Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết lịch sử nguyễn triệu luật (Trang 23 - 29)

1.2. Sự vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện đại

1.2.1. Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX

Đầu thế kỉ XX, Việt Nam là thuộc địa của thực dân Pháp. Sau hai cuộc khai thác thuộc địa, lần thứ nhất (1987-1914), lần hai (1919-1929), kinh tế Việt Nam có sự chuyển biến. Đó là một cơ cấu kinh tế thuộc địa, mang sắc thái hiện đại (đa ngành, đa lĩnh vực), nh-ng thực chất, đó là cơ cấu kinh tế thuộc địa mất cân đối, què quặt.

Trên ph-ơng diện xã hội, d-ới tác động của hai cuộc khai thác thuộc

địa, xã hội Việt Nam có sự phân hoá sâu sắc. Giai cấp địa chủ phong kiến bản xứ cấu kết chặt chẽ với chính quyền thực dân, thực hiện những chính sách cai trị hà khắc, bóc lột ng-ời nông dân. Giai cấp nông dân chiếm tới 90% dân số, bị áp bức và bóc lột nặng nề nhất. Cuộc sống bị đè nén khiến một bộ phận ng-ời nông dân bị bần cùng hoá. Giai cấp công nhân Việt Nam làm việc trong các nhà máy của ng-ời Pháp ngày càng đông. Điều kiện làm việc và sinh hoạt vô cùng cực khổ. Xuất thân từ ng-ời dân của một đất n-ớc nô lệ, mang sẵn mối thù dân tộc, lại thêm bị giai cấp t- sản Pháp áp bức, họ mang thêm mối

thù giai cấp. Vì vậy, giai cấp công nhân có sự giác ngộ sớm ý thức giai cấp và nhanh chóng trở thành giai cấp tiên phong trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Giai cấp tiểu t- sản ra đời cùng với sự xuất hiện của các thành thị, nền giáo dục mới. Giai cấp này gồm ba bộ phận: trí thức, tiểu th-ơng và thợ thủ công. Giai cấp t- sản Việt Nam sau chiến tranh có sự phát triển nhanh chóng. Hầu hết họ là t- sản dân tộc, có tinh thần dân tộc. Tuy nhiên, do số l-ợng doanh nhân không nhiều, số vốn lại ít, nên bị cạnh tranh bởi t- sản Pháp và t- sản Hoa kiều.

Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã hình thành nên ở Việt Nam một hệ thống thành thị kiểu ph-ơng Tây. Trong quá trình sinh sống, tầng lớp thị dân đã tạo ra một lối sống riêng, vừa kế thừa những giá trị truyền thống, đồng thời xuất hiện những lối sống mới khác với lối sống của ng-ời nông dân.

Hệ thống thành thị phát triển, thị dân đông đúc là điều kiện để tiếp nhận văn hoá ph-ơng Tây. Từ đó dẫn đến sự ra đời các nhà xuất bản, báo chí, văn học, kịch nói, điện ảnh, kiến trúc mới... “Thập kỉ 20 trong thế kỉ XX trong lịch sử Việt Nam đ-ợc xem là giai đoạn giao thoa, đan xen nh-ng giá trị văn hoá

truyền thống và văn hoá ngoại nhập, giữa nền văn hoá thực dân, nền văn hoá

chính thống và nền văn hoá mới, văn hoá tiến bộ, cách mạng đang định hình”

[50,254].

Với sự xuất hiện rầm rộ của hệ thống các nhà xuất bản, báo chí... mà các tác phẩm văn học mới đ-ợc đón nhận một cách hồ hởi. Năm 1925, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra đời, với lối viết mới theo quy luật tâm lý, không theo kết cấu ch-ơng hồi, nội dung đả kích lễ giáo phong kiến lỗi thời, đề cao tình yêu, tự do cá nhân. Tiếp đó, hàng loạt tác phẩm ra đời h-ớng tới việc phê phán xã hội đ-ơng thời bằng cách bóc trần cuộc sống tủi nhục, lầm than của ng-ời lao động, miêu tả những xung đột của lễ giáo phong kiến với tự do cá nhân t- sản, công khai bộc lộ tình cảm yêu n-ớc

th-ơng nòi. Những yếu tố đó làm tiền đề cho sự ra đời của dòng văn học hiện thực phê phán.

