Hải Dương với khởi nghĩa Lam Sơn

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 197 - 200)

TỪ THỜI HỒ ĐẾN THỜI LÊ SƠ

III- HẢI DƯƠNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MINH

2. Hải Dương với khởi nghĩa Lam Sơn

Cuộc kháng chiến thất bại của nhà Hồ đã đưa lịch sử nước ta bước vào một thời kỳ đen tối, thời kỳ thuộc Minh từ năm Đinh Hợi (1407) đến năm Đinh Mùi (1427). Trong suốt 20 năm đó, nhân dân khắp nơi trên cả nước đã đứng lên đấu tranh chống quân xâm lược, nổi bật nhất và thành công nhất là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Nhiều người con Hải Dương đã đứng lên khởi nghĩa chống quân Minh, nhưng không thành công. Sau đó, họ đã đem quân góp công, góp sức vào thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Bùi Quốc Hưng được ban quốc tính nên gọi là Lê Quốc Hưng và được liệt vào hàng “công thần khai quốc” nhà Hậu Lê. Ông vốn gốc họ Phí1, quê ở làng Tri Lai, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, lộ Hoàng Giang (nay thuộc xã Phú Xuân, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình)2. Cha của Bùi Quốc Hưng là ông Bùi Mộc Đức. Bùi Mộc Đức là con trai của Bùi Mộc Đạc. Như vậy, Bùi Quốc Hưng là cháu nội của Thị lang Bùi Mộc Đạc (vốn là Phí Mộc Lạc), vị quan triều Trần. Mẹ của Bùi Quốc Hưng là bà Lê Thị Ngọc Trinh, con gái của Lê Văn Thịnh và là cô của Lê Lợi.

Theo bản Tích cổ địa linh Quang Ánh trang do Hội đồng bản xã Quang Tiền, tổng Thị Đức, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương3 sao chép: Vào cuối thời Trần, quan lớn Bùi Quốc Hưng đến lập ấp doanh trang Quang Ánh, chiêu tập

1. Theo Bùi Thị gia phả của dòng họ Bùi gốc Phí ở xã Đức Long, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 2 năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), lấy Bùi Mộc Đạc làm Chi hậu bạ thư Chánh chưởng, trông coi cung Thánh Từ. Mộc Đạc tên tự là Minh Đạo (người Hoàng Giang), họ Phí, tên là Mộc Lạc, có tài năng. Thượng hoàng cho rằng, họ Phí từ xưa không thấy có, mới đổi làm họ Bùi, cái tên Mộc Lạc là điềm chẳng lành, mới đổi thành Mộc Đạc, sai theo hầu ngày đêm. Đến nay, trao cho chức ấy. Sau này, người họ Phí hâm mộ danh tiếng của Mộc Đạc, nhiều người đổi làm họ Bùi” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.464-465).

2. Về quê quán của Bùi Quốc Hưng, có nhiều ý kiến khác nhau, ở đây, chúng tôi dựa trên kết quả nghiên cứu của dòng họ Phí trong cuốn sách Phí Văn Chiến (Chủ biên):

Họ Phí trong lịch sử dân tộc, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2018, tr.267.

3. Nay thuộc xã Đồng Quang, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Bản sao này được chép vào ngày 15 tháng Tám năm Đinh Sửu, niên hiệu Bảo Đại (1937) do ông Bùi Đức Lợi, Phó Chủ tịch Hội đồng Phí tộc Việt Nam, cháu đời thứ 22 của Bùi Quốc Hưng cung cấp.

dân làm ruộng, lại gọi được cả thợ lành nghề về làm đồ gốm, luyện các vật dụng. Vừa làm việc nhà nông, vừa luyện binh, dùng kế “ngụ binh ư nông”, đợi thời làm nên đại nghiệp. Truyền đến triều Hồ, con trai là Mã vũ quan Bùi Quốc Nghĩa, đổi là Bùi Đình Nghĩa cùng vợ là Vũ Thị Thủy (nguyên họ Mạc, là hậu duệ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, quê gốc ở Lũng Động, Chí Linh).

Cuối cùng, [ông] giao doanh ấp cho con trai, rồi tự mình đến Lam Sơn hội kiến Minh chủ Lê Lợi, luận bàn việc chiêu binh khởi nghĩa.

Trên một viên gạch gốm (bia gốm) có tiêu đề “Phu quân ký sự binh bi”

do phu nhân của Bùi Đình Nghĩa soạn cho biết Bùi Đình Nghĩa vâng lệnh vương triều tuyển chọn tinh binh, sung quân trong cuộc đại chiến thành Đông Quan, chiến đấu dũng cảm và hy sinh anh dũng. Nội dung này đã khẳng định đóng góp của võ quan Bùi Đình Nghĩa và các nghĩa binh ở Bùi gia trang, làng Quang Ánh và của Xứ Đông trong sự nghiệp giữ nước đầu thế kỷ XV.

