2.3. Cảm hứng sáng tạo
2.3.3. Cảm hứng nhân đạo
Các sáng tác văn học bao giờ cũng h-ớng tới số phận con ng-ời với khát khao h-ớng thiện, mong muốn cuộc đời này t-ơi đẹp hơn. Trong các sáng tác của mình, viết về một giai đoạn lịch sử đã qua, nhất lại là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động, nhà văn càng chú ý nhiều hơn tới số phận cá nhân của từng con ng-ời cụ thể.
Tiểu thuyết lịch sử chịu sự chi phối của thời đại lịch sử mà tác giả lựa chọn. Tuy nhiên, dù ở thời đại nào thì những vấn đề con ng-ời vẫn là -u tiên hàng đầu để các nhà văn đi vào khám phá, trải nghiệm và đặt vào những hi vọng. Các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật lấy bối cảnh không gian và thời gian vào thế kỉ XVIII, do đó, các nhân vật vẫn chịu sự chi phối của ý thức hệ phong kiến. Dẫu vậy, tác giả vẫn đề cập đến những vấn đề mang tính thời đại nh- bi kịch của tình yêu cá nhân vấp phải rào cản của lễ giáo phong kiến, bi kịch của lòng tham quyền lực, bi kịch của kẻ hồng nhan...
Trong xã hội phong kiến rất khó, thậm chí không thể có cái gọi là tình yêu cá nhân - hiểu theo quan điểm hiện đại. Bởi lẽ, những tam c-ơng ngũ thường, tứ đức tam tòng, quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân”... trở thành rào cản cho tình yêu cá nhân tự do. Nam nữ yêu th-ơng nhau thì cũng không có
điều kiện để đ-ợc bày tỏ tình cảm kiểu nh- trong thơ tình của Xuân Diệu:
Hãy sát đôi đầu Hãy kề đôi ngực
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài (Xa cách)
Hay nh- trong các tiểu thuyết tình cảm lãng mạn của Khái H-ng, Nhất Linh, Hoàng Đạo... Tuy vậy, trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật, nhà văn vẫn để cho hai nhân vật là nàng ấu Mai và Vũ Lăng hầu Lê Duy Lễ
đ-ợc sống trong tình yêu, dẫu phải chết. ấu Mai là cung nhân bị đ-a ra Quả
Thịnh lăng lo nhang khói cho tiên đế Đức Huyền Tông. Nàng vốn là con cháu nhà quan phủ. Năm lên bảy tuổi thì cha mất sớm, nàng đ-ợc ông nội hết sức th-ơng yêu. Năm m-ời ba tuổi bị đ-a vào cung múa lục dật. Về sau ba lăm ng-ời đ-ợc thải về, riêng nàng bị giữ lại để hầu thái hậu. Vì trong bọn, nàng
đ-ợc thái hậu yêu quý nhất. Nh- vậy suốt m-ời lăm năm, trải hai triều vua, sống tủi nhục trong cung rồi lại bị đem đày ra chốn Sơn lăng. Hồi còn là cung nữ, mỗi tháng nàng vẫn đ-ợc về thăm nhà hai ngày. Một lần, nàng bị bọn côn
đồ ức hiếp, đ-ợc ông hoàng Lê Duy Lễ cứu giúp. Tình yêu nảy nở giữa hai ng-ời từ buổi đó.