Trong bối cảnh đó, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra hết sức sôi nổi. Các giai cấp, tầng lớp đều có phong trào đấu tranh chống chính quyền thực dân. Tr-ớc khí thế đó, thực dân Pháp tiến hành đàn áp, khủng bố phong trào. Cuộc đàn áp này đã đẩy những ng-ời yêu n-ớc liên kết lại với nhau trong các tổ chức cách mạng. Trong n-ớc có ba tổ chức cách mạng gồm:

Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Tân Việt Cách mạng Đảng, Việt Nam Quốc dân Đảng. Trong số ba tổ chức này thì Việt Nam Quốc dân Đảng là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất của khuynh h-ớng dân chủ t- sản ở Việt Nam trong cuèi nh÷ng n¨m 20.

Thành phần chủ yếu của Việt Nam Quốc dân Đảng là trí thức, viên chức, học sinh, thân hào thân sĩ ở nông thôn và binh lính Việt Nam trong quân

đội Pháp. Tổ chức này lấy việc ám sát khủng bố cá nhân để kích động phong trào cách mạng, điển hình là vụ ám sát tên trùm Badanh (Bazin). Vụ ám sát thành công đã làm nức lòng các tầng lớp nhân dân. Thực dân Pháp vô cùng hoảng sợ. Chúng tiến hành khủng bố, bắt bớ những ng-ời yêu n-ớc. Các cơ sở của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng hầu nh- bị phá vỡ. Tr-ớc tình hình nguy cấp đó, Nguyễn Thái Học - đảng tr-ởng - đã quyết định khởi nghĩa ở các nơi, tập trung lực l-ợng tấn công các thành phố lớn là trung tâm quân sự của Pháp. Thời gian đ-ợc ấn định vào ngày 2/9/1930.

Do bị địch khủng bố nên kế hoạch khởi nghĩa không diễn ra cùng lúc

đ-ợc. Đêm 9/2 khởi nghĩa nổ ra ở Yên Bái. Quân khởi nghĩa cũng chiếm đ-ợc một số vị trí nh-ng không làm chủ đ-ợc tình hình. Sáng hôm sau, quân Pháp tập trung lực l-ợng và dập tắt đ-ợc cuộc khởi nghĩa.

Sau cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng rất dã

man, nhằm xoá sổ tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng, nhiều đảng viên bị cầm tù, tra tấn rất dã man.

Cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại đã gây nên một tâm lí xã hội hết sức nặng nề, đặc biệt là tầng lớp trí thức tiểu t- sản. Lúc bấy giờ, phong trào Xô

viết Nghệ - Tĩnh do giai cấp công nhân lãnh đạo đã thành công, nh-ng do lực l-ợng không cân sức, thực dân Pháp đàn áp khủng bố nên phong trào dần đi xuống. Các cuộc khủng bố liên tiếp của chính quyền thực dân gây ra một bầu không khí u ám trong toàn xã hội. Tầng lớp trí thức tiểu t- sản bị mất lí t-ởng, mang trong mình tâm lí thất bại, họ tìm đến với văn thơ nh- một sự giãi bày, một nơi kí thác niềm tâm sự sâu kín của mình.

Đời sống văn học Việt Nam lúc này diễn ra hết sức sôi động. Có tới ba trào l-u văn học cùng xuất hiện và phát triển. Đó là trào l-u văn học lãng mạn, trào l-u văn học hiện thực phê phán và trào l-u văn học cách mạng.

