tâm không phải là những gì đ-ợc ghi chép lại trong lịch sử. Cái mà nhà văn quan tâm là phần
“hậu tr-ờng” của các nhân vật, những góc khuất của cuộc đời, những vùng tối của lịch sử. Các tác phẩm này lúc ra đời gây ngỡ ngàng cho nhiều ng-ời đọc, có nhiều nhận xét theo các h-ớng khác nhau, kẻ khen, ng-ời chê nh-ng các tác giả này đã có công trong việc thể hiện những tìm tòi mới cho các tác phẩm viết về đề tài lịch sử sau năm 1975. Các tác phẩm tiêu biểu: Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Gió lửa (Nam Dao), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác)...
Trong tiểu thuyết Giàn thiêu, Võ Thị Hảo đã dựa vào những t- liệu lịch sử trong Đại Việt sử kí toàn th-, đặc biệt là những sự kiện trong thời đoạn 1088-1138, d-ới hai triều vua Nhân Tông và Thần Tông đời Lý, tận dụng những truyền thuyết về s- Từ Đạo Hạnh trong Thiền uyển tập anh, tác giả đã
h- cấu thêm cảnh vật, nhân vật, để đ-a ra những kiến giải mới mẻ và khả chấp về nhân vật lịch sử đồng thời là nhân vật tiểu thuyết Từ Đạo Hạnh. Truyền thuyết về quá trình tu tập của s- Từ Đạo Hạnh, và truyền thuyết về sự ra đời của vua Lý Thần Tông là do s- Đạo Hạnh hoá thân thành con của Sùng Hiền Hầu, đã đ-ợc tác giả xâu chuỗi lại thành một câu chuyện về kiếp sống của một con ng-ời. Đan cài vào đó, là những triết lí nhân sinh phổ biến.
Tiểu thuyết Hồ Qúy Ly của Nguyễn Xuân Khánh cho ng-ời đọc một cái nhìn mới mẻ hơn so với chính sử về nhân vật Hồ Quý Ly. Trong lịch sử dân tộc, ông là công thần hay gian thần, nhà Hồ có phải là Nguỵ triều hay không, những câu hỏi ấy đã được tác giả lí giải một cách hợp lí. Hồ quý Ly “muốn thay máu cho cả dân tộc đang ốm yếu, trì trệ, đầy mầm bệnh nan y” [48,38].
Để thực hiện điều đó, ông buộc phải tàn bạo và thủ đoạn. Nh-ng ẩn sâu trong con ng-ời ông lại là “một con người cô đơn, mềm yếu và hướng thiện”. Lịch sử chỉ nhìn thấy Hồ Quý Ly từ bên ngoài. Nguyễn Xuân Khánh lại nhìn thấy Hồ Quý Ly từ sâu thẳm tâm hồn bên trong. Con ng-ời tàn bạo ấy có những lúc trở nên yếu đuối và đa cảm, xót xa nhận ra rằng “cuộc sống cung đình nh- một cơn lốc đã hút ông vào... chỉ có cảm giác hiền hoà an lành mới thực sự hạnh phúc” [48,39]. Nguyễn Xuân Khánh đã kiến giải lịch sử, phát hiện ra những điều mà lịch sử không ghi lại, “cởi trói” cho những định kiến lâu nay về một nhân vật và một triều đại trong lịch sử dân tộc.
Các tác phẩm này, nhìn chung “thường được kết cấu theo kiểu phương Tây, không kết cấu theo sự kiện, theo quy luật kết cấu thời gian một chiều mà kÕt cÊu theo quy luËt t©m lÝ, theo thêi gian nhiÒu chiÒu ®an xen lÉn nhau”
[11,186].