“Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học” [34,277]. Trong một tác phẩm văn học không thể thiếu nhân vật. Bởi vì, đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng. Với thể loại tiểu thuyết thì “nhân vật chính là sức nổ, là sự sống” [61,426]. Vì thế, nhà văn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng nhân vật trong quá trình sáng tác. “Nhà văn sáng tạo nhân vật
để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một ng-ời nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực. Nhân vật chính là ng-ời dẫn dắt ng-ời
đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định”
[30,69]. Nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng chỉ ra tầm quan trọng của việc xây dựng nhân vật: “vấn đề trung tâm của nghệ thuật viết tiểu thuyết là miêu tả
con ng-ời và con đ-ờng đi của họ trong xã hội. Ng-ời viết tiểu thuyết nghĩ mọi vấn đề đều phải thông qua các nhân vật, xuất phát từ nhân vật hơn là từ sự việc. Một cuốn tiểu thuyết có đứng đ-ợc hay không là ở chỗ có tạo ra đ-ợc những nhân vật làm cho bạn đọc nhớ được hay không” [61,289].
Mỗi một nhân vật là một quan niệm riêng về con ng-ời của nhà văn.
Nhà văn phải có đ-ợc một vốn sống hết sức phong phú để có thể truyền dẫn những t- t-ởng, tình cảm của mình vào trong tác phẩm. Công việc của ng-ời viết tiểu thuyết “đặt việc đã khó, mà tả ng-ời lại khó lắm... phàm các nhân vật trong tiểu thuyết phải có sinh hoạt nh- ng-ời th-ờng, cử động nh- ng-ời thật, chứ không thể làm nh- cái t-ợng gỗ hay hình bù nhìn được” [61,19]. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn phải chú ý xây dựng ngoại hình nhân vật, tính cách nhân vật, miêu tả các mối quan hệ của nhân vật với đời sống nh-: khung cảnh
thiên nhiên nhân vật sống (cỏ cây, chim muông, thời tiết...), quan hệ với con ng-ời (công việc), quá trình m-u sinh, những sự kiện chính trị của thời đại...
Tất cả những yếu tố đó đ-ợc nhà văn sắp xếp, kết hợp với những kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết của mình mà tạo nên những hình t-ợng văn học.
“Mỗi một nhân vật trong truyện là một con người riêng, có cuộc đời, có con đ-ờng đi riêng của nó, không giống với ai cả” [61,293]. Nhà văn phải là những người có bản lĩnh, tài năng thực sự để “những cuộc đời riêng ấy có những dây nhợ vô hình, dính líu, lôi cuốn, bó kết với nhau, tạo nên dòng sông lớn của thời đại”.
Nguyễn Triệu Luật đi sâu khai thác đề tài lịch sử, lấy bối cảnh xã hội thế kỉ XVIII làm nền để thực hiện những ý đồ nghệ thuật của mình. Viết về thời kì lịch sử phức tạp nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, Nguyễn Triệu Luật cũng đặc biệt l-u tâm đến những kiểu nhân vật đặc biệt.
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật rất đông đúc, có 185 nhân vật. Hệ thống nhân vật này khá tiêu biểu: có già, có trẻ; có ng-ới quyền quý, có kể là th-ờng dân; có quan văn, có t-ớng võ; có hạng ng-ời quân tử, cũng có kẻ tiểu nhân... Với tài năng của mình, Nguyễn Triệu Luật đã xây dựng nhân vật thành những “ng-ời này”
- một cá thể “vừa lạ lại vừa quen” mà vẫn mang ý nghĩa thẩm mĩ xã hội cao.
Bằng tài năng của mình, Nguyễn Triệu Luật đã xây dựng thành công chân dung 48 nhân vật trong số 185 nhân vật. Các nhân vật này, mỗi ng-ời một tính cách vừa độc đáo, vừa cá biệt mà lại rất hiện thực. Nhiều nhân vật thành công đến mức xuất sắc. Qua quá trình tìm hiểu, khảo sát nhân vật, chúng tôi tạm chia các nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật thành ba kiÓu sau:
Thứ nhất là kiểu nhân vật ham mê quyền lực, danh vọng. Loại nhân vật này đều có một kết cục bi thảm - đó là cái chết. Những nhân vật tiêu biểu cho loại này là Đặng Thị Huệ, Trịnh Sâm, Hoàng Đình Bảo, Trịnh Khải...