Khi bị đ-a ra Sơn lăng, ấu Mai rất buồn. Đ-ợc sự giúp đỡ của nàng hầu Thuý Hồng, họ lập kế để Vũ Lăng hầu nằm vào trong hòm quần áo, khiêng vào nơi ở của ấu Mai. Từ hôm ấy, nàng nh- ng-ời chết đi sống lại. Nàng cứ t-ởng rằng mình bị chôn sống ở đây, biết lúc nào mà ra đ-ợc. Thế nh-ng, Vũ Lăng hầu đã vì nàng mà vào tận Sơn lăng cho thoả nguyền hẹn -ớc. Cả hai ý thức đ-ợc rằng, đây là tội chết. Nếu bị phát giác, không phải chỉ có hai ng-ời mà cả nhà đều bị giết. Nh-ng bỏ qua tất cả, hai ng-ời vẫn đến với nhau, vẫn dấn thân vào con đ-ờng nguy hiểm. Dù bị những rào cản của xã hội, nh-ng cả
hai vẫn tìm đến với nhau để đ-ợc sống trong tình yêu. Khi ở bên nhau, tình cảm của họ rất nồng nàn, say đắm. Những lời yêu th-ơng đ-ợc họ trao gửi cho nhau rất nồng thắm:
- Anh vào đây có những ai biết
- Chỉ có già Thông, bõ Mai cùng con Thuý Hồng biết mà thôi. Nh-ng cớ sao em lại hỏi câu ấy tr-ớc, em lại bụng dạ mà lo kĩ l-ỡng đến thế -? Năm năm gặp nhau mà câu đầu của em lại nói đến những việc đâu đâu... Anh không bằng lòng thế.
- Vâng! Anh trách thế em cũng xin chịu, nh-ng em bị nhiều điều đau khổ quá rồi nên tính hoá thế. Lúc nào em cũng coi nh- có ng-ời rình mò làm hại, lúc nào hình nh- cũng có ác thần nấp sẵn sau l-ng... Nh-ng thôi có anh
đây, em vui mà quên cả mọi điều.
- Phải! Vui đi thôi, quên đi thôi, em. Đời là một trò hề của con Tạo. Thấy tấn hề vui, ta hãy cùng vui, đừng nghĩ chi đến lòng bất nhân của Tạo vật đã đem ta làm một cuộc bông đùa. Chỉ nên biết rằng, trong tấn hề, con Tạo khiến đôi ta sắm vai hề đa tình gian truân thôi thì... trời đã bắt thế biết làm sao?
- Phải đó, anh nghĩ thế phải đó. ở đây chị Tố Hà ý cũng thế. Chị ta bảo rằng: Bất cứ việc gì ta cũng phải vội c-ời ngay đi không thì sau lại khóc ngay
về việc ấy. ở đời đ-ợc một ng-ời bạn trai nh- anh và ng-ời bạn gái nh- chị Tố Hà thì dù giữa cơn giông tố ba đào, em cũng giữ đ-ợc tâm hồn bình tĩnh...
Em ở đây chỉ luôn nhớ đến anh và nhà. Anh ngồi tr-ớc mặt em rồi, nỗi nhớ anh đã vợi, em chỉ muốn hỏi anh tin tức nhà. Hồi tr-ớc, anh mang thơ của em ra phải không?
- Phải! Mà nói đến đây anh lại nhớ một câu chuyện lạ quá.
- Chuyện gì?
- Hôm anh ở trong hoàng thành mang thư ra đến “Tiến sĩ môn”. Thấy cổng rấp, ng-ời làng họ nói rằng:
- Từ năm ông Chiêu nhà mắc nạn, từ năm cụ Hoàng nhà về trí sĩ, Tiến sĩ môn vẫn bỏ không ai đi đến. Cách sáu bẩy năm tr-ớc đây, anh cùng em ở trong Nội ra vẫn đi cổng ấy mà. Sao lại có sự lạ thế?
- Lạ cho anh chứ có lạ cho ai. Đến ngày em đ-ợc phép ở trong cung về thì ng-ời vẫn chực sẵn chờ mở cửa. Cửa ấy trong bao nhiêu năm chỉ có em và anh đi thôi.
- Lại thế kia à? Thảo nào mà độ tháng tr-ớc anh đến trông nó tiều tuỵ nh- chỗ bỏ hoang. Hay là vắng em anh trông cái gì cũng xấu?
- Anh nói quá, em đi đến đâu xấu xí đến đó thì có...
Qua câu chuyện tình yêu của hai ng-ời, Nguyễn Triệu Luật muốn cổ vũ cho tình yêu cá nhân của mỗi một con ng-ời. Đồng thời, đó cũng là tiếng nói phê phán sâu sắc tới chế độ phong kiến với những luật lệ, lễ giáo hà khắc, phi nhân đạo.
