THỜI HỌ KHÚC, NGÔ, ĐINH, TIỀN LÊ
I- TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
1. Diên cách hành chính
Dưới thời Bắc thuộc, chính quyền đô hộ chia nước ta thành các quận, huyện để tổ chức cai trị. Đến thời Đường, khu vực từ miền Nam Trung Quốc trở vào đến Đèo Ngang được đặt làm An Nam đô hộ phủ. Cuối đời Đường, An Nam đô hộ phủ quản lĩnh 12 châu và một số châu kimi ở khu vực miền núi. Trong số 12 châu này, có 4 châu thuộc đất miền Nam Trung Quốc và 8 châu thuộc lãnh thổ nước ta từ miền Bắc vào đến Đèo Ngang1. Trị sở của An Nam đô hộ phủ thời Đường đặt ở Giao Châu, trên khu vực thuộc địa bàn Hà Nội ngày nay.
Dưới thời thuộc Đường, vùng đất Hải Dương được cho là phần đất huyện Chu Diên thuộc Giao Châu. Sách Đất nước Việt Nam qua các đời của học giả Đào Duy Anh xác định: “Chúng ta đã biết Chu Diên đời Lương, đời Tùy là ở khoảng giữa sông Thái Bình và sông Hồng. Cựu Đường thư chép rằng từ phủ trị về phía đông đến cửa sông Tiểu Hoàng giang ở địa giới huyện Chu Diên, đường thủy là 500 dặm. Xem thế thì huyện Chu Diên là ở về phía đông, liên lạc với phủ trị bằng đường thủy, tức là ở miền Hải Dương là phải”2.
Năm 905, lợi dụng lúc nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ nổi lên giành quyền Tiết độ sứ, lật đổ ách đô hộ của nhà Đường, giành độc lập tự chủ. Trong thời gian 3 năm xây dựng nền tự chủ (905 - 907), Khúc Thừa Dụ vẫn sử dụng cách phân chia đơn vị hành chính cũ của nhà Đường. Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con trai là Khúc Hạo lên thay cha giữ quyền Tiết độ sứ. Khi nắm quyền quản lý, Khúc Hạo “muốn nhân cuộc loạn ly của Trung Quốc mà xây dựng cơ sở tự cường, bèn thiết lập các thứ chế độ theo quy mô của một nhà nước độc lập”3. Ông đã cho thực hiện một cuộc cải cách lớn về chính trị, kinh tế, xã hội, trong đó, có việc định lại các đơn vị hành chính thay cho cách phân chia cũ của
1. Xem Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2005, tr.106.
2, 3. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, tr.97, 108.
nhà Đường, lấy lộ thay cho châu, lấy phủ, châu thay cho huyện và đổi các hương thành giáp.
Về địa danh của vùng đất Hải Dương thời họ Khúc, triều Ngô, sách Lịch triều hiến chương loại chí cho biết: “Đường đặt làm trấn Hải Môn, sau gọi là châu Hồng. Ba triều Đinh, Lê, Lý vẫn theo như thế”1. Như vậy, trong cải cách của Khúc Hạo, có thể một phần địa bàn huyện Chu Diên (thời Đường) được đổi thành châu Hồng. Tên gọi này cũng được giữ nguyên dưới triều Ngô (939 - 965).
Các sử gia triều Nguyễn khi khảo cứu về tỉnh Hải Dương đều cho biết, vùng đất này dưới thời Đường thuộc Hải Môn trấn, sau gọi là Hồng Châu.
Sau đời nhà Đinh, Tiền Lê và Lý vẫn theo như thế2. Dựa trên cơ sở đó, tập thể tác giả sách Địa chí Hải Dương đã cho rằng, Hải Dương thời thuộc Đường (618 - 907) thuộc trấn Hải Môn, sau lại đổi thành Hồng Châu. Thời Đinh, Tiền Lê (968 - 1009) thuộc đất Hồng Châu3.
Về địa danh Hải Môn, đã thấy xuất hiện trong chính sử vào tháng Sáu và tháng Bảy năm Quý Mùi (863), nhưng khi chú thích, các dịch giả sách Đại Việt sử ký toàn thư đều cho rằng, địa danh này nay thuộc địa phận tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc)4. Trong trận chiến diễn ra vào tháng Chạp năm Mậu Tuất (938), mặc dù quân Nam Hán tiến quân theo sông Bạch Đằng mà vào,
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2008, t.1, tr.139.