Chúa Trịnh Sâm ngay khi lên ngôi (1767) đã lập tức bức hại thái tử Lê Duy Vĩ chỉ vì ghen tài và đố kỵ. Trong một buổi tiệc, Trịnh Sâm ngồi cùng mâm với thái tử Lê Duy Vĩ. Ông bị mẹ trách mắng vì là phận tôi mà dám ngồi cùng mâm với thái tử. Trịnh Sâm rất giận, thề rằng “Hai đứa không cùng sống.
Nó chết thì ta còn, nó còn thì ta chết”. Thực ra, Trịnh Sâm chỉ muốn củng cố uy quyền của mình, bảo toàn địa vị của mình, khi biết thái tử Lê Duy Vĩ không có ý tuân phục. Trịnh Sâm là ng-ời thông minh, quyết đoán sáng suốt, có tài. Chúa có tham vọng lớn nên trong n-ớc các t-ớng giặc, đảng phái phản nghịch đều bị dẹp tan. Ngoài cõi thì giữ yên xã tắc. Vua Lê chỉ là bù nhìn, quyền lực nắm hết trong tay, Trịnh Sâm sinh ra kiêu căng, ăn chơi vô độ, h-ởng lạc thái quá nên bị bệnh mà chết khi tuổi đang còn trẻ.
Đặng Thị Huệ bản thân là một cô gái đẹp, có học thức, luôn ý thức đ-ợc bản thân mình nh-ng lại bị bó buộc bởi hoàn cảnh sống. Đặng Thị Huệ quyết
định “đảo hành nghịch thi” để thực hiện những điều mình mong muốn. Thoát khỏi đồi chè bằng cách gây chú ý cho bà Tiệp d-, Đặng Thị Huệ theo vào Suý phủ, dâng kế dâng hoa huệ ngũ sắc để tiếp cận với chúa Trịnh Sâm. Cuối cùng, Đặng Thị Huệ trở thành v-ơng phi đ-ợc sủng ái nhất của Trịnh Sâm trong suốt m-ời năm. Đ-ợc chúa Trịnh Sâm tin yêu, Thị Huệ tìm mọi cách gièm pha để Trịnh Sâm phế bỏ con tr-ởng là Trịnh Khải, đ-a con mình là Trịnh Cán lên ngôi thế tử. Nàng còn cấu kết với Hoàng Đình Bảo, lập ra phe cánh, thao túng triều đình. Khi Trịnh Sâm chết, Hoàng Đình Bảo bị giết, con bị bệnh mà chết, bản thân bị đ-a ra Sơn lăng hầu h-ơng khói chúa Tĩnh đô
v-ơng Trịnh Sâm, vậy mà, khi gặp cha, Đặng Thị Huệ vẫn khẳng khái trả lời cha: “Con làm trái thường thì được hưởng phú quý cực vọng trong mười năm, rồi thì có ngày nay. Nếu con cứ an phận bán chè thì bây giờ tốt ra lắm cũng
đ-ợc làm cô Đồ kiết ở nhà quê. Thà rằng h-ởng nhiều mà chết non còn hơn chết già mà khổ sở. Chẳng gì con cũng đ-ợc làm quốc mẫu rồi, cũng đ-ợc cầm cân nảy mực cho cả bách quan thần dân rồi”. Mưu toan lắm, cuối cùng
nàng phải chịu chết thảm. Cái số hồng nhan lại có tài, không chịu an phận, mà muốn được hưởng thụ, cái lẽ “đảo hành nghịch thi” chẳng qua cũng chỉ là lòng tham của con ng-ời mà thôi.