Không chỉ cổ vũ cho tình yêu cá nhân, hạnh phúc của con ng-ời, Nguyễn Triệu Luật còn thể hiện niềm xót th-ơng cho số phận những ng-ời
đàn bà trong hậu cung. Đọc tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật “ta thấy tỉ mỉ cái sống u uẩn trong bí mật của cung vi, đã chôn vùi bao nhiêu ánh sáng thanh xuân mơn mởn... ta thấy lòng dào dạt một xót th-ơng đối với ức vạn ng-ời đàn bà, đời ấy qua đời khác, phải bắt buộc làm vật hi sinh cho sự ích kỉ của các
vua chúa, xót th-ơng đến cả những lầm lỗi, những m-u mô phản trắc, những ganh tị nhỏ nhen của một hạng đàn bà không hiểu cảnh ngộ thê thảm của chÝnh m×nh” [33,16].
Những cung phi sống trong hậu cung của chúa nh- bà Trần Thị Lộc, D-ơng Ngọc Hoan, Tr-ơng Ngọc Khoan, Đặng Thị Huệ đã phải chôn vùi tuổi xuân trong cung cấm. Bà D-ơng Ngọc Hoan vào cung từ năm m-ời sáu tuổi, khi đó thế tử mới đ-ợc m-ời tám. Cuộc ái ân nồng nàn mới hơn có ba năm, sang năm thứ t- thì nàng Trần Thị Lộc tiến cung. Lúc ấy nàng cũng chỉ mới hai m-ơi tuổi. Trần Thị Lộc vào cung chiếm mất nỗi sủng ái của chúa đối với Ngọc Hoan khiến Ngọc Hoan rất đau khổ. Ngọc Hoan nghe lời của Khê Trung hầu, chữa bệnh háo sắc cho chúa bằng cách tiến cung nữ Tr-ơng Ngọc Khoan vào cung. Thế là ba tháng sau, thế tử say mê Ngọc Khoan mà bỏ quên tất cả, thành ra tr-ớc kia chỉ có một ng-ời bị bỏ quên, nay có tới hai ng-ời bị bỏ quên. Tình trạng ấy kéo dài đã đ-ợc sáu năm. Ngọc Hoan đã bị bỏ quên ngoại m-ời năm, tuy có con nh-ng không đ-ợc dựng làm thế tử. Trần Thị Lộc bị bỏ quên ngót m-ời một năm, tuy tuổi đã ngoại tam tuần nh-ng vẫn muốn câu lại tấm lòng luyến ái của chúa. Bà cũng tính kế lấy sắc đẹp để chữa bệnh háo sắc của chúa. Đặng Thị Huệ đ-ợc bà tiệp d- Trần thị Lộc phát hiện nơi đồi chè làng Ném, đ-a về tiến cung. Vào cung, vì sắc đẹp, sự thông minh và tài học của mình, Thị Huệ đ-ợc chúa rất sủng ái. Thành ra bây giờ trong cung có tới ba ng-ời phụ nữ bị bỏ quên.
Bệnh háo sắc của chúa thật khó có ph-ơng thuốc gì chữa khỏi. Có mới nới cũ. Những cung nhân của chúa chẳng qua cũng là một thứ đồ chơi trong tay kẻ có quyền thế. Những m-u toan, tính toán trong nội cung nhằm chiếm
đ-ợc nỗi sủng ái của đấng quyền uy, cuối cùng cũng chỉ là bi kịch. Lần l-ợt từng ng-ời bị bỏ quên trong cung cấm. Nếu ng-ời phụ nữ bình th-ờng ngoài
đời họ có thể tìm cho mình một hạnh phúc khác, nh-ng những ng-ời phụ nữ
trong cung cấm, họ chỉ có thể một lòng h-ớng về một ng-ời mà thôi. Số phận
những ng-ời phụ nữ trong cung cấm thật bất hạnh. Họ chỉ có một sự lựa chọn duy nhất, là làm sao chiếm đ-ợc địa vị cao nhất trong lòng chúa. Nếu không làm đ-ợc điều ấy, họ chỉ có thể là chết già trong cung cấm lạnh lẽo mà thôi.