2. Xem Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, t.1, tr.1044 chép: “Nhà Đường đặt Hải Môn trấn, lại gọi là Hồng Châu. Nhà Đinh chia làm đạo; nhà [Tiền] Lê và nhà Lý cũng theo như nhà Đinh”. Sách Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, chép: “... Đường đặt làm trấn Hải Môn, sau gọi là châu Hồng. Ba triều Đinh, Lê, Lý vẫn theo như thế”.
3. Xem Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương: Địa chí Hải Dương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, t.I, tr.4.
4. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, t.I, tr.196-197 cho biết: khi nhà Đường cho bỏ An Nam đô hộ phủ, đặt chức Hành Giao Châu ở trấn Hải Môn, cho Hữu giám môn vệ tướng quân là Tống Nhung giữ chức Hành Giao Châu thứ sử, cho Vũ Nghĩa tiết độ sứ là Khang Thừa Huấn kiêm lĩnh chức Lĩnh Nam cập chủ quân hành doanh. Chỉ một tháng sau (tháng 7), lại đặt An Nam đô hộ phủ ở Hành Giao Châu, cho Tống Nhung làm Kinh lược sứ, đem quân Sơn Đông một vạn người đến trấn giữ. Sang năm Giáp Thân (864), vua Đường Ý Tông cho Tổng quản kinh lược sứ là Trương Nhân kiêm coi giữ việc Giao Châu, tăng thêm quân ở trấn Hải Môn cho đủ số 2 vạn 5 nghìn người, sai Nhân tiến quân lấy lại phủ thành. Sách này có chú rằng: “Trấn Hải Môn: lỵ sở ở huyện Bác Bạch, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc ngày nay”.
“vua Hán là Cung... tự làm tướng, đóng ở Hải Môn để làm thanh viện”1 nhưng Hải Môn ở đây thuộc châu Uất Lâm (Trung Hoa nhà Đường) hay là địa danh thuộc vùng Hải Dương, Hải Phòng hay Quảng Ninh ngày nay, hiện chưa có sử liệu rõ ràng để khẳng định2.
Địa danh Hồng Châu được ghi chép trong sự kiện diễn ra vào tháng Giêng năm Bính Dần (906), khi Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ được nhà Đường gia phong chức Đồng bình chương sự. Ông là người họ Khúc, “một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu”3. Tác giả Đào Duy Anh cho biết cụ thể hơn rằng,
“Hồng Châu là tên đời sau, tương đương với huyện Chu Diên đời Đường”4. Điều đó phù hợp với sách Tân Đường thư khi chép về sông A Lao ở huyện Chu Diên, mà sông A Lao theo sách Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư lại thuộc huyện Đa Cẩm, châu Thượng Hồng (nay là huyện Cẩm Giàng), điều đó chứng tỏ, huyện Chu Diên bấy giờ ở vào miền Hải Dương ngày nay. Hơn nữa, khi chép về sự kiện tù trưởng Triệu Túc quê ở Chu Diên, sách Đại Việt sử ký toàn thư có chú thích về “huyện Chu Diên thời Lương, thời Tùy, nay là phần đất tỉnh Hải Dương, huyện trị có thể ở vào khoảng huyện Phả Lại”5. Các tác giả Bùi Quang Triệu và Trọng Huân trong bài viết “Cúc Bồ - Quê hương - Nơi dựng nghiệp của Khúc Thừa Dụ” in trong sách Ninh Giang quê hương, đều cho biết, Hồng Châu xưa với tên gọi là Hồng lộ xuất hiện vào thời Lý, Trần,
“bao gồm phần đất của các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng”6.
Sau khi Đinh Bộ Lĩnh hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước, lên ngôi hoàng đế, lập ra triều Đinh (968), trong việc quản lý đất nước, vua Đinh Tiên Hoàng
1. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.203; Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.210-211.
2. Các sử gia triều Nguyễn (thế kỷ XIX) đã có ý kiến về việc này khi chua rằng, “theo Thanh nhất thống chí, trấn Hải Môn ở cách 15 dặm về phía tây huyện Bác Bạch thuộc châu Uất Lâm bây giờ, xưa kia là đường đi vào đất An Nam. Cao Biền luyện tập quân lính ở đó, và từ đấy tiến quân lấy lại An Nam. Có người bảo Hải Môn trấn ở Hải Dương, đó là nhận lầm chữ Hải Môn là nơi cửa biển (hải môn) mà Ngô Quyền trồng cọc để đánh Hoằng Tháo” (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.198).
3. Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.207. Sách này có chú thích: “Hồng Châu: tên đất xưa, đời Lê là hai phủ Thượng Hồng và Hạ Hồng, nay là hai phủ Bình Giang và Ninh Giang, đều thuộc tỉnh Hải Dương”.
4. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, tr.108.
5. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.179.
6. Khúc Thừa Dụ và họ Khúc trong lịch sử dân tộc, Bảo tàng tỉnh Hải Dương, 1999, tr.118.
cũng có một số điều chỉnh. Riêng về mặt tổ chức hành chính, năm 974, vua Đinh Tiên Hoàng chia cả nước làm 10 đạo và tổ chức quân đội tương ứng với 10 đạo đó. Việc chia đặt 10 đạo của vua Đinh Tiên Hoàng được sử cũ ghi nhận, tuy nhiên, về địa giới, danh xưng cụ thể của 10 đạo ra sao thì hiện nay chưa xác định được rõ ràng. Vì vậy, vùng đất Hải Dương dưới thời Đinh được gọi tên thế nào hiện nay vẫn chưa có tư liệu khẳng định chắc chắn.
Dưới triều Tiền Lê (980 - 1009), mùa xuân tháng Ba năm Nhâm Dần (tháng 4/1002), Lê Đại Hành đã cho đổi lại 10 đạo làm lộ, phủ, châu1. Sử cũ cũng không cho biết cương vực, diện mạo của các lộ, phủ, châu thời Tiền Lê ra sao. Tuy nhiên, dựa vào ghi chép của Phan Huy Chú, có thể đất Hải Dương thời Tiền Lê được gọi là Hồng Châu hoặc Hồng lộ.
Các bộ chính sử khi ghi chép về thời Đinh và Tiền Lê, còn thấy chép về địa danh Trà Hương2 (945), Nam Sách Giang (vào các năm 945, 980)3, chùa Sách Giang (987)... Các địa danh này đều thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay.
1. Xem Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.230.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.214 chú thích: “Trà Hương, tức huyện Kim Thành, xưa gọi là Trà Hương, đều thuộc tỉnh Hải Dương”. Sau này, địa danh Trà Hương còn được Đại Việt sử ký toàn thư chép đến trong sự kiện năm 1284, khi “20 vạn quân các xứ Bàng Hà, Na Ngạn, Vân Trà, Yên Sinh, Long Nhỡn đến hội ở Vạn Kiếp, theo quyền điều khiển của Hưng Đạo Vương để chống quân Nguyên”
(Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.51); sự kiện năm 1344 khi “người huyện Trà Hương là bọn Ngô Bệ họp tập nhiều người ở núi Yên Phụ khởi lên làm giặc cướp. Nhà vua sai quân đi bắt, bọn Ngô Bệ liền trốn tránh, tan rã” (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.595; Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.129).
3. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép:
- Năm 945, “lúc trước, Tiền Ngô Vương bệnh nặng, có di chúc giao cho Tam Kha giúp rập cho con. Khi Vương mất, Tam Kha cướp ngôi. Con trưởng của Ngô Vương là Xương Ngập sợ, chạy về Nam Sách Giang, trú ngụ ở nhà Phạm Lệnh Công ở Trà Hương” (t.I, tr.205).
- Tháng Bảy năm Canh Thìn (980), “bấy giờ, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về. Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cự Lạng làm đại tướng quân” (t.I, tr.217).
Chú thích về địa danh Nam Sách Giang, sách An Nam chí lược có chép, đây là tên một lộ dưới thời Lý, còn sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, t.1, tr.214 chép:
“Nam Sách Giang, nay là phủ Nam Sách thuộc tỉnh Hải Dương”. Trong khoảng thời gian sinh sống tại Nam Sách Giang, Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập đã lấy vợ và sinh ra Ngô Xương Xí (sau này trở thành một trong 12 sứ quân “chiếm cứ các quận ấp để tự giữ”
ở Bình Kiều), vì sách Đại Việt sử ký toàn thư (t.I, tr.208) có đoạn chép: “Họ Ngô, tên húy là Xương Xí, khi Thiên Sách Vương lánh nạn, lấy vợ ở Nam Sách Giang sinh ra, là cháu gọi Nam Tấn Vương bằng chú”.