Tình huống truyện là yếu tố không thể thiếu đ-ợc trong tác phẩm tự sự.
Mỗi một tình huống là một khoảnh khắc cuộc sống, một nhát cắt thời gian mà ở đó, nó “buộc con người phải ở vào tình thế phải bộc lộ ra cái phần tâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất” [30,120]. Không một tác phẩm tự sự nào lại không đ-ợc dựng nên từ những tình huống. Có thể tác phẩm không có cốt truyện, không có kịch tính nh-ng truyện vẫn phải đ-ợc hình thành từ một tình huống cụ thể nào đó. “Tình huống là những bối cảnh đặc biệt mà tác giả tạo ra
để triển khai cốt truyện, để nhân vật hành động, suy nghĩ... Tình huống th-ờng
đ-ợc tạo nên bằng một sự kiện gây nên tác động mạnh mẽ đến đời sống của nhân vật” [30,120]. Nhà văn nhạy cảm và có tài là ng-ời biết xây dựng nên các tình huống từ những xung đột của đời sống. Và tình huống đó có tác dụng quan trọng, quyết định tới sự phát triển tính cách của nhân vật. Vì vai trò quan
trọng nh- vậy nên các nhà văn rất chú trọng vào việc xây dựng các tình huống. Nói như Nguyễn Minh Châu thì “đôi khi người ta nghĩ ra đ-ợc một tình thế xảy ra câu chuyện thật hay và thế là coi nh- xong một nửa... Nó là cái cớ chắc chắn, hết sức cụ thể và mang tính riêng, ở đó cốt truyện và nhân vật nương tựa vào nhau để thực hiện đắc lực nhất tất cả các ý đồ của tác giả”
Khảo sát tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật, chúng tôi nhận thấy tác giả sử dụng kiểu tình huống thắt nút. Đây là loại tình huống khá phổ biến trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nhà văn đạt đ-ợc những ý đồ nghệ thuật của mình từ những tình huống gay cấn, mang ý nghĩa thử thách đối với cuộc đời mỗi nhân vật. ở loại tình huống này, nhân vật cũng bộc lộ tính cách, bản chất của mình một cách rõ nét nhất.
Trong Hòm đựng ng-ời, tình huống truyện đ-ợc tác giả đ-a ra là nàng ấu Mai giấu ng-ời tình của mình là Vũ Lăng hầu Lê Duy Lễ trong phòng mình ở Sơn lăng.
Sơn lăng là nơi thờ phụng tiên đế. ấu Mai là cung nhân, có phận sự phải lo h-ơng khói cho tiên đế. Vậy mà, nàng đã làm một viêc tày đình là đ-a ng-ời tình vào chốn cấm địa này. Xét về mặt luật pháp nhà n-ớc, thì nàng phạm tội lớn; nh-ng xét về mặt tình cảm, ở khía cạnh nhân bản thì việc làm của nàng không có gì là sai trái cả. Một luật lệ phong kiến hà khắc, bắt tội ng-ời phụ nữ phải chung thuỷ với một cái xác khô, mà kể cả lúc còn sống, ng-ời phụ nữ ch-a từng thấy mặt bao giờ, nói gì đến việc đ-ợc yêu th-ơng.
Việc làm của ấu Mai rất đáng đ-ợc thông cảm và trân trọng trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Vì tình huống này mà Tố Hà - ng-ời cung nữ ở cùng phòng với ấu Mai trong Sơn lăng đã trải qua một cơn bão lòng hết sức khủng khiếp.
Để rồi, nàng phụ nghĩa chị em mà đi tố cáo việc kín của ấu Mai. Nếu ấu Mai không đ-a Vũ Lăng hầu vào giấu trong Sơn lăng thì ấu Mai cũng nh- Tố Hà và hàng trăm cung nhân khác cứ câm lặng mà sống cho đến hết đời. ấu Mai
vốn hay buồn tủi cho phận mình, cho vận đen của gia đình. Tố Hà ng-ợc lại, nàng biết lấy sự đùa cợt bông lơn để khoả lấp nỗi buồn. Từ ngày Vũ Lăng hầu vào Sơn lăng, ấu Mai vì đ-ợc gặp lại ng-ời tình cũ mà trở nên vui vẻ. Tố Hà thì vì vậy mà trở nên buồn tủi, đau đớn. Cùng một lứa đầu xanh tuổi trẻ, sao ấu mai đ-ợc vẹn tình, còn nàng cũng đã có ng-ời yêu th-ơng, nh-ng giờ không biết đang l-u lạc ở đâu. ấu Mai có ng-ời nhà vào thăm nom, còn Tố Hà gia đình li tán, không biết ai còn ai mất. Qua tình huống truyện và hai nhân vật ấu Mai và Tố Hà, Nguyễn Triệu Luật muốn nhắn nhủ đến bạn đọc rằng:
Cuộc sống vốn rất phức tạp. Bản thân mỗi ng-ời phải tự đấu tranh với bản thân
để tự hoàn thiện mình, giúp mình sống đẹp hơn. Nếu tâm không vững, một khi
để mầm ác gieo vào thì khó mà xoá đi nổi. Đó là cái tâm của môt nhà văn lòng nặng trĩu với đời.