Trịnh Khải là con tr-ởng của chúa Trịnh Sâm. Bởi vì sự lầm lỡ của chúa với ng-ời thiếp bị thất sủng là D-ơng Ngọc Hoan mà sinh ra v-ơng tử Khải, nên từ khi sinh ra, ông đã không nhận đ-ợc tình th-ơng từ cha. Năm m-ời tám tuổi, theo lẽ th-ờng, Trịnh Khải đ-ợc mở phủ riêng, đ-ợc phong là thế tử. Thế nh-ng, vì lời dèm pha của Đặng Thị Huệ mà không những ông không đ-ợc mở phủ riêng, mà còn bị đuổi ra ở nhà quan A Bảo. Trong lòng Trịnh Khải rất giận, vẫn ngày đêm mong muốn đ-ợc kế vị ngôi cao. Khi chúa Trịnh Sâm bị ốm, v-ơng tử Khải cho rằng thời cơ đã đến, liền chuẩn bị binh lực để đảo chính. ý đồ của ông là cho quân bao vây Suý phủ, giết chết Hoàng Đình Bảo và Đặng Thị Huệ, phế truất Trịnh Cán và lên ngôi. Không ngờ, âm m-u bị bại lộ. Trịnh Sâm rất tức giận nên đã giam Trịnh Khải vào Tam Nhàn đ-ờng. Đồ
đảng, ng-ời bị giết, ng-ời bị đày lên miền viễn châu có tới mấy trăm ng-ời.
Sau này, khi quân Tam phủ làm loạn, Trịnh Khải đ-ợc chúng tôn lên ngôi chúa. Tuy đã nắm quyền bính trong tay, nh-ng Trịnh Khải bất tài không làm sao điều khiển nổi quân Kiêu binh, để cho chúng làm loạn kinh thành, ức hiếp từ chúa cho đến các quan lại và cả dân th-ờng. Chúa Trịnh Khải th-ờng phải dỗ dành, ban cho vàng bạc, phẩm tước, ban cho những thẻ “không đầu sắc” để bọn chúng tự điền tên những ng-ời thân yêu vào, thí t-ớng tài cho quân kiêu binh chém giết, nói dối quân lính, ra những sậu lệnh... Chính Trịnh Khải là ng-ời đã dung d-ỡng cho thói kiêu căng của quân kiêu binh, khiến triều đình không cách nào quản lí nổi. Khi quân Tây Sơn tiến đánh ra Bắc, trên đ-ờng chạy loạn, Trịnh Khải rơi vào tay bọn tiểu nhân. Ông bị bọn chúng bắt trói
định giao nộp cho quân Tây Sơn lĩnh th-ởng. Cùng đ-ờng, Trịnh Khải phải mổ bụng tự sát. Trịnh Khải kể từ khi lên ngôi, không làm đ-ợc gì cho xã tắc mà chỉ làm cho tình hình càng trở nên rối ren, loạn lạc hơn. Là kẻ bất tài mà
vẫn mong đ-ợc h-ởng quyền lực giàu sang, cái chết là một kết cục không thể tránh khỏi.
Hoàng Đình Bảo nguyên là quan trấn thủ Ngệ An, là em rể chúa Trịnh Sâm nh-ng lại m-u đồ phản nghịch. Là ng-ời cơ m-u, khi biết triều đình đã
nghi ngờ, Hoàng Đình Bảo đã xin chúa đ-ợc từ chức, một mình về kinh thành
để giải thích, bày tỏ lòng trung thành. Đấy chỉ là vẻ bên ngoài, thực chất, y về
để dò la tình hình. Hoàng Đình Bảo cân nhắc giữa hai phe Trịnh Tông và
Đặng Thị Huệ xem nên theo ai. Y phân tích tình hình hết sức căn kẽ: “Đặng Thị tuy đ-ợc chúa yêu th-ơng nh-ng Cán còn nhỏ, đã chắc gì. Hay là ta hãy thử -ớm v-ơng tử Tông xem sao. Bè đảng của Tông cũng to. Nếu Tông bằng lòng ta giúp thì binh hai trấn Kinh Bắc, Sơn Tây cũng thừa cho ta dùng”
[33,105]. Khi bị Trịnh Tông từ chối, Hoàng Đình Bảo lập tức trở mặt: “Thế là v-ơng tử không dong ta. Đợi đến ngày ông có địa vị thì thân tôi còn gì! Thế là
ông phụ tôi tr-ớc nhé, sau này ông đừng trách tôi!... Tài ta đổi nguy làm an, an làm nguy. Mày không muốn dùng ta thì đem tài trí cho ng-ời khác dùng.