Trào l-u văn học lãng mạn là một trào l-u văn học lớn, phát triển hết sức phức tạp, xuất hiện ở ph-ơng Tây từ đầu thế kỉ XIX. Đây là khuynh h-ớng thẩm mỹ lấy việc khẳng định cái tôi cá nhân cá thể làm nguồn cảm hứng chủ

đạo. Đó là một cái tôi không thoả mãn với thực tại, tìm cách giải thoát khỏi thực tại bằng mộng t-ởng, tự đắm mình vào trạng thái nội tâm tràn đầy cảm xúc. Trong trào l-u văn học lãng mạn, nổi bật là phong trào Thơ mới và dòng tiểu thuyết lịch sử đ-ợc xem là nơi gửi gắm, kí thác niềm tâm sự của những trí thức tiểu t- sản tr-ớc thời cuộc.

Thơ mới chính là sự biểu hiện trực tiếp t- t-ởng và tình cảm của tầng lớp tiểu t- sản thành thị. Thơ mới không phải là tiếng nói thoát li, quên lãng thực tại mà là tiếng nói buồn th-ơng tr-ớc cuộc đời. Các nhà Thơ mới gặp nhau ở niềm tâm sự yêu n-ớc thầm kín, thiết tha. Nhiều phong trào yêu n-ớc

đã lui vào quá khứ nh-ng d- âm vẫn còn vang vọng đến thời kì hiện tại. Nghĩ về chí sĩ Phan Bội Châu, Huy Thông liên t-ởng tới hình ảnh con voi già dũng mãnh xông pha trận mạc. Thế Lữ với hình t-ợng con hổ bị giam cầm trong v-ờn bách thú nuối tiếc về quá khứ vàng son, đau đớn vì chúa sơn lâm bị tách ra khỏi rừng già. Các nhà thơ trong hoàn cảnh hiện tại, không thể trực tiếp nói

về hiện thực, chỉ có thể dùng những hình t-ợng gián tiếp, qua đó gửi gắm tâm sự yêu n-ớc của mình. Chế Lan Viên với những vần thơ chất chứa đau th-ơng vì sự Điêu tàn của dân tộc Chàm xưa. “Đó là một lời ca yêu nước bởi anh khóc cho số phận của những dân tộc bị đô hộ”, tuy rằng, Chế Lan Viên có sử dụng những hình ảnh rùng rợn và ma quái. Thơ Huy Cận lại mang nặng một nỗi buồn non n-ớc. Một ngôi miếu cổ, một bến đò x-a... lại gợi lên cho ông biết bao niềm thiết tha và xót xa với cuộc đời hiện tại. Thơ Huy Cận là tình yêu, là sự trân trọng với những gì thuộc về cội nguồn dân tộc... “Lòng yêu n-ớc trong thơ có nhiều cách thể hiện. Tình cảm yêu n-ớc trong Thơ mới không bộc lộ trực tiếp trên mạch đấu tranh xã hội, chính trị. Có thể tìm thấy tâm sự yêu n-ớc ở những nỗi niềm nhớ th-ơng luyến tiếc một thời vàng son của đất n-ớc, ở khát vọng tự do, ở sự trân trọng những phong tục tập quán đẹp từ lâu đời và ở những phản ứng với thực tại nhiều đau thương tủi cực” [13,17].

Tình yêu dân tộc trong Thơ mới còn đ-ợc thể hiện ở việc các nhà thơ

tìm về với cảm hứng lịch sử hào hùng của dân tộc. Đó là việc các nhà thơ viết về các nhân vật, sự kiện lịch sử trong quá khứ dân tộc nh- Tiếng địch sông Ô, Huyền Trân công chúa của Huy Thông, Mị Châu Trọng Thuỷ của Xuân Diệu... Các bài thơ này có âm điệu khoẻ khoắn, thiết tha. Mặt khác, lịch sử lại

đ-ợc khai thác trong thơ ở tâm trạng ai oán của ng-ời dân mất n-ớc. Quá khứ trở thành đối t-ợng để so sánh với thực tại, để ng-ỡng mộ và nuối tiếc. Các nhà thơ không tìm đến lịch sử nhằm khai thác những câu chuyện li kì. Trở về với quá khứ lịch sử chính là thái độ đối với hiện tại của các nhà Thơ mới. Tập thơ Điêu tàn của Chế Lan Viên chính là tấm lòng yêu n-ớc kín đáo và tha thiết. Nhà thơ tâm sự: “Điêu tàn” có riêng gì cho đất n-ớc Chiêm Thành yêu mến của tôi đâu”. Cả tập thơ là những trang viết đau th-ơng, xúc động về một

đất n-ớc đã lụi tàn. Quá khứ huy hoàng của đất n-ớc thời thịnh trị đối lập với cảnh hoang phế của hiện tại làm trào dâng niềm th-ơng cảm, xót xa.