Nếu không xuất hiện nhân vật Trịnh Kha, và tình huống hắn cố tình ép cung để hại cả gia đình Đặng Phi Hiển thì ng-ời đọc đâu thấy đ-ợc bộ mặt của tên tiểu nhân Trịnh Kha và tấm lòng cao cả của nàng hầu Thuý Hồng.
Nhân vật Đặng Thị Huệ (Bà chúa Chè) lại đ-ợc tác giả đặt vào một tình huống hết sức gay cấn. Đó là vào dịp bà tiệp d- Trần Thị Lộc về thăm đồi chè làng Ném. Tất cả mọi ng-ời phải cúi mặt khi kiệu của bà đi qua. Đặng Thị Huệ khi ấy đi hái chè thuê, vì không có quần áo đẹp nên bữa ấy bị đuổi đi cắt cỏ. Giữa không khí uy nghiêm, kính cẩn ấy, Đặng Thị Huệ cất tiếng hát véo von. Tiếng hát lập tức gây đ-ợc sự chú ý của bà tiệp d-. Ai cũng lo sợ thay cho nàng sẽ bị tội, nh-ng nàng vẫn điềm nhiên tiến lại gần. Không ngờ, khi giáp mặt với Đặng Thị Huệ, bà tiệp d- liền nảy ra ý định dùng nàng làm ph-ơng thuốc chữa bệnh háo sắc cho chúa th-ợng. Bởi vì, đối diện với bà là một người con gái “tuyệt kì đẹp đẽ sắc sảo” dù rằng ăn mặc qúa xuyềnh xoàng. “Mặt nàng tròn trái xoan, đôi mắt hơi xếch điểm bộ lòng đen đen ngời.
Cái vẻ sáng nh- g-ơng, sắc nh- dao của khoé mắt đ-ợc cái sắc đen thẫm của
lòng đen làm dịu lại. Thật là sáng nh- tia chớp mà êm đềm nh- n-ớc hồ thu.
Nàng cúi gầm mặt xuống, thì nh- đem cả làn thu ba chìm tận đáy lòng mà khi nàng ng-ớc mắt nhìn lên thì đem hết tinh hoa bật lên một tia sáng làm chói mắt người xem”. Rõ ràng, Đặng Thị Huệ biết đ-ợc lợi thế của mình, biết khi nào thì thời cơ đến. Bà tiệp d- là đàn bà mà còn phải mê thì huống gì đến ng-ời háo sắc nh- chúa. Đặng Thị Huệ tự tạo ra thì, cơ và thế cho mình để thực hiện kế sách “đảo hành nghịch thi”. Đặt giả thiết, nếu Đặng Thị Huệ sợ hãi nh- những ng-ời khác thì làm sao một cô gái nghèo, không thần không thế nh- nàng có thể lọt vào cung cấm, mang sắc đẹp khuynh thành của mình thấu
đến ng-ời quyền khuynh thiên hạ. ở tình huống này mới thấy Đặng Thị Huệ là một ng-ời phụ nữ không chỉ đẹp mà còn rất thông minh và có bản lĩnh.
Nhân vật Chúa Trịnh Khải (Chúa Trịnh Khải) lại bộc lộ tính cách của mình thông qua mối quan hệ với quân Kiêu binh. Trong tình huống quân Kiêu binh nổi loạn, Trịnh Khải lại tự cho mình có tài dùng binh, có thể điều khiển
đ-ợc lực l-ợng quân Kiêu binh. Tuy nhiên, nhận định của chúa đã sai lầm.
Chính sự dung d-ỡng của chúa khiến kiêu binh ngày càng kiêu ngạo, không coi ai ra gì. Ngôi vua, ngôi chúa đều từ tay bọn chúng mà ra, quan tr-ởng phủ họ dám giết, quan văn chúng chẳng coi ra gì. Cả triều đình rút cuộc nằm trong tay quân Kiêu binh cả. Việc làm của chúa không làm cho ng-ời ta sợ hãi mà khiến cho người ta thương. “Sợ là trông lên, thương là trông xuống”. Đoan Nam v-ơng làm cho thần dân và quân sĩ th-ơng hại mà trông xuống, thì khó có thể trị được quân kiêu binh. Đến khi quân kiêu binh trở thành “quân bất trị”, chúa lúc ấy mới nghĩ đến việc phải trị, thế nh-ng mọi việc đã quá muộn.