Địa vị mày đã bấp bênh mà mày lại không biết trọng ng-ời, không biết thu dụng ng-ời thì mày phải chết!” [33,107]. Hoàng Đình Bảo đến cầu thân với
Đặng Thị Huệ. Từ đó, hai ng-ời t- thông với nhau, làm những việc đại nghịch bất đạo. Hoàng Đình Bảo âm m-u đ-a con của Đặng Thị Huệ là Trịnh Cán lên ngôi, nh-ng thực chất là y thâu tóm hết quyền bính trong triều. Những việc làm của Hoàng Đình Bảo khiến cho khắp nơi trong dân gian oán ghét. Dân gian khi ấy truyền tụng câu hát: “Trăm quan có mắt như mù, để cho Huy quận vào sờ chính cung”. Mê mẩn trong thời cuộc, quay cuồng trong danh vọng, Quận Huy trở thành một kẻ phản phúc, ti tiện. Việc quân Tam phủ nổi loạn giết chết Hoàng Đình Bảo chỉ là một kết quả tất yếu.
Tất cả những nhân vật trên, mỗi ng-ời một hoàn cảnh nh-ng đều chung nhau ở lòng tham. Vì lòng tham quyền lực mà họ phải trả giá bằng cả mạng sống của mình.
Thứ hai là kiểu nhân vật chính trực, quân tử. Những ng-ời này sống rất
đàng hoàng không giả trá, c- xử đúng với đạo lí làm ng-ời. Trong xã hội loạn lạc và biến động thì loại ng-ời này không nhiều. Nổi bật là các nhân vật Vũ Lăng hầu Lê Duy Lễ, nàng hầu Thuý Hồng, quan tri phủ Đặng Phi Hiển...
Vũ Lăng hầu Lê Duy Lễ, vốn là dòng dõi “kim chi ngọc diệp”, nhưng số phận không cho ông làm vua. Bản thân ông “không thiết gì phú quý cả, chỉ mong sao lúc nào trong tâm t- cũng thảnh thơi rồi nay đây mai đó, bạn cùng non thanh n-ớc đẹp, gửi mình vào cõi mộng hồn thơ. Nghĩ đ-ợc một câu đắc ý, nh- cởi ruột mở gan, ngắm đ-ợc một cảnh đẹp mắt nh- tắm gội thần trí. Cái thú l-ơng thần mĩ cảnh, bầu r-ợu túi thơ nó nhẹ nhàng thú vị lắm”. Vì yêu ấu Mai, ông tìm cách vào tận chốn Sơn lăng để đ-ợc vẹn thề -ớc cũ cùng ng-ời yêu. Khi bị tố giác và ghép vào tội dâm loạn, Vũ Lăng hầu chẳng chút sợ hãi,
ông chửi thẳng vào tính dâm ô, ích kỉ của bọ vua chúa thống trị: “Tội phạm phép n-ớc thì tôi xin chịu tội. Còn nh- nói là ô uế thì vị tất... còn có việc ô uế hơn việc tôi làm... Sống làm hại trăm gái non vô tội, chết đi lại đem hàng trăm ng-ời vô tội dìu đến ấp đống x-ơng mục d-ới đất. Cái thói dâm ô đến lúc nằm d-ới đất đen, có lẽ còn ô uế bằng vạn cái tính háo sắc thường của tôi”
[33,462]. Vũ Lăng hầu biết việc làm của mình là sai, là vi phạm phép n-ớc, nh-ng đứng về phía tình cảm con ng-ời mà nói thì việc làm của ông là rất nhân bản, không có gì là vi phạm đạo đức cả. Trong hành động, lời ăn tiếng nói của mình, lúc nào Vũ Lăng hầu cũng tỏ rõ khí chất của một ng-ời quân tử.