Đặng Thị Huệ đ-ợc chúa sủng ái lâu hơn cả. Nh-ng rồi những m-u tính quyền lực khiến đời nàng gặp phải bi kịch. Nàng hiểu cái thế của mình “một ng-ời yêu, trăm ng-ời ghét... Là vợ con th-ờng dân thì dễ, chứ là vợ con vua thì chỉ có: một là mẹ là thái phi, con là vua; hai là mẹ con đều chết oan chết uổng”
[33,89]. Sau những cuộc đổ máu, bè phái, vây cánh, Đặng Thị Huệ đ-ợc làm v-ơng phi, con mới sáu tuổi đ-ợc dựng làm thái tử. Nh-ng rồi, đúng nh- kết cục đã đ-ợc báo tr-ớc, chỗ dựa của nàng là chúa Trịnh Sâm chết, ng-ời tình bị giết, con vì sợ hãi quá không ăn đ-ợc mà chết, bản thân nàng phải tự vẫn.
Đặng Thị Huệ đáng th-ơng hơn là đáng trách. Nói cho cùng thì những ng-ời
đàn bà của vua chúa, dù là ai, họ cũng đều có kết cục đau đớn cả.
Ngoài những cung phi của vua chúa, trong cung còn có rất nhiều cung nữ làm công việc hầu hạ, múa hát, đàn ca mua vui. Vào cung khi mới chỉ m-ời hai đến m-ời ba tuổi. Những ai may mắn thì đến ba lăm ba sáu tuổi đ-ợc thải về quê nhà. Trong xã hội phong kiến, con gái đến tuổi ấy, có về quê thì
cũng chỉ chết già mà thôi, không mong lấy đ-ợc chồng, sinh con nh- những ng-ời phụ nữ bình th-ờng khác đ-ợc. Bởi vì, họ đã qúa luống tuổi. Những ng-ời kém may mắn, hay nói đúng hơn là họ đ-ợc các bậc quyền uy yêu mến mà giữ lại bên mình để hầu hạ, thì suốt đời chẳng thể nào thoát ra đ-ợc. Hơn nữa, triều đình phong kiến còn rất dã man khi ra một luật lệ là khi vua chúa chết, những cung nữ hầu hạ họ lúc sống phải ra ở ngoài Sơn lăng - nơi chôn cất chúa, để sớm hôm nhang khói. Những ng-ời con gái tuổi xuân mơn mởn, hàng ngày phải sống nơi hoang vắng, ôm cái mả khô mà khóc hờn, khóc tủi.
Năm tháng trôi đi. Tuổi xuân của những ng-ời con gái ấy cũng qua đi. Nơi chốn Sơn lăng trở thành mồ chôn những ng-ời con gái còn sống xác mà hồn thì đã chết lịm rồi. Đọc tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật, ta thấy tràn đầy
niềm xót xa, th-ơng cảm cho số phận những ng-ời phụ nữ trong xã hội phong kiến, những phận hồng nhan lỡ b-ớc sa chân vào cánh cửa v-ơng quyền.
Tấm lòng xót th-ơng của Nguyễn Triệu Luật còn đ-ợc thể hiện ở hình
ảnh những ng-ời dân th-ờng đi chạy loạn ngay chốn kinh kì. Khi quân Kiêu binh làm loạn kinh thành, đốt phá các phủ đệ, tác oai tác quái, khiến những th-ờng dân vô tội rất khổ sở. “Đã sáu ngày đêm ròng rã, dân thành Thăng Long sống trong sự lũng đoạn khủng khiếp”. Những người bị chúng đánh chảy máu, nằm ngoài đ-ờng mà không ai dám lại gần “Ai dại gì săn sóc đến ng-ời đã bị Kiêu binh hành hạ để bỗng d-ng giữa đ-ờng r-ớc vạ vịt vào mình.