Như vậy, có thể thấy, vào cuối thời Trần, Bùi Quốc Hưng đã đến Gia Lộc và lập trang Quang Ánh. Tại đây, ông đã xây dựng doanh ấp, vừa luyện binh, vừa phát triển sản xuất. Sau đó, ông giao lại doanh ấp cho con trai Bùi Đình Nghĩa và tìm “minh chủ cứu nước” của mình.

Trong khi Bùi Quốc Hưng đang ra sức chuẩn bị tài lực tại trang Quang Ánh, thì tại núi rừng Lam Sơn, Lê Lợi cũng đang “gặp thời loạn lớn mà chí càng bền, giấu mình ở núi rừng, làm nghề cày cấy, vì giận quân giặc cường bạo lấn hiếp nên chuyên tâm vào sách thao lược, dốc hết của nhà hậu đãi tân khách” (Văn bia Vĩnh Lăng).

Anh hùng hào kiệt khắp nơi trên cả nước đều đã tụ hội về đất Lam Sơn.

Nguyễn Trãi từ thành Đông Quan, Phạm Văn Xảo từ miền kinh lộ (xung quanh kinh thành), Lưu Nhân Chú từ Thái Nguyên, Trần Nguyên Hãn từ huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc), Nguyễn Xí từ Nghệ An,... đều lặn lội tìm đến rừng núi Lam Sơn cùng với Lê Lợi mưu đồ sự nghiệp cứu nước. Họ đều vì mến mộ tài đức và cách cư xử khéo léo của Lê Lợi mà đến. Trong số các anh hùng hào kiệt đầu tiên đến Lam Sơn dấy nghĩa có Bùi Quốc Hưng. Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép rõ: “Những hào kiệt thời ấy như Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô, Vũ Uy,

Lê Liễu và Lê Xa Lôi đều nối tiếp nhau quy phục, vua đều kính cẩn đón tiếp, cùng bí mật mưu việc khởi nghĩa”1.

Bùi Quốc Hưng là quan nhà Trần, vì giữ khí tiết trung thành mà từ quan, về quê ở ẩn khi Hồ Quý Lý giành ngôi nhà Trần, chuẩn bị chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc, cứu nước. Nhưng tại sao khi cuộc khởi nghĩa do Giản Định đế và Trùng Quang đế lãnh đạo, Bùi Quốc Hưng lại không tham gia? Phải chăng vì chưa nhìn thấy một định hướng cụ thể trong sự lãnh đạo của hai vị vua nhà Hậu Trần, hay vì ông đã nhận thấy sự suy thoái và mất đoàn kết của tầng lớp quý tộc nhà Trần? Bùi Quốc Hưng đã nhận ra trong lúc này cần phải có vị thủ lĩnh mới, có đủ khí chất của bậc minh quân, đoàn kết nhân dân trong cả nước đứng lên chống giặc ngoại xâm, không phải vì quyền lợi của cá nhân hay dòng họ mà vì lợi ích của dân tộc và để cho “người đời biết ta không chịu làm tôi tớ cho bọn giặc tàn ngược”2, người đó chỉ có thể là Lê Lợi.

Như vậy, có thể khẳng định, Bùi Quốc Hưng đã cùng nghĩa quân của mình đến Lam Sơn trước tháng Hai năm Bính Tuất (1416), tham dự Hội thề Lũng Nhai - hội thề xác lập đường hướng phát triển cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, hình thành “Bộ tham mưu đầu tiên”, thúc đẩy nhanh hơn công cuộc chuẩn bị lực lượng, xây dựng căn cứ địa và phát động khởi nghĩa toàn dân tại núi rừng Lam Sơn. Ông chính là một trong số 19 người thuộc “Bộ tham mưu đầu tiên”

dưới sự lãnh đạo của vị “Tổng tư lệnh” Lê Lợi tiến hành cuộc khởi nghĩa chống lại chính quyền đô hộ nhà Minh.

Trong những năm 1419 - 1420, phong trào đấu tranh chống quân Minh của nhân dân ta nổi dậy khắp nơi. Nghĩa quân Lam Sơn lúc này hoạt động chủ yếu tại miền núi Thanh Hóa.

Tháng Một năm Kỷ Hợi (tháng 12/1419), ở Đồng Lợi, châu Hạ Hồng (Hải Dương) có cuộc nổi dậy của Trịnh Công Chứng và Lê Hanh.

Tháng Một năm Bính Ngọ (tháng 12/1426), với chủ trương “không đánh mà khuất phục được quân của người là kế hay hơn cả”, Lê Lợi cử sứ giả cùng với người của Vương Thông mang Biểu cầu phong3 sang nhà Minh xin lập

1. Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.37.

2. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.240.

3. Xem Nguyễn Trãi: Toàn tập, Sđd, tr.115-116.

Một phần của tài liệu LICH SU HAI DUONG tap 2 (Trang 197 - 200)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(516 trang)