Quan tri phủ họ Đặng - ông nội của ấu Mai là một ng-ời liêm khiết, chính trực. Lúc làm quan ông dùng m-u l-ợc thu phục đ-ợc một đảng c-ớp khét tiếng ở vùng Thanh Hoá. Cả nhà mấy trăm mạng ng-ời bị giết, nh-ng
đứa con trai nhỏ của tên c-ớp vì không có nhà nên cũng đ-ợc ông tha tội chết
để giữ h-ơng khói cho tổ tiên. Không ngờ, ông làm phúc mà phải tội. Đứa trẻ ấy sau làm hại cả nhà ông để trả thù, khiến ông thân bại danh liệt. Khi còn làm quan ở kinh thành, ông đi bắt đám bạc ở ph-ờng Đồng Xuân. Khi đó,
Trịnh Kha là anh em thúc bá với chúa th-ợng, là chủ sòng bạc, đã xin ông nể tình mà tha cho. Vì phép n-ớc, ông không nể nang gì, cứ lôi về phủ Liêu để trị tội. Ông là một vị quan rất công minh, làm việc nguyên tắc, không vì tình riêng mà làm hại tới luật pháp quốc gia. Khi làm quan Ngự sử, vì can gián chúa Thanh Đô V-ơng mà ông bị cách chức đuổi về. Có thể nói, suốt thời gian làm quan, ông luôn là một vị quan mẫu mực, có trách nhiệm với sự tồn vong của quốc gia. Khi về ở trí sĩ, ông luôn nêu cao khí chất của một nhà nho sống cao khiết và đức hạnh. Ông thường dạy con cháu trong nhà rằng “người ta, ngồi ra ngồi, nằm ra nằm không nên nửa ngồi nửa nằm uể oải. “Nạo khí trạo chi” có thế mới giữ được mình thẳng thắn trong lòng mà đối với người khác không đến “linh nhân khí nỗi” [33,373]. Đồ đạc của ông giản dị, nh-ng tỏ rõ khí chất con ng-ời ông. Trên cái kỉ con dài chừng th-ớc bẩy, rộng chừng th-ớc mốt, cao chừng sáu tấc, để một l- trầm, bên cạnh một chiếc lọ Giang Tây, cắm cành hoa lan bạch ngọc đầu mùa, cạnh chiếc lọ xếp một tập “Đường Tống thi thuần”, đêm đêm ông thường ngâm nga. Đặng Phi Hiển thọ bảy m-ơi chín tuổi. Suốt cuộc đời ông là cuộc đời của một nhà nho sống mẫu mực,
đáng trân trọng.
Nàng hầu Thuý Hồng tuy là phận nữ nhi, làm con hầu cho nhà tri phủ
Đặng nh-ng việc làm, nhân cách của nàng không thua kém bất cứ một đấng quân tử nào. Thuý Hồng là ng-ời rất hiểu lẽ đời, nàng tìm cách đ-a Vũ Lăng hầu vào trong Sơn lăng sống cùng ấu Mai cho trọn duyên hẹn -ớc. Khi bị tố giác, Thuý Hồng một mực nhận hết lỗi về mình. Bị Trịnh Kha dụ dỗ, mua chuộc, Thuý Hồng khẳng khái trả lời: “Đánh tôi đến chết, thì tôi cũng chỉ chịu nói ra thế mà thôi, thân tôi có thể đem ra băm chém đ-ợc, lòng tôi không thể c-ớp đ-ợc. Tôi tuy là phận tôi đòi, nh-ng cũng biết sỉ nhục tín nghĩa một đôi phần” [33,479]. Chịu qua nhiều cực hình quá, nàng ốm mà chết. Là phận con
đòi nh-ng khi chủ bị nạn, nàng không vì sự sống chết của bản thân mình mà bỏ rơi chủ. Thuý Hồng là ng-ời sống có tình có nghĩa. Trong ngục thất, bị
đánh đập, bị mua chuộc, Thuý Hồng nhất định không chịu khai. Nàng là