Hai bên hàng phố đều đóng cửa lặng thinh. Sống giữa buổi sôi nổi loạn li này, việc trong nhà có khi còn không quản nổi, ai hơi đâu săn sóc việc ngoài
đường” [33,246]. Đ-ờng phải nh-ờng cho Kiêu binh đi. Ngoài phố, trời ch-a tối các nhà đã cửa đóng then cài thật kĩ. Những chuyến đò ngang đã thấy chở
đầy những ng-ời về quê lánh nạn. Một ông đồ nho, dắt díu vợ con cùng chổi cùn rế rách qua sông đã nói: “Loạn bang bất cư, ta nên theo cái đạo ấy là chắc hơn cả. Hữu viễn lự tắc vô cận -u, ta cứ dút dát tr-ớc thế này còn hơn mạnh bạo suông để chịu cái vạ trì ngư” [33,300]. Nỗi sợ hãi của ng-ời dân đối với quân Kiêu binh đã lên tới cực điểm. “Làm dân nơi Kinh kì, khi thái bình thì
sung s-ớng vô cùng mà khi loạn lạc hoặc sắp có loạn lạc cũng khổ sở vô cùng.
Khi thái bình thì gạo trắng, cá béo, sơn hào hải vị, đâu đâu cũng mang về đế đô
cho ng-ời Kinh xơi. Khi loạn lạc thì củ khoai lang ăn trừ cơm cũng không có...
Lúc bình thì trong bốn bức t-ờng thành là chỗ yên ổn nhất, thứ nhì đến phố xá, thứ ba đến ngoại ô, thứ t- đến thôn quê. Lúc loạn thì trái lại, chỗ an chỗ nguy
đảo lộn hết cả” [33,346-347]. Khi nạn Kiêu binh vừa đ-ợc dẹp xong, thì ngoài cõi, quân Tây Sơn làm cỏ các thành trì của Chúa, dân kinh thành lại một phen hoảng loạn. “Dân chúng, kẻ giàu chôn của rồi bồng bế nhau đi tránh loạn; kẻ nghèo không có của chôn, nh-ng cũng lũ năm lũ bẩy kéo nhau đi... Cái giọng sụt sùi oán vọng của bọn nhà giàu đến khi vận hết cửa tan, đi cặp đôi với mớ khố rách áo ôm của nhà nghèo ngoài các cửa ô” [33,207].
Với một tấm lòng mang nặng nỗi niềm thế sự, khi viết về thân phận những con ng-ời bất hạnh, Nguyễn Triệu Luật nh- muốn bộc lộ những tiếng thở than thầm kín với thời đại. Quan tâm tới tình yêu, hạnh phúc cá nhân, tới cuộc sống của ng-ời dân trong buổi loạn lạc đã thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc trong tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật. Thông qua những số phận trớ trêu, những cảnh đau xót về cuộc đời con ng-ời, nhà văn không chỉ thể hiện niềm cảm th-ơng mà còn muốn gửi gắm đến ng-ời đọc hiện tại những cảm xúc mới. Từ những nỗi đau của con ng-ời một thời, tác giả không dấu giếm, che đậy mà tái hiện lại một cách chân thực để ng-ời đọc nhớ về qúa khứ - nhớ về lịch sử dân tộc với những đau đớn của nó, từ đó, gợi nhắc tấm lòng yêu n-ớc đối với hoàn cảnh dân tộc hiện đại.
Nguyễn Triệu Luật viết về lịch sử dân tộc không phải thời kì thanh bình thịnh trị mà là lúc triều đình phong kiến mạt vận tàn hơi. Những cuộc chiến tranh của các tập đoàn phong kiến, những cuộc chiến trong nội cung tranh giành quyền lực... đã làm đất n-ớc bị suy kiệt. Nhà văn phơi bày hiện thực đau xót của lịch sử dân tộc với -ớc vọng cuộc đời sẽ tốt đẹp hơn, con ng-ời đ-ợc sống bên nhau trong hoà bình, no ấm, giang sơn thu về một mối, không còn sống kiếp về nô lệ nữa. Từ những vấn đề thuộc về lịch sử, Nguyễn Triệu Luật đã thể hiện đ-ợc những vấn đề thế sự một cách kín đáo và sâu sắc.
Nhà văn thực sự đã ghi đ-ợc dấu ấn riêng trong lòng độc giả bằng bút pháp miêu tả lịch sử chân thực của mình.