Cảm hứng lịch sử còn biểu hiện ở tấm lòng “hoài cổ” của nhà thơ Vũ

Đình Liên. Hình ảnh ông đồ già bày mực tàu giấy đỏ - nét tinh hoa của truyền thống văn hoá Việt Nam - nay lẻ loi, đơn điệu giữa phố ph-ờng đông đúc

Những ng-ời muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ ?”. Nhà thơ Huy Cận lại không đi vào miêu tả các sự kiện hay con ng-ời lịch sử, thơ Huy Cận tìm đến với không gian của cảnh quê, làng quê, nơi ngôi miếu cổ, bến đò x-a... để ngậm ngùi với bóng hình đất n-ớc.

Hỡi mây trắng, hỡi n-ớc buồn, gió cũ Sao chiều nay ảo não vị sơ x-a

Lòng ta nữa cũng trở về một chỗ

Trong nỗi đau th-ơng v-ơng tự bao giờ

Bên cạnh phong trào Thơ mới, tiểu thuyết lịch sử cũng nở rộ. Các nhà văn tìm đến với tiểu thuyết lịch sử để “tìm thấy niềm an ủi, ý chí tự hào và lòng hy vọng thầm kín vào tiền đồ của đất nước” [33,5]. Hàng loạt các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử ra đời và đ-ợc đông đảo bạn đọc hoan nghênh, tiếp nhận. Năm 1928, Nguyễn Tử Siêu ra mắt bạn đọc Tiếng sấm đêm đông, đây thực sự là tiếng nổ lớn, mở đầu cho tiểu thuyết lịch sử phát triển. Tiếp đó, năm 1929, ông cho ra đời liên tiếp các tác phẩm là Vua bà Triệu ẩu, Đinh Tiên Hoàng, Hai bà đánh giặc, Vua bố Cái, Lê Đại Hành. Phan Trần Chúc đều đặn mỗi năm đều có tác phẩm ra mắt bạn đọc. Nguyễn Huy T-ởng trong năm 1944 ra mắt cuốn tiểu thuyết An T-Đêm hội Long Trì. Nguyễn Triệu Luật năm 1938 xuất bản ba cuốn tiểu thuyết là Bà chúa Chè, Loạn kiêu binh, Hòm

đựng ng-ời, năm 1939 xuất bản cuốn Ng-ợc đ-ờng Tr-ờng Thi, năm 1940 xuất bản tiếp cuốn Chúa Trịnh Khải... Điều đó cho thấy nhu cầu đ-ợc bày tỏ, giãi bày tình cảm của mình với lịch sử dân tộc của các nhà văn lúc bấy giờ là rÊt lín.

Nh- vậy, trong bối cảnh xã hội phức tạp đầu thế kỉ XX, d-ới tác dộng của các cuộc khủng bố tàn bạo của kẻ thù, sự thất bại của các phong trào yêu

n-ớc, đã gây nên một bầu không khí u ám cho toàn xã hội. Văn thơ, trở thành nơi giãi bày, kí thác tâm sự của tầng lớp trí thức tiểu t- sản lúc bấy giờ. Tiểu thuyết lịch sử ra đời và đ-ợc đón nhận, cho thấy nhu cầu của một bộ phận nhân dân lúc bấy giờ cần tìm một điểm tựa và thể hiện một thái độ phản ứng với thực tại xã hội đ-ơng thời.

Một phần của tài liệu Phong cách tiểu thuyết lịch sử nguyễn triệu luật (Trang 23 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(126 trang)