Trong mối quan hệ với Kiêu binh, chúa nh- một đứa trẻ sợ đòn, cứ chạy loanh quanh để trốn. Một ng-ời đứng đầu quốc gia mà để mất quyền lực, uy thế của mình nh- vậy, Trịnh Khải không phải là một vị vua sáng suốt. Nói cách khác,
ông là kẻ bất tài, nhu nh-ợc.
Nếu không có tình huống chém bẩy tên kiêu binh của Quốc cữu D-ơng Khuông theo kế “triết trợ” thì quân Tam phủ không nổi loạn mà đốt phá hết phủ đệ, kéo cả vào cung điện để đàn áp triều đình. D-ơng Khuông nghe tin trốn vào trong Suý phủ lánh nạn, nhờ D-ơng thái phi và Chúa van xin, chúng mới tha cho mạng sống. Lúc này, Quốc cữu không còn nói “quyền dĩ lập hĩ”
đ-ợc nữa. Lúc bàn việc thì ông ta tỏ ra là ng-ời hăng hái nh-ng khi có việc thì
lại trốn biệt, không dám ra mặt. D-ơng Khuông đúng là kẻ thô lậu, bỉ ổi và bất tài.
Chúa Đoan Nam V-ơng thật nhục nhã tr-ớc khí thế của quân Kiêu binh. Khi chúa phải trực tiếp ra xin quân lính tha cho Quốc cữu và Chiêm Võ hầu, chúng không nghe lại còn nói hỗn: “Muốn làm thì dựng. Không thì thôi!
Ai ép? Ai ép?”. Câu nói của quân lính cho thấy sự coi th-ờng chúa đến mức ra mặt rồi. Đối với chúng bây giờ, chúa chẳng qua là pho t-ợng gỗ làm vì thôi, chẳng còn chút giá trị gì nữa. Hành động nổi loạn của quân lính thật đáng phê phán nh-ng chính những ng-ời đứng đầu bất tài, nhu nh-ợc nh- chúa Đoan Nam V-ơng khiến tình hình trở nên rối loạn. Kỉ c-ơng phép n-ớc dột nát từ trên xuống, thế nên xét từ góc độ nào đó, hành động của Kiêu binh là một sự phản kháng lại chính quyền phong kiến đã mục nát.
Đến n-ớc cuối cùng, Đoan Nam V-ơng quyết định thí Chiêm Võ hầu cho Kiêu binh chém giết. Chiêm Võ đồng ý, xin Trịnh Khải ban cho ba điều, trong đó điều thứ ba là xin được lĩnh thanh kiếm “Phượng Huy” để giết Kiêu binh. Chúa sợ hãi, xin với Chiêm Võ “Điều thứ ba thì ta xin nhà ng-ơi. Chỉ vì
Quốc cữu, Quốc s-, và nhà ng-ơi - nhất là nhà ng-ơi - gây nên chuyện giết chóc chúng nên chúng mới thù oán mà làm loạn nên thế. Nay ng-ơi lại giết chúng nó thì d-ờng nh- ta cho ng-ơi ra giết hại chúng. Nh- thế nó sẽ oán ta, nó lại làm loạn nữa. Thôi thì nhà ng-ơi đã biết lấy thân báo chúa thì nên làm cho trót lọt mọi việc. Chung qui nhà ng-ơi vẫn phải chết thì nên chết mà sao cho yên bụng Tam quân”. Thí tướng cho quân lính chém giết là n-ớc cờ bất
đắc dĩ của chúa. Nh-ng thêm một lần nữa, ng-ời đọc hiểu hơn về con ng-ời Trịnh Khải. Một kẻ bất tài nh-ng tham quyền cố vị. Thông qua tình huống D-ơng Khuông cho chém đầu bảy tên Kiêu binh, một loạt những nhân vật quyền cao chức trọng trong triều đình lộ rõ bản chất hèn nhát của mình. Có thể nói, Nguyễn Triệu Luật tuy dựa vào sự kiện lịch sử có thật nh-ng thông qua sự kiện, ông đặt nhân vật vào những tình huống khiến cho nhân vật đ-ợc hành động, nói năng, suy nghĩ, bộc lộ hết bản chất của mình. Nhân vật lịch sử trở thành những “nhân vật sống” chứ không phải những “nhân vật đã sống”.
Viết tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Triệu Luật đã sử dụng kiểu tình huống phổ biến nhất - kiểu tình huống thắt nút - tuy không có gì là sáng tạo, nh-ng chính kiểu tình huống này giúp nhà văn thể hiện đắc lực nhất tính cách các nhân vật và ý đồ nghệ thuật của mình. Bởi thế nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật được “hoạt động hiển nhiên, không được ông tô điểm cho nh-ng cũng không bị ông làm mất đi bản sắc” [33,15].